Kỷ lục bay cao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đây là những kỷ lục được thiết lập ở độ cao cao nhất trong khí quyển từ thời kỳ khí cầu đến hiện tại. Một số kỷ lục được công nhận bởi Fédération Aéronautique Internationale (Liên đoàn hàng không quốc tế).

Máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày/Tháng Độ cao Phi công Máy bay Loại máy bay Chú thích
1903 17 tháng 12, 1903 1 mét Wilbur Wright Wright Flyer cánh quạt
1906 23 tháng 10, 1906 10 feet Alberto Santos-Dumont 14-bis cánh quạt
1906 12 tháng 11, 1906 4 mét Alberto Santos-Dumont 14-bis cánh quạt
1908 18 tháng 12, 1908 360 feet Wilbur Wright Biplane cánh quạt tại Auovors
1909 1909 tháng 7 150 mét Louis Paulhan Farman cánh quạt Triển lãm hàng không Douai
1909 920 mét Louis Paulhan Farman cánh quạt Lyon
1910 9 tháng 1, 1910 4.164 feet Louis Paulhan Farman cánh quạt cuộc đua Los Angeles [1]
1910 17 tháng 6, 1910 4.603 feet Walter Brookins Wright biplane cánh quạt Washington Post; 18 tháng 6, 1910; Indianapolis, Indiana, 17 tháng 6, 1910. Walter Brookins, trên một chiếc máy bay hai tầng cánh Wright, đã phá vỡ kỷ lục độ cao thế giới được lâp ra ngày hôm đó, khi ông ta đạt đến độ cao 4.603 feet, theo như công cụ đo độ cao. Động cơ của ông ta đã ngừng hoạt động khi đang đi xuống, và ông ta hạ cánh sau khi lướt đi thêm 2 dặm, và hạ cánh dễ dàng xuống một cánh đồng lúa mì.
1910 30 tháng 10, 1910 8.471 feet Ralph Johnstone Wright biplane cánh quạt Cuộc thi Hàng không Quốc tế tại Belmont ParkElmont, New York [2]
52 years of records go here.
1962 17 tháng 7, 1962 95.94 km Robert Michael White X-15 máy bay rocket
1963 19 tháng 7, 1963 106.01 km Joseph Albert Walker X-15 máy bay rocket
1963 22 tháng 8, 1963 107.96 km Joseph Albert Walker X-15 máy bay rocket
2004 4 tháng 10, 2004 111.99 km Brian Binnie SpaceShipOne máy bay rocket

Mọi khí cầu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1783 — Tháng 8 – 24 m Jean Francois Pilatre trên một chiếc khí cầu khí nóng.
  • 17831 tháng 12, 1783 — 610 m Professor Charles và người phụ tá Robert trên chiếc khí cầu khí hydro Charliere.
  • 1783tháng 12, 1783 — 2.7 km Professor Charles trên chiếc khí cầu khí hydro Charliere.
  • 1784 — 4 km Pilâtre de Rozier và nhà hóa học Proust trên một chiếc Montgolfier.
  • 180318 tháng 7, 1803 — 7.28 km Etienne Gaspar Robertson và Lhoest trên một khí cầu.
  • 1839 — 7.9 km Charles GreenSpencer Rush trên một chiếc khí cầu tự do.
  • 18625 tháng 9, 1862 — 11.887 km — Coxwell và nhà vật lý người Anh Glaisher trên một chiếc khí cầu.
  • 1927 — Tháng 11 1927 — 13.222 km — ĐẠi úy Hawthorne C. Gray thuộc Quân đoàn Không quân quân đội Hoa Kỳ, trên một chiếc khí cầu.
  • 193127 tháng 5, 1931 — 15.787 km — Auguste Piccard & Paul Kipfer trên một chiếc khí cầu khí hydro.
  • 1932 — 16.2 km — Auguste Piccard và Max Cosyns trên một chiếc khí cầu khí hydro.
  • 1933 30 tháng 9 — 18.501 km khí cầu thuộc Liên Xô.
  • 193320 tháng 11 — 18.592 km Trung úy hải quân T. G. W. Settle (Hải quân Hoa Kỳ) và Thiếu tá Chester L. Fordney (USMC) trên chiếc khí cầu Century of Progress.
  • 193430 tháng 1 — 21.946 km khí cầu thuộc Liên Xô.
  • 193510 tháng 11 — 22.066 km Anderson và Stevens trên khí cầu Explorer II.
  • 196016 tháng 8Joseph Kittinger nahyr dù từ khí cầu Excelsior III phía trên New Mexico ở độ cao 102.800 feet (31.333 m). Joseph Kittinger đã thiết lập những kỷ lục thế giới cho (đến năm 2005 mới bị phá vỡ): nhảy từ độ cao cao nhất; rơi tự do 16 dặm (25.7 km) trước khi bung dù; và tốc độ nhanh nhất do con người tạo ra mà không cần cơ giới hóa, 982 km/h (614 mi/h).
  • 19614 tháng 5 — 34.668 km; Victor PratherMalcolm Ross (người lái khí cầu) thuộc Hải quân Hoa Kỳ ở Strato-Lab V.

Khí cầu khí nóng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày/Tháng Độ cao Phi công Máy bay Khí cầu Chú thích
2004 13 tháng 12, 2004 6.614 km David Hempleman-Adams Boland Rover A-2 kỷ lục Fédération Aéronautique Internationale cho khí cầu khí nóng kể từ năm 2007
1783 15 tháng 10, 1783 0.026 km Pilâtre de Rozier Montgolfier khí cầu cột bằng dây

Tàu lượn[sửa | sửa mã nguồn]

Độ cao cao nhất mà một máy bay không động cơ đạt được là 50.699 feet (15.453 m) vào ngày 30 tháng 8 2006, do Steve Fossett (phi công chính) and Einar Enevoldson (phi công phụ) thực hiện trên chiếc tàu lượn nghiên cứu hiệu suất cao của họ, phá vỡ kỷ lục trước đó là 1.662 ft (507m). Kỷ lục này là một phần của Dự án Perlan. Kỷ lục trước đó là 14.938 mét (49.009 feet) vào ngày 17 tháng 2 1986 do Robert Harris thực hiện ở Thành phố California, Mỹ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Những kỷ lục của sự vận động