Xuân Phương, Xuân Trường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Xuân Phương

Picto infobox map.png
Hành chính
TỉnhNam Định
HuyệnXuân Trường
Thành lập1952[1]
Địa lý
Tọa độ: 20°18′9″B 106°21′44″Đ / 20,3025°B 106,36222°Đ / 20.30250; 106.36222Tọa độ: 20°18′9″B 106°21′44″Đ / 20,3025°B 106,36222°Đ / 20.30250; 106.36222
Diện tích2,84 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng5698 người[2]
Mật độ2006 người/km²
Khác
Mã hành chính14122[2]

Xuân Phương là một thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Việt Nam.

Xã Xuân Phương có diện tích 2,84 km², dân số năm 1999 là 5698 người,[2] mật độ dân số đạt 2006 người/km².[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử sử xã Xuân Phương bắt đầu từ làng Trà Lũ.

Làng Trà Lũ khởi tạo là quá trình hình thành ấp, rồi thành làng và lớn nhất là xã. Sau này khi dân số đông, tôn giáo phức tạp thì lại chia tách thành các thôn xã.

Cần phân biệt với Tổng Trà Lũ mà xã Trà Lũ là một bộ phận.

(Tổng Trà Lũ có 8 xã, phường là: Trà Lũ, Lạc Nghiệp, Vạn Lộc, Trà Khê, Quần Cống, Hoành Vực, Chuỳ Trà, phường thuỷ cơ Trà Lũ. Đầu thế kỷ XX đổi tên xã Hoành Vực thành xã Thọ Vực; xã Chuỳ Trà thành xã Thanh Trà (sau lại đổi Thanh Trà thành Thanh Khê); xã Quần Cống thành xã Thiên Thiện; Chia xã Trà Lũ làm Trà Lũ Đông, Trà Lũ Đoài, Trà Lũ Bắc, Trà Lũ Trung và lấy trại Nam Điền thuộc xã Trà Lũ Trung lập thành xã Nam Điền. Bỏ phường thuỷ cơ Trà Lũ.)

Về tên gọi Trà Lũ được giải thích như sau:

Theo gia phả Họ Trần xã Xuân Trung, Trà Lũ xã chí thì vốn dân Trà Lũ di cư từ làng Lủ (Lũ) (Có tài liệu ghi rằng từ xã Phượng Lủ, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Kim Thi, tỉnh Hưng Yên. Cũng có giả thiết khác từ làng Lủ xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín nay là phường Đại Kim - Hoàng Mai - Hà Nội) khai phá đầu tiên vào giữa thế kỷ XV, lấy một phần tên làng cũ đặt cho đất mới là Trà Lũ. Những vị tổ mở đất còn để lại di huấn cho con cháu câu ca dao về sự việc này, nhắc nhở con cháu không quên quê gốc:

"Chữ Kim đổi lấy chữ Trà

Còn một chữ Lũ để mà làm ghi."

Năm Thành Thái 1 (1889) do việc tăng đinh, bổ sưu - nộp thuế mà các Giáp giáo - Họ đạo (theo đạo Công giáo) của ba thôn hợp thành thôn Đoài (Trà Lũ Đoài trừ Phú Nhai).

Năm Duy Tân thứ 9 (1915), 4 thôn của Trà Lũ tách thành 4 xã: Trà Bắc (Trà Lũ Bắc nay thuộc Xuân Bắc). Trà Đông (Trà Lũ Đông nay thuộc Xuân Phương), Trà Trung (Trà Lũ Trung nay thuộc Xuân Trung), Trà Đoài (Trà Lũ Đoài, các họ Thôn Đông, Thất Sự, Thánh Tâm nay thuộc Xuân Phương).[3]

Năm 1948, 4 xã này hợp với Phú Nhai thành xã Trà Phú.

Phú Nhai vốn thuộc tổng Thủy Nhai (Gồm các xã Thuỷ Nhai, Trung Lễ, Hạ Linh, Trung Linh, An Cư, Phú Đường, Phú Nhai, Lục Thuỷ, Thượng Miêu, Nhật Hy, Bùi Chu, Hoành Quán, phường thuỷ cơ An Cư. Đầu thế kỷ XX chia tách xã Phú Đường thành hai xã mới là Liên Thuỷ và Phú An; Tách xã Thuỷ Nhai thêm thôn Thuỷ Nhai Trung; Đổi tên xã Thượng Miêu thành xã Thượng Phúc; Chia xã Nhật Hy thành hai xã Nhật Hy Thượng và Xuân Bảng). Do buổi đầu đến khai hoang, người Trà Lũ chọn những nơi đất cao để lập làng, chọn những rẻo đất màu mỡ để canh tác mà không quan tâm đến vị trí xa hay gần. Vì thế đất đai Trà Lũ từng kéo xuống tận đến khu vực Giao Thủy, giáp đất Hải Hậu ngày nay. Đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng đất đai Trà Lũ xen kẽ với nhiều làng xã, tục gọi là cài răng lược.

Cho đến trước khi sát nhập Phú Nhai vào Trà Lũ, đất Trà Lũ vẫn có hình thế đặc biệt

“ Ba thôn Trà Lũ bò ra ngoài

Một thôn Phú Nhai, nhai vào giữa”

Năm 1948, khi Phú Nhai cùng với Trà Trung, Trà Bắc, Trà Đông, Trà Đoài hợp nhất lại thành xã Trà Phú, sự chia cắt của Trà Lũ mới bị xoá bỏ.

Năm 1950, Trà Phú tách thành Xuân Bắc và Trà Phú.

Hai năm sau, 1952, Trà Phú đổi thành Xuân Phương.[4]

Năm 1956, Xuân Phương lại được tách thành Xuân Phương và Xuân Trung.

Như vậy, đến thời điểm này Trà Lũ đã nằm trong các đơn vị hành chính Xuân Bắc, Xuân Phương, Xuân Trung và một phần trại Nam Điền nay thuộc Xuân Vinh như hiện nay.[5][6]

Văn hóa Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng Trà Lũ xưa, địa danh ghi dấu trong sử nước Việt là một trong ba nơi đạo Công giáo được truyền đến đầu tiên ở nước ta.

Chính tại vùng này, lịch sử ghi nhận các nhà truyền giáo phương Tây đã lần đầu tiên đến truyền đạo:

"Gia tô: Theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô."

Nơi đây có Vương cung thánh đường Phú Nhai nổi tiếng về kiến trúc cũng như bề dày lịch sử.

Theo Trà Lũ xã trí của Lê Văn Nhưng thì xóm "Bắc Tỉnh đúng là nơi gốc truyền đạo, trước đây các giáo mục người Y Nha Pho, Tây Ban Nha thường về đây trước rồi mới về Phú Nhai là xã toàn tòng"[3]

Hiện nay, trên 70% dân số theo đạo Công giáo.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 1108/1952/TC-QN
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă “Lê Văn Nhưng. Trà lũ xã trí. Năm Duy Tân thứ 9.” (PDF). 
  4. ^ Nghị định số 224-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 15 – 10 – 1952 đổi tên 19 xã của huyện Xuân Trường.
  5. ^ Đinh thị thùy hiên. Nguồn sử liệu về làng Trà Lũ (Nam Định) trước năm 1945: Luận văn ThS. 2006 Lịch sử: 60 22 58
  6. ^ “Quá trình thay đổi địa danh hành chính xã (làng) Trà Lũ thuộc huyện Xuân Trường”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]