Không lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Không lực Việt Nam Cộng hòa
Fatherland - Space.png
Huy hiệu.
Hoạt động 1955 - 1975
Quốc gia Việt Nam Cộng hòa
Quy mô 63.000 nhân sự (lúc cao điểm)
2075 phi cơ (cao điểm)
Khẩu hiệu Tổ quốc - Không gian
Lễ kỷ niệm 1 tháng 7
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Cao Văn Viên
Nguyễn Chánh Thi
Nguyễn Khánh
Nguyễn Xuân Vinh
Nguyễn Cao Kỳ
Huy hiệu
Dấu tròn Vietnam Air Force (south) roundel.svg
Phù hiệu đuôi Flag of South Vietnam.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kích MD 315 Flamant, T-28, A-1, A-37, AC-47, AC-119G/K
Máy bay ném bom B-57 Canberra
Tác chiến
điện tử
EC-47
Tiêm kích F8F Bearcat, F-5A/B/C/E
Tuần tra Republic RC-3 Seabee
Do thám RF-5A, MS 500 Criquet, O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, U-6, U-17
Huấn luyện Pazmany PL-2, T-6, T-28, T-41, T-37, H-13
Vận tải Dassault MD 315 Flamant, C-45, Aero Commander, C-47, DC-6, C-7 Caribou, C-119, C-123, C-130, Alouette II, Alouette III, H-19, UH-1, H-34, CH-47

Không lực Việt Nam Cộng hòa - hay Không quân Việt Nam Cộng hòa (tiếng Anh: Vietnam Air Force, VNAF) - là Quân chủng Không quân trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Nguyên là một lực lượng mạnh về trang bị và quân số, đương thời đã được xếp hạng 4 trên Thế giới [cần dẫn nguồn] và đã tồn tại từ 1955 đến 1975.

Lược sử hình thành & phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa được hình thành từ một số phi công người Việt được tuyển chọn bay cùng với các phi công Pháp với tư cách là sĩ quan của quân đội Pháp. Khi Quốc gia Việt Nam, được thành lập, các sĩ quan người Việt này được chuyển sang cơ cấu Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Bản thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Hinh cũng xuất thân là một sĩ quan phi công, vì vậy, ông rất chú trọng việc xây dựng Lực lượng Không quân. Tháng 6 năm 1951, một cơ quan phụ trách về ngành Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập với tên gọi là Ban Không quân, ban đầu chỉ làm nhiệm vụ phụ trách Phi đội Liên lạc. Trên thực tế, các phi công người Việt chỉ làm nhiệm vụ bay cùng với các phi công Pháp trong các phi vụ. Các chức vụ chỉ huy và Phi công chính đều là sĩ quan Pháp. Ngay cả chức vụ Trưởng Ban Không quân, kiêm Phụ tá Không quân cho Tổng tham mưu trưởng cũng là sĩ quan Pháp.

Tháng 4 năm 1952, thành lập Trung tâm Huấn luyện Không quân tại Nha Trang nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện. Năm 1953, thành lập thêm 2 phi đội Quan sát và Trợ chiến tại Tân Sơn Nhứt và Nha Trang. Năm 1954, Ban Không quân được đổi thành Phòng Không quân.

Năm 1955, Không quân Pháp bàn giao lại cho Không quân Quốc gia Việt Nam khoảng 25 vận tải cơ C-47, 2 phi đoàn quan sát L-19 và 25 khu trục cơ cánh quạt F8F Bearcat lỗi thời[2]. Tháng 7 năm 1955, lần đầu tiên một người Việt được giữ chức vụ Phụ tá Không quân là Trung tá Nguyễn Khánh.

Giai đoạn đầu ngành Không quân chỉ được quy định với quân số 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ.

Đệ nhất Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa. Lực lượng Không quân Quốc gia Việt Nam cũng được cải danh thành Không quân Việt Nam Cộng hòa. Thiếu tá Trần Văn Hổ, đương kim Phụ tá Không quân, được thăng Trung tá, và trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Không quân Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1957, theo chương trình hợp tác viện trợ, một phái đoàn Không quân Hoa Kỳ sang nghiên cứu tình hình để soạn thảo kế hoạch huấn luyện cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan được tuyển chọn sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Các phi trường Tân Sơn Nhứt, Biên Hòa, Đà Nẵng được xây dựng mở rộng. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang cũng được xây dựng quy mô hơn, nhằm đào tạo tại chỗ các khóa hoa tiêu và quan sát viên, và các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị.

Tháng 9 năm 1959, một phi đội đầu tiên gồm 6 phi cơ Skyraider (Thiên tướng) được Hoa Kỳ chuyển giao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Sau đó trong vòng 1 năm có thêm 25 chiếc Skyraider khác được bàn giao tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt. Năm 1960, Phi đoàn 1 khu trục cơ được thành lập và bắt đầu hoạt động từ Bến Hải đến Cà Mau để yểm trợ cho bộ binh Việt Nam Cộng hòa[3]

Năm 1961, chương trình trợ giúp của Hoa Kỳ có tên Farm gate đã đưa các loại phi cơ cánh quạt huấn luyện T28, oanh tạc cơ hạng nhẹ B26 và vận tải cơ C47 cùng khoảng 124 sĩ quan và 228 quân nhân Hoa Kỳ sang giúp huấn luyện. Các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát không lưu được thiết lập tại các phi trường Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng và Pleiku[4]. Liên đoàn 1 Không vận đầu tiên được thành lập với trung tá Nguyễn Cao Kỳ được chỉ định làm liên đoàn trưởng. Hoa Kỳ cũng trao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa thêm 16 vận tải cơ hạng trung C123 trong tháng 12 năm 1961.

Ngày 26 tháng 2 năm 1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên đường công tác đã đột ngột quay trở lại dội bom mưu toan giết chết Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Ngay lập tức tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh đình chỉ vô hạn định các phi vụ chiến đấu[5]. Cũng vì lý do này mà đương kim Tư lệnh Không quân là Đại tá Nguyễn Xuân Vinh bị thất sủng, phải xin giải ngũ với lý do sang Hoa Kỳ học ngành Tiến sĩ Không gian.

Năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi vùng chiến thuật: Không đoàn 41 (căn cứ ở Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Hòa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cần Thơ)[6]

Đệ nhị Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Quân kỳ.
Phù hiệu (tròn).

Sau cuộc "chỉnh lý" lên nắm quyền, tướng Nguyễn Khánh thực hiện một số cải tổ trong quân đội. Ngoài việc đặt ra thêm cấp bậc Chuẩn tướng, ông còn cho thay đổi tên gọi "Quân đội Việt Nam Cộng hòa" thành "Quân lực Việt Nam Cộng hòa". Danh xưng Không lực Việt Nam Cộng hòa cũng được sử dụng chính thức từ lúc đó.

Năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm các Phi đoàn khu trục cơ A-37 Dragonfly và sau đó là các pPhi đoàn không vận cánh quạt loại lớn C-130 Hercules và trực thăng CH-47 Chinook.

Ngày 3 tháng 2 năm 1965, một phi đoàn gồm 24 chiếc A-1H Skyraider do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy cất cánh từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng và tham gia vào Chiến dịch Mũi tên lửa (Flaming Dart) do Hoa Kỳ vạch định, tấn công các địa điểm ở phía bắc vĩ tuyến 17[7]

Ngày 11 tháng 2 năm 1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không lực Việt Nam Cộng hòa, làm Phi đoàn trưởng 28 chiếc Skyraider của Việt Nam Cộng hòa cùng với 28 chiếc F100 của Không quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công thứ hai vào lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17. Trong đợt này phi công Phạm Phú Quốc bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam[8]

Năm 1967, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm 1 Phi đoàn khu trục trang bị phản lực cơ F-5. Số hiệu của các đơn vị cấp phi đoàn được cải tổ xếp thành 3 số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của đơn vị cấp phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của phi đoàn đó: số 1 là Phi đoàn liên lạc, số 2 là Phi đoàn trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là hỏa long, và số 9 là huấn luyện.[6]

Năm 1970, với đà phát triển nhanh của Không lực Việt Nam Cộng hòa, các Không đoàn chiến thuật phát triển thành 4 Sư đoàn không quân[9], tác chiến hỗ trợ cho 4 vùng chiến thuật. Năm 1971, Sư đoàn 5 Không quân được thành lập và trở thành lực lượng Không quân trừ bị của Bộ Tổng tham mưu. Năm 1972, thành lập thêm tại Quân khu 2 Sư đoàn 6 chịu trách nhiệm vùng trời chiến trường cao nguyên Trung phần.

Năm 1975, Không lực Việt Nam Cộng hòa có 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A-1H Skyraider, A-37 Dragonfly, và F-5, 23 phi đoàn trực thăng với khoảng 1000 phi cơ UH-1 IroquoisCH-47 Chinook, 8 Phi đoàn quan sát với khoảng 200 phi cơ O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, và U-17), 1 Sư đoàn vận tải (9 Phi đoàn vận tải với khoảng 150 phi cơ C-7 Caribou, C-47 Skytrain, C-119 Flying Boxcar, và C-130 Hercules), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long (attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC-119, Lockheed AC-130. Ngoài ra còn có các Phi đoàn trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn quan sát, và Biệt đoàn đặc vụ 314.

Cơ cấu tổ chức Không lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân số vào lúc cao điểm là trên 60.000 quân nhân với hơn 2000 phi cơ các loại.[10]
  • *Đơn vị từ cao xuống thấp
TT Đơn vị* Anh ngữ Chú thích
1
Bộ Tư lệnh
Air Command
Đặt tại Tân Sơn Nhất, Sài Gòn
2
Sư đoàn
Air Division
Từ 2 Không đoàn trở lên
3
Không đoàn
Wing
Từ 2 Liên đoàn trở lên
4
Liên đoàn
Group
Từ 2 Phi đoàn trở lên
5
Phi đoàn
Squadron
Gồm nhiều Phi đội hay Phi tuần
6
Phi đội
Flight
Từ 4 đến 6 Phi cơ
7
Phi tuần
Section (Detail)
Từ 2 đến 3 Phi cơ

Sư đoàn, Không đoàn và Phi đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Số hiệu của các Phi đoàn gồm có 3 chữ số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của Phi đoàn đó: số 1 là Phi đoàn liên lạc, số 2 là Phi đoàn trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là Hỏa long và số 9 là huấn luyện.

Bộ chỉ huy Sư đoàn Không đoàn Căn cứ Phi đoàn Phi cơ sử dụng
Bộ tư lệnh Không quân
(Sài Gòn)
Sư đoàn 1 Không quân
(Đà Nẵng)
Không đoàn chiến thuật 41 Đà Nẵng Phi đoàn liên lạc 110 MS 500 Criquet
O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
Bình Thủy Phi đoàn liên lạc 120 O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
Đà Nẵng Phi đoàn vận tải 427 C-7 Caribou
Tân Sơn Nhứt Biệt đội quan sát 718 EC-47D Dakota
Phi đoàn hỏa long 821 AC-119K Stinger
Không đoàn chiến thuật 51 Đà Nẵng Phi đoàn trực thăng 213 UH-1
Phi đoàn trực thăng 233
Phi đoàn trực thăng 239
Phi đoàn trực thăng 247 CH-47 Chinook
Nha Trang Phi đoàn trực thăng 253 UH-1
Đà Nẵng Phi đoàn trực thăng 257
Không đoàn chiến thuật 61 Nha Trang Phi đoàn khu trục 516 A-37B Dragonfly
Đà Nẵng Phi đoàn khu trục 528
Phi đoàn khu trục 538 F-5A/B Freedom Fighter
Phi đoàn khu trục 550 A-37B Dragonfly
Sư đoàn 2 Không quân
(Nha Trang)
Không đoàn chiến thuật 62 Nha Trang Phi đoàn liên lạc 114 O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
Phi đoàn trực thăng 215 UH-1
Phi đoàn trực thăng 219 H-34 Choctaw
UH-1
Biệt đội tải thương 259C UH-1
Phi đoàn vận tải 817 AC-47D Spooky
Không đoàn chiến thuật 92 Phan Rang Biệt đội tải thương 259D UH-1
Nha Trang Phi đoàn khu trục 524 A-37B Dragonfly
Phan Rang Phi đoàn khu trục 534
Phi đoàn khu trục 548
Sư đoàn 3 Không quân
(Biên Hòa)
Không đoàn chiến thuật 23 Nha Trang Phi đoàn liên lạc 112 MS 500 Criquet
O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
Bình Thủy Phi đoàn liên lạc 124 O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
O-2A Skymaster
Biên Hòa Phi đoàn khu trục 514 A-1 Skyraider
Phi đoàn khu trục 518
Không đoàn chiến thuật 43 Biên Hòa Phi đoàn trực thăng 221 UH-1
Phi đoàn trực thăng 223
Phi đoàn trực thăng 231
Phi đoàn trực thăng 237 CH-47 Chinook
Phi đoàn trực thăng 245 UH-1
Phi đoàn trực thăng 251
Biệt đội tải thương 259E
Không đoàn chiến thuật 63 Biên Hòa Phi đoàn khu trục 522 F-5A/B Freedom Fighter
RF-5A Freedom Fighter
Phi đoàn khu trục 536 F-5A/B Freedom Fighter
F-5E Tiger II
Phi đoàn khu trục 540 F-5A Freedom Fighter
F-5E Tiger II
Phi đoàn khu trục 542 F-5A Freedom Fighter
Phi đoàn khu trục 544
Sư đoàn 4 Không quân
(Cần Thơ)
Không đoàn chiến thuật 64 Bình Thủy Phi đoàn trực thăng 217 UH-1
Phi đoàn trực thăng 249 CH-47 Chinook
Phi đoàn trực thăng 255 UH-1
Biệt đội tải thương 259F UH-1H
Không đoàn chiến thuật 74 Bình Thủy Phi đoàn liên lạc 116 O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
Phi đoàn liên lạc 122
Phi đoàn khu trục 520 A-37B Dragonfly
Phi đoàn khu trục 526
Phi đoàn khu trục 546
Không đoàn chiến thuật 84 Bình Thủy Phi đoàn trực thăng 211 UH-1
Sóc Trăng Phi đoàn trực thăng 225
Phi đoàn trực thăng 227
Bình Thủy Biệt đội tải thương 259H
Sóc Trăng Biệt đội tải thương 259I
Sư đoàn 5 Không quân
(Sài Gòn)
Không đoàn chiến thuật 33 Tân Sơn Nhứt Biệt đội tải thương 259G UH-1H
Biệt đoàn Đặc vụ 314 C-47
U-17A/B Skywagon
UH-1
DC-6B
Aero Commander
Phi đoàn vận tải 415 C-47
Phi đoàn quan sát 716 T-28A Trojan
EC-47D Dakota
U-6A Beaver
RF-5A Freedom Fighter
Phi đoàn quan sát 720 RC-119
Không đoàn chiến thuật 53 Tân Sơn Nhứt Biệt đội tải thương 259 UH-1
Phi đoàn vận tải 413 C-119 Flying Boxcar
Phi đoàn vận tải 421 C-123 Provider
Phi đoàn vận tải 423
Phi đoàn vận tải 425
Phi đoàn vận tải 435 C-130A
Phi đoàn vận tải 437
Phi đoàn hỏa long 819 AC-119G Shadow
Phi đoàn hỏa long 820
Sư đoàn 6 không quân
(Pleiku)
Không đoàn chiến thuật 72 Pleiku Phi đoàn liên lạc 118 O-1 Bird Dog
U-17A/B Skywagon
O-2A Skymaster
Phi đoàn trực thăng 229 UH-1
Phi đoàn trực thăng 235
Biệt đội tải thương 259B
Phi đoàn khu trục 530 A-1 Skyraider
Không đoàn chiến thuật 82 Phù Cát Phi đoàn trực thăng 241 CH-47 Chinook
Phi đoàn trực thăng 243 UH-1
Biệt đội tải thương 259A
Phi đoàn vận tải 429 C-7 Caribou
Phi đoàn vận tải 431
Phi đoàn khu trục 532 A-37B Dragonfly
Trung tâm Huấn luyện
Không quân
Nha Trang Phi đoàn huấn luyện 912 T-6G Texan
Phi đoàn huấn luyện 918 T-41 Mescalero
Phi đoàn huấn luyện 920 T-37
UH-1 Huey
Không đoàn
tân trang chế tạo
Biên Hòa

Bộ Tư lệnh Không quân (tháng 4-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
Họ tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
Trần Văn Minh

Sĩ quan Thủ Đức K1

Trung tướng
Tư lệnh
Võ Xuân Lành

Sĩ quan Thủ Đức K1

Thiếu tướng
Tư lệnh phó
Võ Dinh

Võ bị Đà Lạt K3

Chuẩn tướng
Tham mưu trưởng
Đặng Đình Linh

Sĩ quan Nam Định|

nt
Tham mưu phó Kỹ thuật
Từ Văn Bê

Võ bị KQ Pháp

nt
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy

Kỹ thuật & Tiếp vận

Nguyễn Ngọc Oánh

Võ bị Đà Lạt K3

nt
Chỉ huy trưởng

Trung tâm Huấn luyện

Nguyễn Văn Ngọc

Sĩ quan Thủ Đức K1

Đại tá
Tham mưu phó Hành quân
Đinh Văn Chung

Võ bị Đà Lạt K3

nt
Tham mưu phó

Chiến tranh Chính trị

Nguyễn Khắc Ngọc

Sĩ quan Nam Định

nt
Tham mưu phó Tiếp vận
Nguyễn Văn Ba
nt
Tham mưu phó Nhân viên
Vũ Văn Ước

Võ bị Đà Lạt K3

nt
Chỉ huy trưởng Hành quân
Huỳnh Minh Quang

Sĩ quan Thủ Đức K2

nt
Trưởng khối Hành chánh
Nguyễn Hữu Thôn

Sĩ quan Thủ Đức K1

nt
Trưởng khối Nhân viên
Đặng Văn Hiệp

Sĩ quan Nam Định

nt
Phụ tá An ninh Quân đội
Cao Thông Minh

Sĩ quan Nam Định

nt
Phụ tá Truyền tin Điện tử
Lê Minh Luân

Sĩ quan Bảo Chính đoàn

nt
Phụ tá Tài chánh
Phạm Duy Thân
nt
Phụ tá Truyền tin
Nguyễn Đức Khánh

Võ bị Không quân Pháp

Chuẩn tướng
Tư lệnh Sư đoàn 1
Nguyễn Văn Lượng

Sĩ quan Nam Định

nt
Tư lệnh Sư đoàn 2
Tư lệnh phó: Đại tá Phan Quang Phúc
Huỳnh Bá Tính

Sĩ quan Thủ Đức K1

nt
Tư lệnh Sư đoàn 3
Nguyễn Hữu Tần

Sĩ quan Nam Định

nt
Tư lệnh Sư đoàn 4
Phan Phụng Tiên

Sĩ quan Nam Định

nt
Tư lệnh Sư đoàn 5
Phạm Ngọc Sang

Sĩ quan Thủ Đức K1

nt
Tư lệnh Sư đoàn 6
Tư lệnh phó: Đại tá Lưu Đức Thanh

Tư lệnh qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Họ tên Tại chức Cấp bậc* Chú thích
1
Nguyễn Khánh
1955
Trung tá
Sử dụng chức danh Phụ tá Không quân cho Tổng tham mưu trưởng
2
Trần Văn Hổ

Võ bị Huế K2

1955-1957
Thiếu tá
Tư lệnh đầu tiên. Được thăng vượt cấp từ Trung úy lên Thiếu tá. Thăng Trung tá (1955) và Đại tá (1956)
3
Nguyễn Xuân Vinh

Võ bị Không quân Pháp

1957-1962
Trung tá
Thăng Đại tá (1961). Thất sủng sau Vụ đánh bom Dinh Độc Lập 1962. Xin giải ngũ sang Hoa Kỳ học bằng Tiến sĩ
4
Huỳnh Hữu Hiền

Sĩ quan Nam Định

1962-1963
nt
Thăng Đại tá (1963)
5
Đỗ Khắc Mai

Sĩ quan Nam Định

1963
nt
Được thăng vượt cấp từ Thiếu tá lên Đại tá (1963)
6
Nguyễn Cao Kỳ

Sĩ quan Nam Định

Marrakeck Bắc Phi

1963-1967
nt
Thăng Thiếu tá (1960), Trung tá (1961), Đại tá (1963), Chuẩn tướng (4/1964) và Thiếu tướng (10/1964). Tháng 12/1063, Quyền Tư lệnh KQ đến tháng 3/1964 chính thức Tư lệnh KQ, tháng 7/1964 kiêm Chỉ huy trưởng Không đoàn 83 Đặc nhiệm ( tức Biệt đoàn 83 Thần Phong). Năm 1965 giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương nhưng vẫn kiêm Tư lệnh KQ đến 1967
7
Trần Văn Minh**

Sĩ quan Thủ Đức K1

K2 Quan sát viên

1967-1975
nt
Thăng Thiếu tá (1959), Trung tá (1962), Đại tá (1965), Chuẩn tướng (11/1967), Thiếu tướng (6/1968) và Trung tướng (11/1968)
8
Nguyễn Hữu Tần
1975
Chuẩn tướng
Tư lệnh Sư đoàn 4 Không quân đồng thời là quyền Tư lệnh sau cùng (Ngày 29/4/1975)
  • Trong Quân lực Cộng hòa có 2 Trung tướng cùng họ và tên Trần Văn Minh, nên để phân biệt mỗi ông có một biệt danh đi kèm với tên: Minh Lục quân và Minh Không quân. Tướng Minh Lục quân năm 1965 giữ chức Tổng Tư lệnh Quân lực (Tổng tham mưu trưởng) sinh năm 1923, hơn Tướng Minh Không quân 9 tuổi và mang quân hàm Trung tướng (1957) trước 11 năm.

Danh sách tướng lãnh KQ Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ & Tên Cấp bậc Năm thụ phong Quá trình

thăng cấp

Chú thích
1
Trần Văn Minh
Trung tướng
1968
Thiếu tá (1958) Trung tá (1960) Đại tá (1965) Ch/tướng (1967) Th/tướng (1968)
- Chỉ huy phó căn cứ Không quân Đà Nẵng
- Chỉ huy Không đoàn 62
- Tư lệnh phó Không quân
- Tư lệnh Không quân
- nt
2
Nguyễn Cao Kỳ
Thiếu tướng
1964
Thiếu tá (1960) Trung tá (1962) Đại tá (1963) Ch/tướng (1964)
- Chỉ huy Liên đoàn Vận tải C47
- nt
- Tư lệnh Không quân
- nt
3
Nguyễn Ngọc Loan
nt
1968
Thiếu tá (1959) Trung tá (1963) Đại tá (1965) Ch/tướng (1966)
- Phụ tá Tham mưu trưởng Không quân
- Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Kh/quân
- Giám đốc Nha An ninh Quân đội
- Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia
4
Võ Xuân Lành
nt
1969
Thiếu tá (1964) Trung tá (1965) Đại tá (1967) Ch/tướng (1969)
- Chỉ huy Phi đoàn 514, Biên Hoà
- Chỉ huy Trung tâm Huấn luyện KQ Nha Trang
- Tư lệnh phó Không quân
- nt
5
Nguyễn Huy Ánh
nt
1972

Truy thăng

Thiếu tá (1963) Trung tá (1965) Đại tá (1970) Ch/tướng (1971)
- Chỉ huy Phi đoàn 211
- Tư lệnh Không đoàn 74
- Tư lệnh Sư đoàn 4 Không quân
- nt
6
Lưu Kim Cương
Chuẩn tướng
1968

Truy thăng

Thiếu tá (1964) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
- Chỉ huy Không đoàn 74
- Chỉ huy Không đoàn 33 & Yếu khu T.S.Nhứt
- nt
7
Võ Dinh
nt
1972
Thiếu tá (1955) Trung tá (1959) Đại tá (1967)
- Chỉ huy Căn cứ Không quân số 1 Nha Trang
- Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh Không quân
- Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Không quân
8
Đặng Đình Linh
nt
nt
Thiếu tá (1962) Trung tá (1965) Đại tá (1970)
- Phụ ta Chỉ huy trưởng Căn cứ Tân Sơn Nhứt
- Trưởng Khối Không cụ tại B.T.lệnh Không quân
- Tham mưu phó Tiếp vận Không quân
9
Nguyễn Văn Lượng
nt
nt
Thiếu tá (1963) Trung tá (1967) Đại tá (1970)
- Liên đoàn trưởng Khoá sinh Không quân
- Phụ tá Chỉ huy trưởng TT Huấn luyện KQ
- Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân
10
Nguyễn Ngọc Oánh
nt
nt
Thiếu tá (1960) Trung tá (1962) Đại tá (1969)
- Chỉ huy trưởng TT Huấn luyện KQ Nha Trang
- nt
- nt
11
Phan Phụng Tiên
nt
nt
Thiếu tá(1964) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
- Phục vụ tại Bộ Tư lệnh Không quân
- nt
- Chỉ huy phó Phi đoàn Vận tải
- Chỉ huy Căn cứ T.S.Nhứt kiêm Phi đoàn Vận tải
12
Huỳnh Bá Tính
nt
nt
Thiểu tá (1965) Trung tá (1968) Đại tá (1971)
- Chỉ huy Phi đoàn Quan sát số 2
- Tư lệnh phó Sư đoàn 3 Không quân
- Tư lệnh Sư đoàn 3 Không quân
13
Lê Trung Trực
nt
nt
Thiếu tá (1957) Trung tá (1960) Đại tá (1964)
- Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân
- Chỉ huy trưởng Căn cứ Tân Sơn Nhứt
- Tư lệnh phó Không quân
14
Từ Văn Bê
nt
1974
Thiếu tá (1963) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
- Tư lệnh Không đoàn Kỹ thuật
- nt
- Chỉ huy trưởng Kỹ thuật & Tiếp vận Không quân
15
Nguyễn Đức Khánh
nt
nt
Thiếu tá (1965) Trung tá (1965) Đại tá (1970)
- Chỉ huy Phi đoàn Khu trục
- Tư lệnh Không đoàn 41 chiến thuật
- Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân
16
Phạm Ngọc Sang
nt
nt
Thiếu tá (1957) Trung tá (1959) Đại tá (1969)
- Phi công trưởng Phi cơ của T.Thống Diệm
- Khối Huấn luyện Trường Sĩ quan Không quân
- Trưởng phòng Nghiên cứu tại Bộ Quốc phòng
17
Nguyễn Hữu Tần
nt
nt
Thiếu tá (1965) Trung tá (1968) Đại tá (1972)
- Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy hành quân KQ
- Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Không quân
- Tư lệnh Sư đoàn 4 Không quân

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Phi cơ F-5C của Không lực Việt Nam Cộng hòa tại Căn cứ Không quân Biên Hòa năm 1971
Phi cơ 4400th CCTS T-28 của Không lực Việt Nam Cộng hòa đang bay trên bầu trời
Phi cơ quan sát O-1 thuộc Phi đoàn liên lạc 112 / Không đoàn chiến thuật 23 - Căn cứ Không quân Biên Hòa - 1971
Phi cơ A-1H thuộc Phi đoàn khu trục cơ 520, Căn cứ Không quân Bình Thủy
Phi cơ Cessna U-17A tại Căn cứ Không quân Nha Trang

Phi cơ hỏa long (thuật từ Không lực Việt Nam Cộng hòa gọi phi cơ cường kích)

Oanh tạc cơ

  • Douglas B-26 Invader - nhận được trong chương trình Farm Gate
  • Martin B-57 Canberra - Không quân Hoa Kỳ cho mượn để dùng cho huấn luyện - chưa bao giờ được Không lực Việt Nam Cộng hòa khai triển cho tác chiến

Khu trục cơ

Phi cơ quan sát và thám thính

Phi cơ trực thăng

Phi cơ huấn luyện

Phi cơ đa dụng và vận tải

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ một sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao
  2. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 374, Phạm Phong Dinh, Tủ sách Vinh Danh, tháng 6 năm 1998;
  3. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 375;
  4. ^ Trước năm 1960, các phi công Pháp - Việt thường bay theo thói quen, do chưa có các thiết bị dẫn đường mặt đất cũng như do ít sử dụng thiết bị dẫn đường trên không.
  5. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 378;
  6. ^ a ă Lịch sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Tổng hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa tại Úc châu;
  7. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 382;
  8. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 384;
  9. ^ Mỗi sư đoàn không quân mới thành lập gồm có 1 Không đoàn chiến thuật gốc.
  10. ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 19;

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]