Oẳn tù tì

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Oẳn tù tì
Rock-paper-scissors.svg
Một biểu đồ thể hiện ba động tác tương tác trong trò chơi
Loại trò chơiTrò chơi bằng tay, trò chơi Ken
Người chơiKhông giới hạn
Thời gian chuẩn bịKhông
Thời gian chơiTùy tình huống
Cơ hội ngẫu nhiênCao
Kỹ năng cần thiếtMay mắn, yếu tố tâm lý

Oẳn tù tì (còn gọi là kéo búa bao hay kéo lá đấm hay xìm xầm) là một trò chơi bằng tay mang tính đối nghịch giữa hai hoặc nhiều người chơi cùng lúc khi ra một trong ba hình dạng của bàn tay. Các kiểu đó là "kéo" (ngón trỏ và ngón giữa tạo thành hình chữ V), "búa" (cả bàn tay nắm chặt lại) và "bao" (nguyên bàn tay xoè ra). Trò chơi chỉ có ba kết quả duy nhất mang tính công bằng: nếu người này ra cây kéo thì sẽ thắng người ra cái bao (kéo cắt bao), còn đối phương ra cây búa thì người chơi thua (búa đập được cây kéo) và búa sẽ thua bao (búa bị bao vây chặt). Trong trường hợp các người chơi ra giống nhau thì sẽ hòa.

Trò chơi này ở một số vùng còn được gọi là xú xì có gốc là từ 手勢令 (shoushiling - thủ thế lệnh) trong tiếng Hoa.

"Oẳn tù tì" ở Việt Nam là phát âm trại từ tiếng Anh: one, two, three (một, hai, ba) ở miền Nam trước 1975, có lẽ vì trò chơi này du nhập khi người Mỹ xuất hiện vào đầu thập niên 1960. Trò chơi tồn tại đến tận ngày nay với tên gọi "oẳn tù tì". Một số game show trên truyền hình trong nước vài người dẫn trò lẫn người chơi không hiểu nguồn gốc nên nói bừa: "oẳn, tù, xì" là sai hoàn toàn.

Thể thức[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ em ở Việt Nam chơi thì thường chỉ hai người đứng đối diện nhau rồi đồng thanh hô: "Oẳn tù tì" hay "Oẳn tù tì, ra cái gì, ra cái này!" rồi cùng chìa tay với một trong ba thế: kéo, búa hay bao. Lắm khi người thắng dùng tay "búa" đập tay "kéo; tay "kéo" cắt tay "bao" hay tay "bao" bọc tay "búa", thể hiện đúng địa vị thắng thua của từng vật.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm
  • Alonzo, Suzanne H.; Sinervo, Barry (2001). “Mate choice games, context-dependent good genes, and genetic cycles in the side-blotched lizard, Uta stansburiana”. Behavioral Ecology Sociobiology. 49 (2–3): 176–186. doi:10.1007/s002650000265.
  • Culin, Stewart (1895) Korean Games, With Notes on the Corresponding Games at China and Japan. (evidence of nonexistence of rock-paper-scissors in the West)
  • Gomme, Alice Bertha (1894, 1898) The traditional games of England, Scotland, and Ireland, 2 vols. (more evidence of nonexistence of rock-paper-scissors in the West)
  • Opie, Iona & Opie, Peter (1969) Children's Games in Street and Playground Oxford University Press, London. (Details some variants on rock-paper-scissors such as 'Man, Earwig, Elephant' in Indonesia, and presents evidence for the existence of 'finger throwing games' in Egypt as early as 2000 B.C.)
  • Sinervo, Barry (2001). “Runaway social games, genetic cycles driven by alternative male and female strategies, and the origin of morphs”. Genetica. 112–113 (1): 417–434. doi:10.1023/A:1013360426789.
  • Sinervo, Barry; Clobert, Jean (2003). “Morphs, Dispersal Behavior, Genetic Similarity, and the Evolution of Cooperation”. Science. 300 (5627): 1949–1951. Bibcode:2003Sci...300.1949S. doi:10.1126/science.1083109.
  • Sinervo, Barry; Lively, C. M. (1996). “The Rock-Paper-Scissors Game and the evolution of alternative male strategies”. Nature. 380 (6571): 240–243. Bibcode:1996Natur.380..240S. doi:10.1038/380240a0.
  • Sinervo, Barry; Zamudio, K. R. (2001). “The Evolution of Alternative Reproductive Strategies: Fitness Differential, Heritability, and Genetic Correlation Between the Sexes”. Journal of Heredity. 92 (2): 198–205. doi:10.1093/jhered/92.2.198. PMID 11396579.
  • Sogawa, Tsuneo (2000). “Janken”. Monthly Sinica (bằng tiếng Nhật). 11 (5).Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  • Walker, Douglas & Walker, Graham (2004) The Official Rock Paper Scissors Strategy Guide. Fireside. (strategy, tips and culture from the World Rock Paper Scissors Society).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]