Cờ tướng (Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shogi
Shogi, môn cờ phổ biến ở Nhật Bản

Shogi, môn cờ phổ biến ở Nhật Bản
Số người chơi 2
Độ tuổi 8 trở lên
Thời gian chuẩn bị < 2 phút
Thời gian chơi Thông thường:~1 giờ
Chuyên nghiệp:~8-16 giờ
Cờ nhanh:~20 phút
May rủi ngẫu nhiên Không
Kỹ năng Chiến thuật, Chiến lược

Shogi (將棋 hay Tướng kỳ) cùng với cờ vuacờ tướng là các thành viên trong một gia đình. Tất cả đều có chung một nguồn gốc từ trò chơi Saturanga của Ấn Độ từ thế kỷ 6. Shogi rất phổ biến ở Nhật Bản và thường được gọi là cờ Nhật.

Trò chơi này độc đáo với nước thả quân: các quân bị bắt có thể được đưa lại vào bàn cờ như quân của người đã bắt nó.

Luật chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích của Shogi là chiếu hết Vua đối phương.

Bàn cờ và quân cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Các quân shogi lúc khởi đầu ván cờ. Phía đối diện là các quân cờ đã phong cấp

Hai người chơi, Đen và Trắng (hoặc sentegote), trên một bàn cờ 9×9. Các ô không có phân biệt gì về màu sắc như cờ vua.

Mỗi người chơi có một bộ quân gồm 20 quân hình nêm kích cỡ gần giống nhau, bao gồm: (từ quân mạnh nhất đến yếu nhất)

  • 1 Vương
  • 1 Phi xa
  • 1 Giác hành
  • 2 Kim tướng
  • 2 Ngân tướng
  • 2 Quế mã
  • 2 Hương xa
  • 9 Bộ binh

Mỗi quân có tên gồm 2 chữ Hán thường được khắc trên mặt quân bằng mực đen. Trên mỗi mặt trái của quân, trừ quân Vua và Kim tướng, là một hay hai chữ khác thường được khắc bằng mực đỏ, dùng để chỉ ra là quân này đã được phong cấp. Quân của 2 người chơi không khác nhau về màu sắc, thay vì vậy mỗi quân có hình như cái nêm và hướng về phía trước, đối diện với đối phương. Nhìn hướng của quân sẽ biết quân đó thuộc bên nào.

Chữ Hán trên mặt quân đã làm nản lòng nhiều người không biết chữ Hán đến với Shogi. Điều này đã dẫn đến việc phát triển quân được phương Tây hóa, hoặc quốc tế hóa, bằng cách thay các chữ Hán khó đọc bằng các chữ viết tắt của các quân (K, R, B v.v.). Tuy vậy vì cũng chỉ có chừng đó chữ cái và quân cờ mạnh thì được làm to hơn, nên các quân cờ như vậy không được phổ biến.

Sau đây là bảng tên các quân với chữ Nhật tương ứng. Tên viết tắt dùng trong việc bình luận và ghi chép ván cờ.

Tên tiếng Anh Kanji Rōmaji Unicode Hiragana Viết tắt Hán-Việt Nghĩa
Black king 玉将 gyokushō 7389 5c06 ぎょくしょう 玉 (gyoku) Ngọc tướng Tướng ngọc
White king 王将 ōshō 738b 5c06 おうしょう 王 (ō) Vương tướng Tướng vua
Rook 飛車 hisha 98db 8eca ひしゃ 飛 (hi) Phi xa Xe bay
Promoted rook 龍王 ryūō 7adc 738b りゅうおう 龍 or 竜* (ryū) Long vương Vua rồng
Bishop 角行 kakugyō 89d2 884c かくぎょう 角 (kaku) Giác hành Di chuyển góc
Promoted bishop 龍馬 ryūma 7adc 99ac りゅうま 馬 (uma) Long mã Ngựa rồng
Gold general 金将 kinshō 91d1 5c06 きんしょう 金 (kin) Kim tướng Tướng vàng
Silver general 銀将 ginshō 9280 5c06 ぎんしょう 銀 (gin) Ngân tướng Tướng bạc
Promoted silver 成銀 narigin 6210 9280 なりぎん Thành ngân Thành bạc
Knight 桂馬 keima 6842 99ac けいま 桂 (kei) Quế mã Ngựa quế
Promoted knight 成桂 narikei 6210 6842 なりけい 圭 hoặc 今 Thành quế Thành quế
Lance 香車 kyōsha 9999 8eca きょうしゃ 香 (kyō) Hương xa Xe hương
Promoted lance 成香 narikyō 6210 9999 なりきょう 杏 hoặc 仝 Thành hương Thành hương
Pawn 歩兵 fuhyō 6b69 5175 ふひょう 歩 (fu) Bộ binh Lính đi chân
Promoted pawn と金 tokin 3068 91d1 ときん と (to)  ? kim Thành vàng

* 竜 là dạng đơn giản của 龍.

Chữ viết trên mặt trái, của các quân để chỉ ra quân đã được phong cấp, thường được viết bằng mực đỏ theo kiểu chữ thảo rất khó đọc.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống xếp hạng của shogi tương tự như ở cờ vây hay Judo. Có 2 hệ thống xếp hạng riêng biệt: không chuyên và chuyên nghiệp.

Người mới tập chơi bắt đầu bằng xếp hạng không chuyên level 15-kyu, tiến lên dần tới 1-kyu, sau đó chuyển sang 1-dan, tiếp tục tới 6-dan.

Không chuyên 6-dan tiếp tục lên tới xếp hạng chuyên nghiệp 4-dan, rồi tăng dần tới 9-dan chuyên nghiệp là hạng cao nhất. Ở Nhật Bản để lên được đẳng (dan) cao hơn, các kỳ thủ phải có các xếp hạng cao nhất trong giải đấu thăng hạng hằng năm.

Hiện nay hệ thống này được sử dụng song song với hệ thống tính điểm ELO như của cờ vua. Khác biệt rõ nhất giữa 2 hệ thống là đẳng cấp dan-kyu chỉ tăng hoặc giữ nguyên không cấp thêm chứ không lên xuống như hệ số ELO.

Xem [1].

Thế cờ ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thế cờ ban đầu

Ở thế khởi đầu, quân được bố trí thành 3 hàng (xem hình).

Hàng cuối cùng được bố trí đối xứng. Vương ở giữa, từ ngoài vào trong là Hương xa, Quế mã, Ngân tướng, Kim tướng.

Hàng thứ hai có:

  • Quân Giác hành ở tay trái của người chơi, vị trí trên quân Mã trái.
  • Quân Phi xa ở tay phải của người chơi, vị trí trên quân Mã phải.

Hàng thứ ba có 9 Bộ binh.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu bên Đen đi trước, sau đó là tuần tự theo lượt. Khái niệm Đen/Trắng dùng để chỉ các bên khi thảo luận về ván cờ chứ không phải chỉ màu quân. Có thể "đi quân" hoặc "thả quân". Khi đi quân tới miền phong cấp thì có thể "phong cấp cho quân" thành quân mới.

Các ván cờ shogi chuyên nghiệp được chơi có đồng hồ tính giờ như cờ vua.

Đi quân và bắt quân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là bảng cách đi của từng quân. Bên trái là quân ban đầu, bên phải là quân đã được phong cấp.

○: Đi được 1 ô theo hướng đã định
│─\/: Đi được số ô tùy ý theo hướng đã định (Xe và Tượng)


Vương (Trắng) Vương (Đen)
Vương có thể đi 1 ô theo mọi hướng.
         
   
   
   
         
Vương có thể đi 1 ô theo mọi hướng. Bên Đen đi trước.
         
   
   
   
         
Kim tướng  
Kim tướng đi được một ô theo mọi hướng trừ nước đi chéo về phía sau (6 cách đi).
         
   
   
       
         
Kim tướng không có phong cấp.
Ngân tướng Ngân tướng phong cấp
Ngân tướng đi được 1 ô theo 4 đường chéo + 1 ô tiến về phía trước (5 cách đi).
         
   
       
     
         
Ngân tướng khi được phong cấp đi như Kim tướng.
         
   
   
       
         
Giác hành Giác hành phong cấp
Giác hành có thể đi theo 4 hướng đường chéo cho đến khi gặp một quân cản. Do chỉ đi chéo, Giác hành chưa phong cấp chỉ kiểm soát một nửa số ô của bàn cờ.
     
     
       
     
     
Giác hành phong cấp (Long mã) có thể đi như Giác hành hoặc như Vương.
     
   
   
   
     
Phi xa Phi xa phong cấp
Phi xa có thể đi ngang dọc tùy ý cho đến khi gặp 1 quân cản.
       
       
       
       
Phi xa phong cấp (Long vương) có thể đi như Phi xa hoặc như Vương.
       
   
   
       
Quế mã Quế mã phong cấp
Quế mã đi như Mã của cờ vua, nhảy theo hình chữ L về phía trước, nhưng chỉ có 2 nước đi (xem hình). Quế mã có thể nhảy qua các quân khác. Khi đi đến hàng 8 hoặc 9 Quế mã sẽ được tự động phong cấp.
     
         
       
         
         
Quế mã được phong cấp đi như Kim tướng
         
   
   
       
         
Hương xa Hương xa phong cấp
Hương xa chỉ có thể tiến tùy ý theo hàng dọc trước khi gặp 1 quân cản. Hương xa sẽ tự động được phong cấp khi tới hàng 9.
       
       
       
         
         
Hương xa được phong cấp đi như Kim tướng
         
   
   
       
         
Bộ binh Bộ binh phong cấp
Bộ binh chỉ đi thẳng 1 ô về phía trước. Khi đến hàng cuối cùng, Bộ binh được tự động phong cấp. Có một số hạn chế trong việc thả quân Bộ binh (xem ở dưới).
         
       
       
         
         
Bộ binh được phong cấp đi như Kim tướng.
         
   
   
       
         
Các quân cờ shogi

Mỗi quân của Shogi có cách đi riêng của nó.

Vương, Kim tướng, Ngân tướng và Bộ binh đi từng ô một. Nếu một quân của bên đối địch đang chiếm ô đó thì quân đó sẽ bị bắt, và lấy ra khỏi bàn cờ. Nếu một quân của cùng bên đang chiếm ô đó thì kỳ thủ không thể di chuyển một quân khác đến cùng một ô.

Quế mã là quân độc nhất có thể "nhảy qua" các quân khác để đi đến một ô mới, các quân đó có thể là cùng bên hay khác bên. Các quân bị nhảy qua không bị ảnh hưởng nào trong việc Quế mã di chuyển.

Hương xa, Giác hành và Phi xa có thể đi một hay nhiều ô theo các hướng khác nhau; Hương xa chỉ có thể đi thẳng về phía trước, Tượng chỉ có thể đi theo 4 hướng chéo (trước trái, trước phải, sau trái và sau phải) trong khi Phi xa đi theo 4 hướng thẳng (trước, sau, trái và phải). Trên đường đi nếu chúng gặp một quân của bên đối địch, chúng sẽ bắt quân đó và dừng tại ô đó. Nếu chúng gặp một quân của cùng bên thì chúng phải dừng tại ô trước ô đó.

Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Vương
Vương

Vương có thể:

  • đi thẳng vào một trong 4 ô: trước, sau, trái hay phải, hoặc
  • đi chéo vào một trong 4 ô: trước phải, trước trái, sau phải hay sau trái,

ngoại trừ khi ô đi đến đã bị chiếm bởi một quân của cùng bên.

Tổng cộng có 8 cách đi cho Vương.

Kim tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Kim tướng

Kim tướng có thể:

  • đi thẳng vào một trong 4 ô: trước, sau, trái hay phải, hoặc
  • đi chéo vào một trong 2 ô: trước phải hay trước trái (không được đi chéo về phía sau),

ngoại trừ khi ô đi đến đã bị chiếm bởi một quân của cùng bên.

Tổng cộng có 6 cách đi cho Kim tướng.

Kim tướng không bao giờ được phong cấp.

Ngân tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân tướng
Ngân tướng phong cấp

Ngân tướng có thể:

  • đi chéo vào một trong 4 ô: trước phải, trước trái, sau phải hay sau trái, hoặc
  • đi thẳng vào ô ngay trước mặt,

ngoại trừ khi ô đi đến đã bị chiếm bởi một quân của cùng bên.

Tổng cộng có 5 cách đi cho Ngân tướng.

Một Ngân tướng chưa được phong cấp đi lùi nhanh hơn một Ngân tướng đã được phong cấp, do đó trên bàn cờ thường có một Ngân tướng không được phong cấp.

Sau khi được phong cấp Ngân tướng đi như Kim tướng.

Quế mã[sửa | sửa mã nguồn]

Quế mã
Quế mã phong cấp

Giống như cờ vua, Quế mã của Shogi đi theo hình chữ L; khác với cờ vua, nó chỉ có thể đi về phía trước, nếu ô đi đến chưa bị chiếm bởi một quân cùng bên. Do đó, tổng cộng có 2 cách đi cho Quế mã.

Điểm đáng chú ý là Quế mã của Shogi "nhảy" qua các quân khác để đi đến ô nó muốn đến, nó không thể bị ngăn cản như trường hợp Quế mã của cờ tướng.

Vì khả năng "nhảy" đó người ta thường giữ một Quế mã không phong cấp tại vùng đối địch của bàn cờ. Tuy nhiên, vì nó không thể đi ngang hay đi lùi, Quế mã phải được phong cấp khi đến một trong hai hàng cuối của bàn cờ vì nếu không nó không đi được nữa.

Sau khi được phong cấp Quế mã đi như Kim tướng.

Hương xa[sửa | sửa mã nguồn]

Hương xa
Hương xa phong cấp

Hương xa có thể đi thẳng đến một ô bất kỳ nào về phía trước của nó, nếu không bị ngăn cản bởi một quân của cùng bên. Nó không thể đi ngang hay đi lùi.

Bình thường người ta hay giữ một Hương xa không được phong cấp tại vùng đối địch của bàn cờ. Vì không thể đi ngang hay đi lùi, Hương xa phải được phong cấp khi đến hàng cuối của bàn cờ.

Sau khi được phong cấp Hương xa đi như Kim tướng.

Giác hành[sửa | sửa mã nguồn]

Giác hành
Giác hành phong cấp

Giác hành có thể đi chéo đến một ô bất kỳ nào trong 4 hướng chéo, nếu không bị ngăn cản bởi một quân của cùng bên.

Vì Giác hành chỉ đi chéo nên Giác hành chưa được phong cấp chỉ có thể kiểm soát được nửa số ô trên bàn cờ.

Sau khi được phong cấp Giác hành giữ các bước đi của nó và thêm các bước đi của Vương.

Phi xa[sửa | sửa mã nguồn]

Phi xa
Phi xa phong cấp

Phi xa có thể đi thẳng đến một ô bất kỳ nào trong 4 chiều thẳng: trước, sau, phải và trái, nếu không bị ngăn cản bởi một quân của cùng bên.

Sau khi được phong cấp Phi xa giữ các bước đi của nó và thêm các bước đi của Vương.

Bộ binh[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ binh
Bộ binh phong cấp

Bộ binh chỉ có thể đi thẳng đến ô ngay trước mặt (nó không thể đi lùi hay đi ngang), nếu ô đó không bị chiếm bởi một quân của cùng bên.

Vì Bộ binh không được đi lùi hay đi ngang, nó phải được phong cấp khi đến hàng cuối của bàn cờ. Trên thực tế, người ta luôn tìm cách phong cấp cho Bộ binh.

Sau khi được phong cấp Bộ binh đi như Kim tướng.

Có 2 luật ngăn cấm việc thả quân Bộ binh vào bàn cờ (xem bên dưới).

Phong cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với một kỳ thủ, "vùng phong cấp" là 3 hàng cuối tại phía bên kia của bàn cờ, hay nói một cách khác là 3 hàng sắp quân của bên đối địch khi ván cờ bắt đầu. Khi một quân cờ đi ngang qua ranh giới của vùng phong cấp (dù là đi ngang qua để đi vào hay đi ngang qua để đi ra, nhưng không phải là "thả quân") thì quân cờ đó có thể được phong cấp, nhưng không bắt buộc. Khi chọn phong cấp thì quân cờ sẽ được lật ngược để hiện ra giá trị mới của nó.

Một quân sau khi được phong cấp sẽ có cách đi mới. Luật phong cấp cho các quân là:

  • Vương và Kim tướng không bao giờ được phong cấp; và một quân đã được phong cấp sẽ không được phong cấp thêm.
  • Ngân tướng, Quế mã, Hương xa và Bộ binh, sau khi được phong cấp, sẽ không đi như cũ mà đi như một Kim tướng.
  • Giác hành và Phi xa, sau khi được phong cấp, sẽ giữ cách đi cũ và thêm cách đi của Vương. Điều này có nghĩa là Giác hành sau khi được phong cấp sẽ có thể đi đến toàn thể các ô trên bàn cờ.

Tuy không bắt buộc nhưng khi một Bộ binh, Quế mã hay Hương xa đến hàng cuối cùng của bàn cờ thì nó phải được phong cấp, nếu không nó sẽ không còn nước đi. Với cùng lý do, khi một Quế mã đến hàng trước hàng cuối cùng thì nó cũng phải được phong cấp.

Sau khi bị bắt thì các quân phong cấp trở lại dạng bình thường (chưa phong cấp) của chúng.

Thả quân[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Shogi các quân bị bắt theo đúng nghĩa đen. Có nghĩa là sau khi bị bắt chúng được giữ lại "trong tay", và có thể được thả lại vào trong bàn cờ như là một quân của người đã bắt nó. Khi đến lượt, thay vì đi quân, kỳ thủ có thể đưa một quân bị bắt từ trước và đặt chúng (dưới dạng chưa phong cấp) ở bất kỳ ô nào còn trống. Quân được thả, kể từ đó, trở thành một quân của kỳ thủ đó. Từ chuyên môn gọi là "thả quân".

Nước đi thả quân không được ăn quân của phe đối địch, và quân được thả không được phong cấp ngay nếu được thả trong vùng phong cấp. Tuy nhiên nó có thể ăn quân và được phong cấp ở các nước đi kế tiếp.

Quân được thả phải có khả năng thực hiện nước đi hợp lệ. Do đó Bộ binh, Quế mã, Hương xa không được phép thả trên hàng xa nhất. Tương tự quân Quế mã cũng sẽ không được thả ở hàng 8.

Có 2 luật hạn chế việc thả quân Bộ binh:

  • Một quân Bộ binh không thể được thả trên cùng cột với một quân Bộ binh chưa được phong cấp của cùng bên (phong cấp rồi không tính). Nếu kỳ thủ có Tốt chưa phong cấp trên tất cả các cột sẽ không thả được quân Bộ binh nào. Vì lý do này, các kỳ thủ thường thí 1 Bộ binh để rộng đường thả quân.
  • Quân Bộ binh có thể thả để tạo thành thế chiếu Vương, nhưng không được thả để chiếu hết. Các quân còn lại có thể được thả và chiếu hết Vương địch. Quân Bộ binh có sẵn trên bàn cờ mới có thể được đi nước chiếu hết Vương, hoặc quân Bộ binh được thả đóng vai trò hỗ trợ các quân khác chiếu hết.

Trong khai cuộc đổi giác hành (kakukawari), hai bên tiến hành đổi Giác hành ở ngay đầu ván cờ. Quân Giác hành "trong tay" này có thể dùng để thả khi tấn công cũng như khi phòng thủ.

Chiếu và chiếu hết[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một kỳ thủ đi một nước dọa bắt Vương đối phương ở nước đi tiếp theo, nước đi đó gọi là nước "chiếu Vương" và Vương đó đang "bị chiếu". Nếu một Vương đang bị chiếu và không có nước đi hợp lệ nào để thoát khỏi thì nước chiếu đó được gọi là "chiếu hết" và người chiếu hết thắng ván cờ.

Để nói "chiếu!" bằng tiếng Nhật, nói "ōte!" (王手). Việc này không bắt buộc và có thể là do ảnh hưởng của cờ vua. Trong tiếng Nhật, chiếu hết là tsume (詰め) hoặc ōtedzume (王手詰め).

Kết thúc ván cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Một kỳ thủ bắt được Vương của đối phương là người thắng cuộc. Trong thực tế việc này ít xảy ra vì một bên sẽ tự nhận thua khi thấy không cứu vãn được thất bại.

Nếu một bên không bị chiếu nhưng không có nước đi hợp lệ thì sẽ bị xử thua (giống cờ tướng).

Trong Shogi chuyên nghiệp, một kỳ thủ đi sai luật sẽ bị xử thua ngay. Trong các giải khác việc này được nhân nhượng đôi chút.

Có 2 cách hòa cờ trong shogi: lặp lại nước đi (千日手 sennichite) và Vương cùng tồn tại (持将棋 jishōgi).

Nếu thế cờ lặp lại 4 lần với nước đi của cùng một kỳ thủ, thì ván cờ coi là không được tính. Hai thế cờ được coi là giống nhau khi quân trong tay và thế cờ trên bàn cùng giống nhau. Tuy nhiên, thế cờ đó không được là thế chiếu Vương, kỳ thủ nào chiếu lặp 4 lần sẽ bị xử thua ngay.

Trong Shogi chuyên nghiệp các ván cờ hòa theo kiểu lặp nước này sẽ không tính là một ván hòa mà các kỳ thủ sẽ chơi lại ngay ván khác, với màu quân thay đổi và thời gian ít hơn.

Ván cờ hòa với Vương cùng tồn tại (jishōgi) khi cả hai quân Vương cùng vào vùng phong cấp của bên mình và cả hai đều không còn khả năng chiếu hết đối phương hoặc ăn thêm quân. Khi tình trạng này xảy ra thì dùng cách tính điểm các quân của từng bên để tìm ra người thắng cuộc: mỗi quân Phi xa hoặc Giác hành tính 5 điểm, và các quân khác trừ Vương tính 1 điểm (quân phong cấp chỉ tính như quân thường). Bên nào có ít hơn 24 điểm sẽ bị xử thua. Nếu cả 2 bên đều có ít hơn 24 điểm thì ván cờ sẽ không được tính.

Chấp quân[sửa | sửa mã nguồn]

Để có các trận đấu hấp dẫn, bất kỳ khi nào trình độ giữa 2 đấu thủ quá chênh lệch thì đều có chấp quân. Trong một ván cờ có chấp quân, một hay nhiều quân của Trắng được bỏ hẳn ra ngoài trước khi Trắng luôn được đi nước đầu tiên. Chú ý là quân đã được chấp sẽ không xuất hiện lại trong ván cờ và không thả được quân đó nữa. Khi chấp quân thì bên chấp quân (gote) bao giờ cũng được đi trước.

Việc mất cân bằng khi chấp quân này không lớn như trong cờ vua vì lợi thế hơn quân trong Shogi không lớn như vậy, và người chấp quân chỉ cần ăn quân nào là có thể dùng quân đó.

Chấp quân không được áp dụng trong các giải thi đấu, nhưng được sử dụng nhiều trong các trận đấu luyện tập hoặc giảng dạy.

Các cách chấp quân thông dụng, từ nhỏ đến lớn được dùng chính thức trong Liên đoàn Shogi Nhật Bản (Nihon Shogi Renmei):

  • Hương xa: bỏ quân Hương xa trái (1a) của Trắng.
  • Giác hành: bỏ quân Giác hành của Trắng.
  • Phi xa: bỏ quân Phi xa của Trắng.
  • Phi xa và Hương xa: bỏ quân Phi xa và Hương xa trái của Trắng.
  • Hai quân: bỏ quân Phi xa và quân Giác hành của Trắng.
  • Ba quân: bỏ quân Phi xa, Hương xa trái và quân Giác hành của Trắng.
  • Bốn quân: bỏ quân Phi xa, quân Giác hành và 2 Hương xa của Trắng.
  • Năm quân: bỏ quân Phi xa, quân Giác hành, một quân Quế mã và 2 Hương xa của Trắng. Chấp con Quế mã trái gọi là 5 quân trái, chấp con Quế mã phải là 5 quân phải.
  • Sáu quân: bỏ quân Phi xa, quân Giác hành, 2 Hương xa và 2 Quế mã của Trắng.

Các kỳ thủ chuyên nghiệp ít khi chấp 3 hoặc 5 quân, và rất ít khi chấp 6 quân. Các cách chấp còn lại được sử dụng rất rộng rãi.

Các cách chấp khác: chấp 1 Ngân tướng, chấp Hương xa phải... cũng thỉnh thoảng được dùng.Tranh luận về mối liên quan giữa việc chấp bao nhiêu khi trình độ chênh lệch vẫn chưa thống nhất.

Ghi chép ván cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp được sử dụng trong tiếng Anh để ghi chép nước đi của shogi được sáng chế bởi George Hodges năm 1976. Nó được chuyển hóa từ phương pháp ghi chép cờ vua, nhưng có thay đổi ở nhiều mặt.

Ví dụ: P-8f. Chữ cái đầu tiên cho biết quân cờ được đi: p = Bộ binh, L = Hương xa, N = Quế mã, S = Ngân tướng, G = Kim tướng, B = Giác hành, R = Phi xa, K = Vương. Quân đã phong có thêm dấu + đứng trước, ví dụ như +P để chỉ Bộ binh đã phong.

Sau ký hiệu quân là ký hiệu cách dùng quân: - = đi bình thường, x = bắt quân, * = thả quân. Cuối cùng là tọa độ vị trí quân được đặt vào. Đứng trước là số chỉ hàng, rồi đến chữ cái thường chỉ cột. 1a là góc trên cùng bên phải nhìn từ bên Đen, 9i là góc dưới cùng bên trái nhìn từ bên Đen. Cách viết tọa độ có thể theo cách của Nhật, sử dụng chữ số Nhật thay vì chữ cái. Ví dụ như 2c được thay bởi 2三.

Nước đi nào có thể dẫn tới việc phong cấp sẽ được ký hiệu bởi: + = quân được phong cấp, hoặc = = không phong cấp. Ví dụ: Nx7c= có nghĩa là mã bắt quân ở 7c nhưng không phong cấp (mặc dù nó được phép).

Trường hợp có nhiều quân cùng loại có thể tới cùng một ô, ô quân đó đứng trước khi đi sẽ được ghi vào để tránh nhầm lẫn. Ví dụ: ở lúc bắt đầu Đen có 2 tướng vàng đều đi tới được ô 5h trước vua. Khi đó, việc đi một tướng vàng vào ô đó sẽ được ký hiệu là G6i-5h (bên trái đi) hoặc G4i-5h (cho bên phải).

Các nước đi thường được đánh số. Ví dụ:

    1. P-7f   P-3d
    2. P-2f   G-3b
    3. P-2e   Bx8h+
    4. Sx8h   S-2b

Khi chơi có chấp, Trắng đi trước, vì vậy nước đi đầu Đen không đi, và được ký hiệu bởi dấu ba chấm (...).

Chiến lược và chiến thuật chơi Shogi[sửa | sửa mã nguồn]

Do quân của Shogi không bị chết mà chỉ bị bắt và thay đổi từ bên này qua bên kia nên càng đổi quân, ván cờ càng phức tạp. Khai cuộc diễn biến chậm, trung cuộc tăng tốc và tàn cuộc là một cuộc chạy đua ác liệt xem ai chiếu hết trước đối phương. Tỷ lệ hòa cờ, do đó, chỉ là 1-2%.

Thả quân là một trong những điểm độc đáo và hấp dẫn nhất của Shogi so với cờ vua hay cờ tướng. Khả năng này tạo ra một chiến lược mới, và người chơi phải tập trung phòng thủ nhiều hơn. Tấn công chớp nhoáng sẽ tạo ra nhiều lỗ hổng trong thế trận ở nhà và tạo điều kiện cho đối phương thả quân phản công ngay khi có quân cầm ở tay. Vì Bộ binh tấn công trực diện và không thể bảo vệ lẫn nhau, chúng thường bị mất lúc khai cuộc và là quân thích hợp để thả trong các trường hợp trên. Thả một quân Bộ binh sau tuyến phòng thủ của đối phương, phong cấp cho nó và thả quân Bộ binh khác ngay sau để bảo vệ quân Bộ binh trước là cách tấn công hiệu quả.

Phối hợp trong việc thả quân là một chiến thuật quan trọng của Shogi. Nên giữ một quân Bộ binh trong tay để tấn công, và tính toán các thế thả quân có thể.

Quyết định ngay trong khai cuộc có nên trao đổi Giác hành hay không cũng là một vấn đề cần suy nghĩ. Nếu đổi, quân Giác hành này có thể thả vào đất địch tấn công 2 quân của đối phương cùng một lúc. Kể cả khi bị đuổi phải rút về, quân Giác hành này có thể được phong cấp và thống trị bàn cờ.

Tuy vậy, các quân tấn công có thể bị mắc kẹt lại ở phần đất địch khi đối phương thả một quân Bộ binh chặn đường rút về. Vì vậy quân Phi xa mạnh nhất thường đứng xa từ sân nhà hỗ trợ cho các quân khác yếu hơn tấn công.

Một loại tấn công phổ biến dùng Ngân tướng (bogin) là tấn công bằng cách đưa một quân Ngân tướng lên cùng hàng với cột có quân Phi xa. Vì Ngân tướng có thể lùi dễ dàng trong khi Kim tướng lại bảo vệ tốt các quân ở cạnh mình, nên Ngân tướng dùng chủ yếu khi tấn công, còn Kim tướng chủ yếu cho phòng thủ.

Có rất nhiều các khai cuộc "chuyển Phi xa" (furibisya), trong đó quân Phi xa di chuyển về hướng trung tâm hoặc bên trái của bàn cờ để hỗ trợ tấn công. Tuy vậy vì là quân mạnh nên Phi xa cũng bị tập trung tấn công bởi các quân khác yếu hơn, nên thông thường Vương và Phi xa được đặt ở hai cánh khác nhau để đảm bảo an toàn cho Vương.

Tiến Bộ binh biên có thể giúp phát động tấn công từ hai cánh. Thông thường khi một bên tiến Bộ binh biên, bên kia phải quyết định có nên tiến Bộ binh biên đối đầu ngay để tránh các trung cục phức tạp, hoặc dành nước đi đó cho phản công trên cánh đối diện.

Vì phòng thủ là rất quan trọng cùng với việc các quân của shogi đi khá chậm chạp, giai đoạn khai cuộc thường kéo dài chừng 20 nước hoặc hơn với việc sắp xếp Phi xa, Giác hành và đưa Vương vào vị trí an toàn trước khi tổ chức tấn công.

Nhập thành Yagura[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập thành Yagura

Nhập thành Yagura được coi là một trong những thế nhập thành mạnh nhất trong Shogi. Yagura bảo vệ Vương rất vững chắc; một hàng tốt an toàn; các quân Giác hành, Phi xa và một Bộ binh chuẩn bị một cuộc tấn công với sự hỗ trợ của Ngân tướng hoặc Quế mã cạnh Phi xa. Tuy vậy đối thủ cũng dễ dàng nhập thành y hệt nên không bên nào có lợi thế.

Thay vì đưa quân Bộ binh tại cột Phi xa lên hai nước như hình vẽ, quân Bộ binh cột thứ ba thường được đẩy lên, cho phép cả quân Ngân tướng và quân Quế mã cạnh Phi xa tham gia hỗ trợ tấn công. Nước đẩy Bộ binh lên thường được đi rất sớm, ngay cả khi còn đang nhập thành.

Thứ tự các nước đi khi nhập thành là không cố định, có thể thay đổi rất mềm dẻo.

Cách tấn công vào hệ thống Yagura thường thấy là tiến Qué mã gần Phi xa lên và giữ một Bộ binh trong tay để gây sức ép vào hai bên sườn Vương. Nếu bên phòng thủ tiến tốt biên thì thả một quân Bộ binh vào ngay vị trí quân Bộ binh đó vừa di chuyển hoặc vào ngay vị trí của quân Ngân tướng nếu quân này chưa kịp vào đúng vị trí.

Sách về Shogi bằng tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Shogi for Beginners (1984), John Fairbairn
  • Guide to Shogi openings: Shogi problems in Japanese and English (1983), Aono Teruichi,John Fairbairn dịch
  • Better Moves for Better Shogi (1983), Aono Teruichi, dịch bởi John Fairbairn
  • The Art of Shogi (1997), Tony Hosking
  • Habu's Words (2000), HABU Yoshiharu, TAKAHASHI Yamato và Tony Hosking dịch

Các kỳ thủ chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Nhật, có khoảng 200 kỳ thủ shogi chuyên nghiệp là thành viên của Hiệp hội Shogi Nhật Bản và được chia thành các đẳng (dan) từ 4 đến 9-dan như Judo hay cờ vây.

Nam kỳ thủ chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Có 7 danh hiệu lớn: Meijin (名人), Kisei (棋聖), Ōshō (王将), Ōza (王座), Ōi (王位), Ryūō (竜王) và Kiō (棋王) được tổ chức hàng năm với hình thức người thắng cuộc hàng năm thách đấu với người vô địch năm ngoái theo phương thức 5 hoặc 7 ván. Ai thắng trước 3 hoặc 4 ván sẽ trở thành nhà vô địch mới.

Kỳ thủ duy nhất đã từng đoạt cả 7 danh hiệu trong một năm (1996) là Habu Yoshiharu, được coi là có thu nhập trên 1 triệu USD hàng năm. Anh cũng là một trong các kỳ thủ cờ vua mạnh nhất của Nhật Bản với danh hiệu kiện tướng FIDE.[1]

Danh sách các kỳ thủ nam đang nắm giữ các danh hiệu:

2008 Meijin: Habu Yoshiharu (thắng Moriuchi Toshiyuki 4-2)
2007 Ryūō': Akira Watanabe (thắng Sato Yasumitsu 4-2)
2008 Kisei: Habu Yoshiharu (thắng Sato Yasumitsu 3-2)
2008 Ōi: Fukaura Koichi (thắng Habu Yoshiharu 4-3)
2008 Oza: Habu Yoshiharu (thắng Kimura Kazuki 3-0)
2008 Ōshō: Habu Yoshiharu (thắng Kubo Toshiaki 4-1)
2008 Kiō: Sato Yasumitsu (thắng Habu Yoshiharu 3-2)

Nữ kỳ thủ chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có 54 nữ kỳ thủ shogi chuyên nghiệp là thành viên của LPSA (Ladies Professional Shogi Association) [2], chia thành các hạng từ 2-kyu cho đến 6-dan.

Có 4 danh hiệu lớn: Meijin, Osho, Oi và Kurashiki.

Danh sách các kỳ thủ nữ đang nắm giữ các danh hiệu:

2008 Meijin: Rieko Yauchi (thắng Haruko Saida 3-0)
2007 Oi: Ishibashi Sachio (thắng Shimizu Ichiyo 3-2)
2008 Osho: Shimizu Ichiyo (thắng Rieko Yauchi 3-1)
2007 Kurashiki: Shimizu Ichiyo (thắng Haruko Saida 2-1)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin chung về shogi[sửa | sửa mã nguồn]

Các liên đoàn shogi[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi shogi trên mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]