Lưu Kim Cương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LƯU KIM CƯƠNG
Tiểu sử
Sinh 24 tháng 1 năm 1933
Hà Nội, Việt Nam
Mất 6 tháng 5, 1968 (35 tuổi)
Sài Gòn, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1968
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Fatherland - Space.png Quân chủng KQ
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ IV[1]

Lưu Kim Cương (1933-1968), nguyên là một sĩ quan cao cấp thuộc quân chủng Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Không quân ở Pháp. Tháng 5 năm 1968, khi đang là Đại tá Tư lệnh Không đoàn 33 Chiến thuật kiêm Chỉ huy trưởng Yếu khu Quân sự Tân Sơn Nhứt, ông bị tử trận trong trận Mậu Thân đợt 2, được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24 tháng 1 năm 1933, trong một gia đình thương nhân khá giả tại Hà Nội. Năm 1951 ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 3 năm 1952, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, dự thi và trúng tuyển vào Quân chủng Không quân, mang số quân: 53/600.149. Ông được cử đi du học tại trường Võ Bị Không quân Pháp (Salon de Provence) và Algérie. Cuối năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Đầu năm 1954, về nước ông được chọn làm Huấn luyện viên trong Liên Phi đoàn 1 Vận tải.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được chuyển sang phục vụ cơ cấu mới này và được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đến năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định vào chức vụ Chỉ huy phó Liên Phi đoàn 1 Vận tải.

Đầu năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng vào cuối tháng Giêng của tướng Nguyễn Khánh để nắm quyền lãnh đạo. Ngày 5 tháng 2, ông được thăng cấp Thiếu tá và chuyển sang làm Trưởng phòng Hành quân của Biệt đoàn 83 (Thần phong) thuộc Không đoàn 33 chiến thuật. Tháng 4 cùng năm, nhận lệnh bàn giao chức Trưởng phòng lại cho Đại úy Nguyễn Ngọc Khoa.[2]Ngay sau đó ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không đoàn 74 chiến thuật tân lập tại Cần Thơ. Tháng 12 cùng năm, bàn giao Không đoàn 74 lại cho Đại úy Huỳnh Bá Tính (nguyên là Tư lệnh phó của Không đoàn).

Đầu năm 1965, ông được chỉ định vào chức vụ Chỉ huy trưởng Liên Phi đoàn 1 Vận tải. Qua năm 1966, ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Không đoàn 33 chiến thuật[3]kiêm Chỉ huy trưởng Yếu khu Tân Sơn Nhứt.

Rạng sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, ông bị thương ở chân do trúng đạn trong cuộc Tổng tiến công đợt 1 của quân Giải phóng vào Sài Gòn nhân dịp tết Mậu Thân. Đến đầu tháng 2 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tử trận[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, khi đang trực tiếp chỉ huy đơn vị phòng thủ Yếu khu Tân Sơn Nhứt trong trận Mậu thân đợt 2 tại Ngã tư Bảy Hiền. Vào lúc 9 giờ 30 sáng, ông bị trúng một quả RPG B.40 và tử trận ngay tại trận địa. Hưởng dương 35 tuổi.[4]

Ngày 8 tháng 5, ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm theo Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu. Tang lễ của ông được tổ chức theo lễ nghi Quân cách của một tướng lĩnh.[5], đang là Tư lệnh phó Không đoàn 33 được cử thay thế chức vụ Tư lệnh Không đoàn kiêm Chỉ huy trưởng Yếu khu Tân sơn Nhứt.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Lưu Văn Bích
  • Thân mẫu: Cụ Đỗ Thị Năng.
  • Phu nhân: Bà Bảo Kim

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (truy tặng).
  2. ^ Sinh năm 1936. Cấp bậc sau cùng: Trung tá Không quân
  3. ^ Không đoàn 33 được thành lập năm 1964. Tư lệnh đầu tiên là Trung tá Hà Xuân Vịnh (Chức vụ sau cùng: Đại tá Bộ Tư lệnh Không quân).
  4. ^ Cái chết của Đại tá Lưu Kim Cương là nguồn cảm hứng cho Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác nhạc phẩm "Hát cho người nằm xuống".
    -Về sau, Tiểu đoàn D4-E2-F9 (đơn vị đặc công quân Giải phóng đã bắn chết toán quân của cố Đại tá Cương) cũng không trụ nổi ở chiến trường Tân Sơn Nhất, phải rút chạy ra vòng ngoài, cũng không thấy người đã bắn quả đạn B.40. Cuối năm 1968, đơn vị này gần như bị xoá sổ, không thể phục hồi được ở những năm sau đó.
  5. ^ Ngay sau khi Đại tá Cương tử trận, Trung tá Phùng Văn Chiêu (Sinh năm 1928 tại Long An, tốt nghiệp trường Sĩ quan Không quân Pháp. Cấp bậc sau cùng: Đại tá

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]