Aeroflot

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Aeroflot
JSC "Aeroflot - Russian Airlines"
ОАО «Аэрофлот - Российские авиалинии»
Aeroflot Logo en.svg
IATA
SU
ICAO
AFL
Tên hiệu
Aeroflot
Lịch sử hoạt động
Thành lập 15 tháng 7, 1923
Sân bay chính
Trạm trung
chuyển chính
Sân bay quốc tế Sheremetyevo
Thông tin chung
Phòng khách Hạng nhất
Liên minh SkyTeam
Điểm đến 129
Khẩu hiệu Sincerely Yours. Aeroflot (tiếng Nga: Искренне ваш, Аэрофлот
Trụ sở chính Nga Moskva, Nga
Trang web http://www.aeroflot.ru
Aeroflot planes

Công ty hàng không Nga Aeroflot (tiếng Nga: Аэрофлот — Российские авиалинии Aeroflot — Rossijskie Avialinii), hay Aeroflot (Аэрофлот; nghĩa là "phi đội"), là công ty hàng không quốc gia Nga và là hãng vận chuyển lớn nhất nước Nga. Hãng có trụ sở tại Moskva và điều hành các tuyến bay chở khách nội địa và quốc tế tới gần 90 thành phố tại 47 quốc gia. Sân bay chính là Sân bay quốc tế Sheremetyevo, Moskca[1].

Hãng là một thành viên của Liên minh SkyTeam. Đây cũng từng là công ty hàng không quốc tế của Liên bang Xô viết và từng là hãng hàng không lớn nhất thế giới. Các trụ sở hãng gần Aerostar Hotel, trung tâm Moskva[cần dẫn nguồn].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

[cần dẫn nguồn] Năm 1921, một thời gian ngắn sau khi Nội chiến Nga chấm dứt, chính phủ mới đã thành lập Cơ quan Quản lý Phi đội Hàng không Dân dụng để giám sát các dự án vận tải hàng không mới. Một trong những hoạt động đầu tiên của nó là hỗ trợ thành lập Deutsch-Russische Luftverkehrs (Deruluft), một công ty liên doanh Đức-Nga cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không từ Nga sang phương Tây. Dịch vụ bay trong nước cũng bắt đầu cùng thời điểm này, khi công ty Dobrolyot được thành lập ngày 9 tháng 2 năm 1923. Nó bắt đầu hoạt động ngày 15 tháng 7 năm 1923 giữa Moskva và Nizhni Novgorod. Ngày 25 tháng 2 năm 1932 tất cả các hoạt động hàng không dân dụng được quy về Grazhdanskiy Vozdushnyy Flot (Phi đội Hàng không Dân dụng), được gọi tắt là Aeroflot. Các chuyến bay quốc tế bắt đầu năm 1937; trước ngày đó chúng do Deruluft thực hiện.

Tới cuối thập niên 1930 Aeroflot đã trở thành hãng hàng không lớn nhất thế giới, sử dụng hơn 400.000 nhân viên và điều hành khoảng 4.000 máy bay. Nó trở thành hãng hàng không đầu tiên trên thế giới điều hành các chuyến bay phản lực thường xuyên ngày 15 tháng 9 năm 1956 với chiếc Tupolev Tu-104[1].

Airbus A319 của Aeroflot tại Berlin

Trong thời kỳ Xô viết Aeroflot đồng nghĩa với hàng không dân dụng Nga. Một trong những ví dụ hiếm hoi của quảng cáo thương mại Xô viết là khẩu hiệu của Aeroflot, "Bay trên những chiếc máy bay của Aeroflot!" (Летайте самолетами Аэрофлота!). Trớ trêu thay Aeroflot không có đối thủ cạnh tranh và rõ ràng đối với một công dân Xô viết bình thường việc bay trên một chiếc máy bay không phải của Aeroflot là không thể. Quảng cáo này được dự định để lôi kéo người dân sử dụng Aeroflot thay vì dịch vụ tàu hỏa rẻ tiền và chậm chạp hơn.

Tháng 1 năm 1971 Cơ quan Trung ương Aeroflot về Vận chuyển Hàng không Quốc tế được thành lập trong khuôn khổ IATA, và trở thành công ty duy nhất trong ngành công nghiệp này được điều hành các chuyến bay quốc tế. Ở nước ngoài, hãng này được gọi là Hãng hàng không Aeroflot Xô viết. Năm 1976 Aeroflot đã chuyên chở hành khách thứ 100 triệu. Các chuyến bay của hãng chủ yếu tập trung xung quanh Liên bang Xô viết, nhưng nó cũng có mạng lưới đường bay quốc tế phủ khắp năm châu: BắcNam Mỹ, Châu Âu, Châu PhiChâu Á. Mạng lưới này gồm các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Anh Quốc, Tây Ban Nha, Cuba, MéxicoTrung Quốc. Từ thập niên 1970 một số chuyến bay liên lục địa được tiến hành sử dụng Sân bay Shannon tại Ireland làm điểm trung chuyển, bởi đây là sân bay xa nhất phía tây không thuộc NATO tại châu Âu.

Ilyushin Il-96 của Aeroflot với kiểu sơn trước kia

Aeroflot cũng tiến hành vô số các hoạt động khác, nó cung cấp dịch vụ y tế hàng không, hàng không nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa nặng cho Cơ quan Vũ trụ Xô viết (xem Chương trình Vũ trụ Xô viết), hỗ trợ giàn khoan dầu ngoài khơi, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ các dự án xây dựng, vận chuyển quân và hậu cần (như bên phụ trợ của Không quân Xô viết), nghiên cứu khí quyển, tuần tra các vùng xa xôi. Ngoài số máy bay chở khách thông thường, hãng sở hữu hàng trăm máy bay trực thăng và máy bay vận tải. Hãng cũng điều hành chiếc máy bay tương tự Air Force One của Xô viết và các máy bay chuyên chở các nhân vật hàng đầu chính phủ và các quan chức Đảng Cộng sản. Aeroflot gia nhập IATA năm 1989.

Các chuyến bay vào và ra khỏi Hoa Kỳ của Aeroflot đã bị gián đoạn từ 15 tháng 9 năm 1983 tới 2 tháng 8 năm 1990 sau một chỉ thị hành chính của Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan thu hồi giấy phép hoạt tiến hành các chuyến bay vào và ra khỏi Hoa Kỳ của Aeroflot. (Xem Korean Air Flight 007 để biết thêm thông tin) Đầu thập niên 1990 Aeroflot đã tái tổ chức và trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các bộ phận.

Năm 1992 hãng được chia thành hơn 300 công ty hàng không cấp vùng. Các đường bay quốc tế được điều hành riêng biệt bởi Hãng hàng không Quốc tế Aeroflot - Nga (ARIA)[1]. Một số công ty hàng không được thành lập từ cơ sở Aeroflot cũ đã đang hoạt động tại các quốc gia mới độc lập trong Cộng đồng Thịnh vượng chung các Quốc gia Độc lập — ví dụ, Uzbekistan Airways. Các hãng hàng không cấp vùng nhỏ hơn khác xuất hiện từ Aeroflot cũ — thỉnh thoảng với chỉ một chiếc máy bay — thỉnh thoảng được gọi là các "Babyflot".

Tupolev Tu-154M của Aeroflot

Năm 1994 Aeroflot được đăng ký lại thành công ty cổ phần và chính phủ đã bán 49% cổ phần của họ cho các nhân viên Aeroflot[1]. Trong thập niên 1990 Aeroflot chủ yếu tập trung vào các chuyến bay quốc tế từ Moskva. Tuy nhiên, tới cuối thập kỷ Aeroflot đã bắt đầu mở rộng thị trường nội địa. Năm 2000 tên công ty được đổi thành Aeroflot — Hãng hàng không Nga để phản ánh sự thay đổi trong chiến lược của công ty.

Hành khách phương Tây nghe nói đến tiếp viên hàng không Aeroflot là rùng mình vì bị phục vụ kém và thức ăn dở. Ngoài ra cuối năm 2008 trong chuyến bay tại Moscow do viên cơ trưởng của Aeroflot say xỉn nên hành khách phản ứng. Người phát ngôn của hãng đã cho rằng cơ trưởng say rượu là "chuyện nhỏ" vì "máy bay có thể bay tự động!" và chỉ trích "tâm lý hốt hoảng của hành khách".[2] Để thay đổi bộ mặt, hãng đã phải cử nhân viên sang Singapore để học và các tiếp viên thô lỗ đã bị đuổi.

Phát triển gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

[cần dẫn nguồn] Aeroflot đã cố gắng tạo hình ảnh mới về một hãng hàng không an toàn và đáng tin cậy, thuê các công ty tư vấn Anh trong lĩnh vực thương hiệu đầu thập niên 2000. Một màu sơn và đồng phục bay mới cho nhân viên được thiết kế và một chiến dịch quảng bá được tung ra năm 2003.

Những kế hoạch nhằm thoát hoàn toàn khỏi hình ảnh logo búa liềm thời Xô viết, vốn bị một số người phương Tây coi là thứ gợi nhớ đến hình ảnh thời Xô viết cũ, cũng đang được tiến hành. Tuy nhiên, một cuộc điều tra khách hàng cho thấy đây là biểu tượng được biết đến nhiều nhất của công ty, và vì vậy họ đã quyết định giữ lại nó.

Aeroflot cũng đã tăng cường phi đội của mình với những chiếc máy bay phương Tây. Họ có tổng cộng 24 máy bay phản lực A320/A319 cho những tuyến đường ngắn tại châu Âu và 11 máy bay Boeing 767 cho những tuyến bay dài. Tổng số máy bay là 93 chiếc. Hãng chuyên chở 5,9 triệu hành khách năm 2003.

Mùa thu năm 2004 hàng hàng không đã bắt đầu một chương trình mở rộng thị trường nội địa đầy tham vọng với mục tiêu giành 30% thị phần vào năm 2010 (tới 2006 họ chỉ nắm khoảng 9%). Nhiệm vụ đầu tiên là vượt mặt đối thủ cạnh tranh chủ chốt S7 Airlines, hãng đứng đầu trong thị trường hàng không nội địa Nga. Ngày 29 tháng 7 năm 2004 công ty đã đưa ra khẩu hiệu mới: "Trân trọng. Aeroflot".

Ngày 14 tháng 4 năm 2006 Aeroflot trở thành hãng hàng không đầu tiên tại Liên bang Xô viết cũ gia nhập liên minh quốc tế (SkyTeam; một cách khác là gia nhập Star Alliance). Hãng cũng sẽ có sân bay chính tại Sân bay quốc tế Sheremetyevo được gọi là Ga 3 Sheremetyevo sẽ được hoàn thành vào tháng 11 năm 2007.

Công ty đã thông báo kế hoạch của mình nhằm tăng lượng hàng hóa chuyên chở. Họ đã đăng ký thương hiệu "Aeroflot Cargo" năm 2004. Cũng có một kế hoạch nhằm thay thế phi đội chở hàng gồm bốn chiếc DC-10s bằng sáu chiếc MD-11s bắt đầu từ cuối năm 2007.

Chính phủ Nga (tới tháng 3 năm 2007) sở hữu 51,17% cổ phần thông qua Rosimushchestvo, Liên đoàn Dự trữ Quốc gia 27% và nhân viên cùng các bên khác 19%, và có 14.900 nhân viên[1].

Năm 2006 Aeroflot chuyên chở 7.290.000 hành khách và 145.300 tấn thư và hàng hoá[3][4] tới 89 địa điểm tại 47 nước.

wien

Phi đội[sửa | sửa mã nguồn]

Đội máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Phi đội của Aeroflot tới tháng 7 năm 2018 gồm những máy bay sau:[5][6]

Máy bay Đang sử dụng Đặt hàng Hành khách Ghi chú
B W E Tổng
Airbus A320-200 79 1[cần dẫn nguồn] 20 120 140 Một chiếc với màu sơn[7] 1950s retro
Một chiếc với màu sơn[8] PFC CSKA Moskva
8 150 158
Airbus A321-200 37 2[cần dẫn nguồn] 28 142 170 Một chiếc với màu sơn[9] Manchester United
Một chiếc với màu sơn[10][11] 95 years jubilee
16 167 183
Airbus A330-200 5 34 207 241
Airbus A330-300 17 34 268 302 Một chiếc với màu sơn[12] SkyTeam
Airbus A350-900 14[13] TBA Giao hàng từ 2019 đến 2023[14]
Boeing 737–800 41 9[cần dẫn nguồn] 20 138 158[15] Một chiếc với màu sơn[16] SkyTeam
Boeing 777-300ER 17 5[cần dẫn nguồn] 30 48 324 402 Giao hàng từ 2018 đến 2021.[17]
Một chiếc với màu sơn [18] SkyTeam
Irkut MC-21-300 50[19] 16 159 175[20]
Sukhoi Superjet 100-95 45 5[cần dẫn nguồn] 12 75 87 Hai chiếc với màu sơn[12] SkyTeam
Tổng 241 86

Đội máy bay đã ngưng sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

An Aeroflot Ilyushin Il-96-300 departs Sheremetyevo Airport in 2008.
An Aeroflot Boeing 777-200ER on approach to Sheremetyevo Airport in 2003.
An Aeroflot Tupolev Tu-134 at Sheremetyevo International Airport. (2003)
Máy bay chính của Aeroflot từ 1954
Máy bay Bay lần đầu Năm ngưng sử dụng Ghi chú
Airbus A310 1992[21] 2005
Airbus A319[22] ? ?
Antonov An-2 1948 Không biết
Antonov An-10 1959 1973
Antonov An-24 1962 Không biết
Antonov An-124 1980 2000 Máy bay vận chuyển hàng hóa
Boeing 737–300 2008 2009 Máy bay vận chuyển hàng hóa
Boeing 737–400 1998[23] 2004
Boeing 767-300ER[24] 1994[25] 2014[26]
Boeing 777-200ER 1998 2005
Ilyushin Il-12 1947 1970
Ilyushin Il-14 1954 Không biết
Ilyushin Il-18 1958 Không biết
Ilyushin Il-62 1967 2002
Ilyushin Il-76 1979 2004 Máy bay vận chuyển hàng hóa
Ilyushin Il-86 1980[27]:67 2006[28]
Ilyushin Il-96-300 1993[29] 2014[30]
McDonnell Douglas DC-10 1995 2009 Máy bay vận chuyển hàng hóa
McDonnell Douglas MD-11F 2008[31] 2013[32] Máy bay vận chuyển hàng hóa
Tupolev Tu-104 1956 1979
Tupolev Tu-114 1961 1976
Tupolev Tu-124 1962 1980[33]
Tupolev Tu-134 1967 2007[34]
Tupolev Tu-144 1977 1978
Tupolev Tu-154 1968 2009
Tupolev Tu-204 1990 2005
Yakovlev Yak-40 1966 1995
Yakovlev Yak-42 1980[35] 2000


Airbus A320 của Aeroflot tại Düsseldorf.

Hàng hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Phi đội chở hàng của Aeroflot tới tháng 8 năm 2006 gồm những máy bay sau:

Phi đội vận tải Aeroflot
Máy bay Tổng cộng Ghi chú
McDonnell Douglas DC-11F 2

Aeroflot dự định thay thế phi đội DC-10F bằng những chiếc MD-11F hiện đại hơn.

Điều hành trong quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

[cần dẫn nguồn] Trong thời kỳ Xô viết, hầu như toàn bộ máy bay chở khách của Aeroflot đều do các công ty trong nước chế tạo. Rõ ràng tất cả các máy bay dân sự (và một số máy bay quân sự) bay tại Liên bang Xô viết đều được coi là máy bay của Aeroflot. Điều này có nghĩa Aeroflot là hãng có hầu như tất cả các loại máy bay trong phi đội của mình, bởi vì hãng sở hữu từ các loại máy bay nhỏ phun thuốc diệt côn trùng trong nông nghiệp tới loại Ilyushin 62 lớn hơn 200 chỗ.

Trong thập niên 1940 và đầu thập niên 1950, máy bay chính trong phi đội Aeroflot là một phiên bản đã được cho phép chế tạo của Douglas DC-3. Các phiên bản đã sửa đổi, do Liên Xô chế tạo của loại máy bay này được gọi là PS-84Lisunov Li-2. Chiếc máy bay đầu tiên như vậy được hoàn thành tại Liên bang Xô viết năm 1939.

Sau này, máy bay Li-2 bị thay thế bằng loại Ilyushin Il-12 (đi vào hoạt động năm 1947) và Ilyushin Il-14 (đi vào hoạt động năm 1954). Aeroflot cũng điều hành rất nhiều máy bay hai tầng cánh hoạt động trên đường băng ngắn Antonov An-2 (chuyến bay đầu tiên năm 1947), cả với vai trò chở khách và hàng hoá. An-2 tiếp tục hoạt động trong Aeroflot tới thập niên 1980.

Ngày 15 tháng 9 năm 1956 Aeroflot bắt đầu sử dụng những chiếc Tupolev Tu-104, những chiếc máy bay phản lực chở khách đầu tiên của Liên bang Xô viết hoạt động thường xuyên. Chuyến bay có chở hành khách đầu tiên của chiếc máy bay này bay từ Moscow tới Irkutsk, Nga. Tuyến quốc tế đầu tiên sử dụng Tu-104 là Moscow - Praha, Tiệp Khắc.

Tupolev Tu-114, trước kia được dùng để chở các nhà lãnh đạo Xô viết, đi vào phục vụ năm 1961 trên tuyến Moscow (Sân bay quốc tế Vnukovo) - Khabarovsk, Nga. Nó cũng hoạt động trên những tuyến quốc tế khác như Moscow - Tokyo, Nhật Bản và Moscow - La Habana, Cuba, tuyến đường bay thẳng dài nhất thời kỳ đó.

Năm 1962 Aeroflot bắt đầu sử dụng Tupolev Tu-124, phiên bản nhỏ hơn của Tu-104, trên các tuyến vùng. Những chiếc máy bay này sau đó đã được thay thế bằng loại Tupolev Tu-134, đi vào hoạt động năm 1967. Những phiên bản Tu-134 đã cải tiến vẫn chiếm đa số trong phi đội bay cấp vùng tại Nga hiện nay.

Chiếc máy bay chở khách Ilyushin Il-62 tầm xa bốn động cơ đầu tiên hoạt động trong Aeroflot năm 1967, với chuyến bay khai trương từ Moskva tới Montreal ngày 15 tháng 9 năm đó.

Năm 1972 chiếc Tupolev Tu-154 bắt đầu hoạt động thường xuyên. Chiếc máy bay phản lực này có lẽ là loại máy bay chở khách phổ biến nhất của Nga, với hơn 1000 chiếc đã được chế tạo. Phiên bản cải tiến Tu-154M sau này, vẫn đang hoạt động. Những chiếc máy bay đó hoạt động trên hầu hết các tuyến nội địa Nga.

Ngày 1 tháng 11 năm 1977 Aeroflot bắt đầu sử dụng Tupolev Tu-144, chiếc máy bay chở khách siêu âm đầu tiên trên thế giới, trên tuyến đường thông thường của hãng từ Moscow (Sân bay Quốc tế Domodedovo) tới Alma-Ata (hiện là Almaty, Kazakhstan). Tu-144 bị ngừng hoạt động chở khác năm 1978, với tổng cộng 55 chuyến bay thông thường chính thức.

Năm 1980 Ilyushin Il-86, chiếc máy bay thân rộng đầu tiên do Nga sản xuất, gia nhập phi đội với tổng cộng 11 chiếc. Những chiếc máy bay này bị cho nghỉ năm 2006.

Chiếc máy bay phương Tây chế tạo đầu tiên hoạt động trong Aeroflot làAirbus A310, nó được mua năm 1992. Công ty này cũng là một khách hàng của Boeing, mua chiếc phản lực Boeing 767 năm 1994. Từ đó Aeroflot cũng sử dụng những chiếc Boeing 737, Airbus A320, và phiên bản chở hàng của Douglas DC-10.

Năm 1998 Aeroflot thuê 2 chiếc Boeing 777. Cả hai chiếc này đều đã hết hạn thuê.

Mở rộng phi đội[sửa | sửa mã nguồn]

[cần dẫn nguồn]

Một chiếc Boeing 767-300ER của Aeroflotat tại Sân bay Quốc tế Toronto Pearson

Năm 1993 Aeroflot bắt đầu sử dụng máy bay Ilyushin Il-96-300 trên tuyến Moskva-New York. Công ty hiện điều hành 6 chiếc loại này - khoảng một nửa số Il-96 đang hoạt động thương mại trên toàn thế giới - và dự định mua thêm 6 chiếc nữa nếu Nhà nước Nga cho phép họ không trả trả khoản thuế nhập khẩu cho những chiếc máy bay phương Tây. Các chuyên gia trong ngành công nghiệp cho rằng hãng hiện đang tìm cách hủy bỏ hợp đồng với Ilyushin bởi sử dụng những chiếc Il-96 không có lợi ích kinh tế.

Năm 2006 hãng đã thuê 3 chiếc Boeing 767-300ER đã sử dụng từ ILFC trong 5 năm. Hai chiếc đầu tiên được chuyển giao tháng 11 năm 2006 và tháng 1 năm 2007, chiếc thứ 3 được dự định vào tháng 3 năm 2007. Trước đó công ty này đã thuê 2 chiếc Boeing 767-300ER từ ILFC.

Tới năm 2007, Aeroflot đang trong quá trình đại tu lại cơ cấu phi đội của mình. Những chiếc Tupolev 134 và Tupolev 154 già cỗi đang hoạt động trên những tuyến ngắn và trung bình sẽ bị loại bỏ, Tupolev 134 sẽ được thay bằng loại Sukhoi Superjet 100 còn chưa ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 2008, Tupolev 154 sẽ được thay thế bằng những chiếc Airbus 319/320/321 tới năm 2010[36].

Airbus A320-200 của Aeroflot đang hạ cánh

Đối với những tuyến đường dài, công ty hiện đang đánh giá hai loại Boeing 787Airbus A350 như phương án thay thế cho Boeing 767, nhưng có lẽ loại Dreamliner sẽ được lựa chọn bởi nó đi vào hoạt động sớm hơn đối thủ của Airbus. Aeroflot có hợp đồng cho 22 chiếc Boeing 787 sẽ được giao hàng giai đoạn 2008-2010. Tuy nhiên, hãng đã hủy hợp đồng với Boeing và đặt hàng 22 chiếc A350 từ Airbus.

Sự việc lên tới đỉnh điểm tháng 9 năm 2006 khi Ban Giám đốc Aeroflot can thiệp cho hợp đồng với Boeing. Không may cho Boeing, sự kiện này trùng khớp với thời điểm Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt với nhiều công ty Nga (gồm cả công ty sản xuất máy bay Sukhoi) vì cái gọi là cung cấp thiết bị cho Iran vi phạm vào Luật không phổ biến vũ khí hạt nhân cho Iran năm 2000 của nước này và với công ty Vneshtorgbank thuộc sở hữu Nhà nước Nga mua 5% cổ phần trong EADS, vì thế công ty này ủng hộ Airbus. Những đại diện nhà nước trong Ban giám đốc bỏ phiếu trắng và một chiến dịch lobby (vận động hành lang) mới được tiến hành, với nhiều nguồn tin Nga cho biết những nỗ lực của Aeroflot nhằm xoa dịu nhà nước bằng cách đưa ra đặt hàng cho cả 22 chiếc Boeing 787 22 chiếc Airbus 350, nhân gấp đội phi đội đường dài của họ. Chủ ngân hàng Alexander Lebedev, người đứng sau Liên đoàn Dự trữ Quốc gia, đã đạt được một thỏa thuận với Boeing để kéo dài thời hạn quyết định, sử dụng tiền từ liên minh của ông [1]. Tuy nhiên, cuối cùng hợp đồng cũng đã đổ vỡ. Từ đó Lebedev luôn đe dọa kiện Nhà nước ra trước tòa án, đưa ra những con số thiệt hại với Aeroflot lên tới 200 triệu dollar Mỹ.

  • Ngày 22 tháng 3 năm 2007, Aeroflot đã ký kết một thỏa thuận với Airbus về việc giao hàng 22 chiếc Airbus 350-800/900 XWB bắt đầu từ năm 2014[37].
  • Mười chiếc Airbus A330-200 cũng đã được đặt hàng để đi vào hoạt động từ cuối năm 2008 để tăng tạm thời năng lực vận chuyển[1].

Vụ việc và Tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

  • AirDisaster.com Accident Data báo cáo rằng từ năm 1953 đã có 127 vụ tai nạn liên quan tới máy bay Aeroflot và 6.875 người tử vong (thêm 20 người thiệt mạng dưới mặt đất), đưa con số tử nạn trung bình thành 54,13 người trên vụ. Tuy nhiên, trong thời kỳ Xô viết bất kỳ máy bay nào từ máy bay phun thuốc sâu tới máy bay thương mại đều bay dưới tên Aeroflot. Vì thế những con số đó phản ánh số lượng các vụ tai nạn của bất kỳ một phương tiện bay nào trong Liên bang Xô viết, gồm cả một số chiếc dưới sự điều hành của Không quân Xô viết. Đã không xảy ra vụ tai nạn chết người nào từ ngày 23 tháng 3 năm 1994, khi một chiếc Airbus Chuyến bay 593 Aeroflot lao xuống đất tại Xibia sau khi phi công cho phép đứa con trai 15 tuổi của mình điều khiển. Kể từ đó Aeroflot đã cải thiện đáng kể kỷ lục an toàn của mình (xem "A Face Lift for Down-at-Heel Aeroflot", New York Times, 7 tháng 4 năm 2003]).
  • Ngày 27 tháng 2 năm 2005, một chiếc Tupolev Tu-154M của Aeroflot đã hạ cánh trên một đường băng tại Sân bay Quốc tế Barcelona, Tây Ban Nha, cách 250m so với đường băng 25R dành cho nó[38].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Flight International 27 tháng 3 năm 2007
  2. ^ Báo Thế giới và Hội nhập số 31 -2009 tr 21
  3. ^ Aeroflot news
  4. ^ Aeroflot news
  5. ^ Aeroflot press release (in Russian)
  6. ^ http://www.belfasttelegraph.co.uk/business/article2364152.ece Belfast Telegraph article.
  7. ^ Drum, Bruce (31 tháng 5 năm 2013). “Aeroflot puts its Airbus A320 1956 retrojet into revenue service”. World Airline News. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2016. 
  8. ^ “A320 with CSKA Moscow livery joins Aeroflot fleet”. 26 tháng 7 năm 2016. 
  9. ^ “Aeroflot unveils Manchester United livery on new Airbus A321”. 23 tháng 12 năm 2013. 
  10. ^ “«Аэрофлот» презентовал самолет в юбилейной ливрее”. lenta.ru. 4 tháng 5 năm 2018. 
  11. ^ “ФОТО: A321 "Аэрофлота" к 95-летию авиакомпании получил специальную ливрею”. ato.ru. 3 tháng 5 năm 2018. 
  12. ^ a ă “SkyTeam livery fact sheet” (PDF). SkyTeam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2016. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot cancels eight A350-800s
  14. ^ Public Joint Stock Company Aeroflot - Russian Airlines: Condensed Consolidated Interim Financial Statements as at and for the 6 months ended 30 June 2017 (PDF) (Bản báo cáo). Moscow: Aeroflot. 29 tháng 8 năm 2017. tr. 13. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2017. 
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aircraft News-July 9, 2015
  16. ^ “SkyTeam Liveried Boeing B737-800 Joins Aeroflot Fleet”. 
  17. ^ “Russian airline orders six 777s, helping bridge Boeing’s delivery gap”. The Seattle Times. 24 tháng 9 năm 2017. 
  18. ^ “Aeroflot paints new Boeing 737-800 in SkyTeam livery”. 
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot sends plans to buy local aircraft to government
  20. ^ "Аэрофлот" получит первые МС-21 в конце 2018 года”. ТАСС. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot to acquire 22 A350XWBs and 10 A330s
  22. ^ “Aircraft Fleet”. Aeroflot. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot Takes Delivery of its First Boeing 737-400
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SINGAPORE 2010: Ameco Beijing signs MRO contracts with United and Aeroflot
  25. ^ “Aeroflot 767 Fleet”. 
  26. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên aeroflot-vyvel-iz-ekspluatacii-samolety-boeing-767
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên FI1985-62
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot fleet renewal continues with end of IL-86s, lease of A321s
  29. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên FI1993-18
  30. ^ “The last flight of the IL-96-300 with Aeroflot. Moscow, Sheremetyevo Airport”. OJSC "Ilyushin Aviation Complex. 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Boeing and Aeroflot Cargo Commemorate MD-11BCF Service
  32. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aeroflot ends MD-11 freighter operations
  33. ^ “TUPOLEV TU-124 by Tupolev OKB”. ASAP Aerospace. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017. 
  34. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Other News – 02/16/2007
  35. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Commercial Aircraft Directory: Part 2
  36. ^ Aeroflot news - fleet overhaul
  37. ^ - Airbus A350 order
  38. ^ Flight International tháng 7 năm 2005

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]