Fukushima

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tỉnh Fukushima (福島県 Fukushima-ken)
Flag of Fukushima Prefecture
Biểu tượng của Fukushima
Map of Japan with Fukushima highlighted
Thủ phủ Fukushima
Vùng Tohoku
Đảo Honshū
Thống đốc Yūhei Sato
Diện tích 13.782,54 km² (thứ 3)
 - % nước 0,9%
Dân số (1.1.2005)
 - Dân số 2.119.218 (thứ 17)
 - Mật độ 158 /km²
Gun 13
Hạt 61
ISO 3166-2 JP-07
Web site www.pref.fukushima.jp/
index_e.html
Huy hiệu tỉnh
 - Hoa Nemotoshakunage (Rhododendron brachycarpum)
 - Cây Japanese zelkova (Zelkova serrata)
 - Chim Narcissus Flycatcher (Ficedula narcissina)

Fukushima (Nhật: 福島県 Fukushima-ken?, Phúc Đảo) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Tōhoku trên đảo Honshū, Nhật Bản. Cách thủ đô Tokyo khoảng 300km về hướng Bắc. Thủ phủ là thành phố Fukushima.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Fukushima là tỉnh cực nam của vùng Tohoku. Nó bị một ngọn núi trải dài qua 3 vùng (từ Tây tới Đông) là Aizu, Nakadōri, và Hamadōri chia cắt. Vùng duyên hải Hamadōri nằm về hướng vùng biển Thái Bình Dương đồng thời là vùng bằng phẳng và có khí hậu ôn hòa nhất trong khi đó Nakadōri là trung tâm nông nghiệp của tỉnh, bao gồm cả thủ phủ, thành phố Fukushima. Vùng có rất nhiều núi Aizu có những con hồ tĩnh mịch, những cánh rừng xanh tốt và mùa đông nhiều tuyết.

Thành trì ở Aizu Wakamatsu.
Bản đồ tỉnh Fukushima.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỉ thứ 4, Fukushima được sáp nhập vào xứ Yamato, quốc gia thống nhất đầu tiên ở Nhật. Hàng rào Shirakawa và Nakoso được xây dựng thế kỉ thứ 5 nhằm bảo vệ "Nhật Bản văn minh" khỏi những "người man dợ" từ phía Bắc. Fukushima trở thành một tỉnh của Mutsu sau khi cuộc cải cách Taika được tiến hành năm 646. Tỉnh Fukushima bị hoàng tử Subaru chiếm đóng năm 1293. Vùng này của Nhật Bản cũng được biết đến là Michinoku và Ōshū.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Các thị trấn và làng mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ōtama
Kawamata ǂ
Kōri
Kunimi
Futaba
Hirono
Katsurao
Kawauchi
Namie
Naraha
Ōkuma
Tomioka
Hanawa
Samegawa
Tanagura
Yamatsuri
Asakawa
Furudono
Hirata
Ishikawa
Tamakawa
Kagamiishi
Tenei
Aizubange
Yanaizu
Yugawa
Hinoemata
Minamiaizu
Shimogō
Tadami
Izumizaki
Nakajima
Nishigō
Yabuki
Aizumisato
Kaneyama
Mishima
Shōwa
Iitate
Shinchi
Miharu
Ono
Bandai
Inawashiro
Kitashiobara
Nishiaizu

ǂ Con số được đưa vào sau những vụ sáp nhập.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng duyên hải có truyền thống chuyên về đánh bắt cá và công nghiệp đồ biển. Nó cũng nổi tiếng với công nghiệp điện tử và đặc biệt là công nghiệp chế tạo năng lượng hạt nhân. Trong khi những vùng cao thì tập trung cho nông nghiệp. Thủ phủ của vùng có một nền công nghiệp phần mềm và điện tử phát triển mạnh.

Văn Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Huyền thoại của vùng là một nữ yêu ma, Adachigahara, một lần đi rong chơi vùng đồng bằng nơi mà nó được đặt tên. Vùng đồng bằng Adachigahara nằm gần thành phố (thủ phủ) Fukushima.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Du Lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Aizuwakamatsu là nơi đã diễn ra trận chiến quan trọng trong chiến tranh Boshin. Trong đó, 19 thành viên trẻ tuổi của Byakkotai đã tự tử theo nghi lễ truyền thống seppuku. Những phần mộ tại núi Limori là địa điểm du lịch hút khách.

Những ngôi mộ của Byakkotai trên núi Iimori, thành phố Aizuwakumatsu.

Núi Bandai, nằm ở công viên quốc gia Bandai, phun núi lửa năm 1888 đã tạo nên một miệng núi lửa lớn và rất nhiều hồ. Trong đó có "những hồ năm màu" (Goshiki-numa) rất đẹp. Vùng này nổi tiếng với những người thích tản bộ và trượt tuyết.

Kitakata thì được biết đến với loại mì địa phương Kitakata ramen và những căn nhà theo kiểu truyền thống được bảo quản tốt, trong khi đó thị trấn nhỏ Ouchijuku nằm trong thị trấn Shimogo còn giữ gìn được những công trình mái lá từ thời Edo.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]