Bước tới nội dung

Lockheed C-130 Hercules

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
C-130 Hercules
Máy bay cánh thẳng bốn động cơ tuốc bin cánh quạt đang bay qua mặt nước
Một chiếc C-130E của Không quân Hoa Kỳ
Thông tin chung
KiểuMáy bay vận tải chiến thuật
Nguồn gốcHoa Kỳ
Hãng sản xuất
Tình trạngĐang phục vụ
Khách hàng chínhKhông quân Hoa Kỳ
Số lượng sản xuấtHơn 2.700 chiếc (tính đến tháng 6 năm 2024)[1]
Lịch sử
Giai đoạn sản xuất1954–nay
Được giới thiệuTháng 12 năm 1956[2]
Chuyến bay đầu tiên23 tháng 8 năm 1954; 72 năm trước (1954-08-23)
Biến thể

Lockheed C-130 Hercules là một loại máy bay vận tải quân sự bốn động cơ tuốc bin cánh quạt của Mỹ do hãng Lockheed (nay là Lockheed Martin) thiết kế và chế tạo. Với khả năng sử dụng các đường băng dã chiến chưa hoàn thiện để cất hạ cánh, C-130 được thiết kế ban đầu như một phương tiện vận chuyển binh sĩ, sơ tán y tếvận tải hàng hóa. Bộ khung thân đa dụng của nó sau đó đã được ứng dụng cho nhiều mục đích khác, bao gồm làm máy bay pháo kích (AC-130), phục vụ đột kích đường không, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, trinh sát thời tiết, tiếp dầu trên không, tuần tra biểnchữa cháy trên không. Đây là máy bay vận tải chiến thuật chủ lực của nhiều lực lượng quân đội trên toàn thế giới. Hơn 40 biến thể của dòng Hercules, bao gồm cả các phiên bản dân sự được thương mại hóa dưới tên gọi Lockheed L-100, đang hoạt động tại hơn 60 quốc gia.

C-130 chính thức được đưa vào biên chế tại Hoa Kỳ vào năm 1956, tiếp nối bởi Úc và nhiều quốc gia khác. Trong suốt những năm phục vụ, Hercules đã tham gia vào vô số chiến dịch quân sự, dân sự và cứu trợ nhân đạo. Vào năm 2007, dòng vận tải cơ này đã trở thành loại máy bay thứ năm[N 1] chạm mốc 50 năm phục vụ liên tục với khách hàng chính ban đầu của nó, chính là Không quân Hoa Kỳ (USAF). C-130 là loại máy bay quân sự có thời gian sản xuất liên tục dài nhất trong lịch sử, chính thức đạt cột mốc 70 năm sản xuất vào năm 2024.[3]

Thiết kế và phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh và yêu cầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Triều Tiên đã cho thấy các loại máy bay vận tải sử dụng động cơ piston từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai như Fairchild C-119 Flying Boxcar, Douglas C-47 SkytrainCurtiss C-46 Commando đã không còn đáp ứng được yêu cầu tác chiến. Vào ngày 2 tháng 2 năm 1951, Không quân Hoa Kỳ (USAF) đã ban hành Bản Yêu cầu Hoạt động Chung (GOR) về một mẫu máy bay vận tải mới gửi tới Boeing, Douglas, Fairchild, Lockheed, Martin, Chase Aircraft, North American Aviation, Northrop và Airlifts Inc.

Mẫu vận tải cơ mới được yêu cầu phải có sức chứa 92 hành khách, 72 binh sĩ chiến đấu hoặc 64 lính dù trong một khoang chở hàng dài khoảng 41 ft (12 m), cao 9 ft (2,7 m) và rộng 10 ft (3,0 m). Khác với các máy bay vận tải được hoán cải từ máy bay chở khách dân dụng, mẫu phi cơ này được thiết kế chuyên biệt làm máy bay vận tải chiến thuật phục vụ tác chiến với việc bốc dỡ hàng qua cửa dốc gắn bản lề ở phía đuôi thân máy bay. Một bước tiến đáng chú ý đối với các máy bay cỡ lớn là việc áp dụng hệ thống động lực tuốc bin cánh quạt, mẫu Allison T56, vốn được phát triển dành riêng cho C-130. Động cơ này mang lại cho máy bay tầm bay xa hơn so với động cơ turbojet do tiêu thụ ít nhiên liệu hơn.[4][5] Động cơ tuốc bin cánh quạt cũng tạo ra tỷ số công suất trên trọng lượng lớn hơn nhiều so với động cơ piston. Tuy nhiên, cấu hình trục cố định được chọn cho động cơ T56, với cánh quạt nối liền với máy nén, tiềm ẩn nguy cơ gây hư hại kết cấu nghiêm trọng cho máy bay nếu xảy ra sự cố hỏng động cơ. Do đó, các thiết bị an toàn bắt buộc phải được tích hợp nhằm giảm thiểu lực cản khí động quá lớn sinh ra từ một cánh quạt quay tự do theo luồng gió.[4][5]

Giai đoạn thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]

Hercules có hình dáng giống như một phiên bản bốn động cơ lớn hơn của chiếc Fairchild C-123 Provider, với bố cục cánh và cửa dốc bốc dỡ hàng hóa tương đồng. Mẫu C-123 vốn được phát triển từ chiếc Chase XCG-20 Avitruc cất cánh lần đầu vào năm 1950.[6] Chiếc Boeing C-97 Stratofreighter từng có cửa dốc phía sau, giúp các phương tiện có thể tự lái thẳng vào bên trong máy bay (điều này cũng có thể thực hiện thông qua cửa dốc phía trước của chiếc C-124). Cửa dốc trên Hercules còn được sử dụng để thả hàng dù tiếp tế từ trên không, bao gồm cả hệ thống kéo thả dù ở độ cao thấp (LAPES) dành cho xe tăng Sheridan và thậm chí là thả những quả bom nổ quét cỡ lớn tự chế "daisy cutter". Mẫu máy bay vận tải mới của Lockheed đạt tầm hoạt động 1.100 nmi (1.270 mi; 2.040 km), và có thể vận hành từ các đường băng ngắn và chưa hoàn thiện.

Fairchild, North American, Martin và Northrop đã từ chối tham gia cuộc cạnh tranh. Năm công ty còn lại đã đệ trình tổng cộng 10 đề xuất thiết kế: Lockheed đưa ra hai đề xuất, Boeing một, Chase ba, Douglas ba, và Airlifts Inc. một. Cuộc cạnh tranh cuối cùng thu hẹp thành một cuộc đua sít sao giữa đề xuất nhẹ hơn trong hai phương án của Lockheed (mang mã dự án sơ bộ L-206) và một thiết kế máy bay bốn động cơ tuốc bin cánh quạt do Douglas đề xuất.

Đội ngũ thiết kế của Lockheed do Willis Hawkins dẫn đầu, khởi đầu bằng một bản đề xuất dài 130 trang cho dự án Lockheed L-206.[7] Hall Hibbard, Phó chủ tịch kiêm kỹ sư trưởng của Lockheed, khi xem bản đề xuất đã chuyển tiếp nó cho Kelly Johnson, người vốn không mấy mặn mà với một mẫu phi cơ tốc độ chậm và không trang bị vũ khí, kèm theo lời nhận xét: "Nếu anh ký vào lá thư đó, anh sẽ hủy hoại công ty Lockheed."[7] Cả Hibbard và Johnson sau đó đều ký vào bản đề xuất, và công ty đã giành được hợp đồng cho mẫu thiết kế (khi đó được định danh là Model 82) vào ngày 2 tháng 7 năm 1951.[8]

Bảng đồng hồ điều khiển và cần lái buồng lái C-130H
Buồng lái của chiếc C-130H Hercules: Chiếc máy bay trưng bày thuộc Bộ sưu tập Máy bay của Lực lượng Vũ trang Na Uy.

Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu YC-130 được thực hiện vào ngày 23 tháng 8 năm 1954 từ nhà máy Lockheed ở Burbank, California. Chiếc phi cơ này, mang số hiệu đuôi 53-3397, là nguyên mẫu thứ hai nhưng lại là chiếc đầu tiên trong số hai nguyên mẫu cất cánh. YC-130 được điều khiển bởi hai phi công Stanley Beltz và Roy Wimmer trong chuyến bay kéo dài 61 phút tới Căn cứ Không quân Edwards; Jack Real và Dick Stanton đảm nhiệm vai trò kỹ sư cơ giới trên chuyến bay. Kelly Johnson đã đích thân lái một chiếc Lockheed P2V Neptune bay theo hộ tống.[9]

Sau khi hai chiếc nguyên mẫu hoàn thành, quá trình sản xuất hàng loạt bắt đầu tại Marietta, Georgia, nơi có hơn 2.300 chiếc C-130 đã được xuất xưởng tính đến năm 2009.[10]

Mẫu sản xuất hàng loạt đầu tiên, C-130A, được trang bị động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-9 với cánh quạt ba lá và ban đầu mang phần mũi phẳng tù của các nguyên mẫu. Các đợt bàn giao bắt đầu vào tháng 12 năm 1956, tiếp tục cho đến khi mẫu C-130B ra mắt vào năm 1959. Một số chiếc mẫu A được lắp thêm ván trượt tuyết và được định danh lại thành C-130D. Khi C-130A chính thức đi vào hoạt động trong Bộ chỉ huy Không quân Chiến thuật (TAC), nhược điểm thiếu tầm bay của C-130 đã bộc lộ rõ, và dung tích nhiên liệu bổ sung đã được tăng cường bằng các thùng dầu phụ gắn trên mấu treo cánh phía ngoài động cơ; điều này đã bổ sung thêm 6,000 pound (2,722 kg) nhiên liệu, nâng tổng sức chứa lên 40,000 pound (18,144 kg).[11]

Đặt tên

[sửa | sửa mã nguồn]
Một chiếc C-130 Hercules của Không quân Hy Lạp, với màu sơn đặc biệt khắc họa người anh hùng thần thoại Hercules theo phong cách tranh gốm Hy Lạp cổ đại

C-130 được nhà sản xuất Lockheed đặt tên là "Hercules" theo tên vị anh hùng trong Thần thoại Hy Lạp nổi tiếng với sức mạnh phi thường, lòng dũng cảm và sự bền bỉ. Hercules cũng là tên của một chòm sao (chòm sao Vũ Tiên), phù hợp với truyền thống đặt tên máy bay theo các thiên thể và chòm sao của công ty, tương tự như P-2V NeptuneP-3 Orion.[12]

Trong hàng ngũ quân nhân các Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ, C-130 được gọi bằng các biệt danh tiếng lóng là "Herk" hoặc "Herky Bird".[13]

Nhờ vào bộ khung thân đa năng cùng nhiều biến thể được thiết kế cho các ứng dụng và nhiệm vụ quân sự đa dạng từ thập niên 1950 cho đến ngày nay, tên gọi của nó còn được xem là rất tương xứng với những chiến tích trong lịch sử quân sự, trong đó Không quân Hoàng gia Úc (RAAF) đã ví von những thành tích này với các chiến công và kỳ tích hiển hách của Hercules.[14]

Để tri ân những chiến tích của dòng phi cơ này cũng như nhân vật mà nó mang tên, Không quân Hy Lạp đã sơn một trong những chiếc C-130 của mình bằng màu sơn khắc họa hình tượng Hercules theo phong cách tranh gốm Hy Lạp cổ đại, kèm theo dòng chữ "Tiếp nối những chiến công huyền thoại của Hercules".[cần dẫn nguồn]

Các phiên bản cải tiến

[sửa | sửa mã nguồn]
Máy bay C-130E phóng mồi bẫy nhiệt trong một nhiệm vụ huấn luyện bay thấp
Một chiếc C-130E của Vệ binh Quốc gia Không quân Michigan phóng mồi bẫy nhiệt trong một nhiệm vụ huấn luyện bay thấp.
Hai chiếc C-130 Hercules trên đường băng dã chiến trong cuộc tập trận Team Spirit 84 tại Hàn Quốc
Hai chiếc C-130 Hercules tại Hàn Quốc, năm 1984
C-130 Hercules trong một nhiệm vụ bay đêm
Một chiếc C-130 thực hiện nhiệm vụ bay đêm trên Căn cứ Không quân Yokota.

Mẫu C-130B được phát triển nhằm bổ sung cho các mẫu A đã được bàn giao trước đó, tích hợp nhiều tính năng mới, đặc biệt là dung tích nhiên liệu gia tăng nhờ các bình dầu phụ đặt ở phần cánh giữa và hệ thống điện xoay chiều (AC). Cánh quạt 4 lá của hãng Hamilton Standard đã thay thế cánh quạt 3 lá của Aero Products vốn là đặc điểm nhận diện của các mẫu A đời đầu. C-130B sở hữu các cánh lái liệng (aileron) vận hành bằng hệ thống thủy lực được nâng áp suất từ 2.050 đến 3.000 psi (14,1 đến 20,7 MPa), cùng động cơ mạnh mẽ hơn và cánh quạt 4 lá trở thành tiêu chuẩn chung cho tới phiên bản dòng J.

Mẫu B ban đầu dự kiến trang bị "hệ thống cánh lái thổi khí" (blown controls), một cơ cấu thổi luồng khí áp suất cao qua các bề mặt điều khiển nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát khi bay ở tốc độ thấp. Hệ thống này đã được thử nghiệm trên một nguyên mẫu NC-130B trang bị thêm một cặp tuốc bin T-56 để cung cấp luồng khí nén áp suất cao qua hệ thống ống dẫn tới các mặt điều khiển và cánh tà khi hạ cánh. Cơ cấu này giúp giảm đáng kể tốc độ hạ cánh xuống chỉ còn 63 knot (khoảng 117 km/h) và cắt giảm một nửa quãng đường hạ cánh. Tuy nhiên, hệ thống chưa từng được đưa vào biên chế hoạt động do không cải thiện được hiệu suất cất cánh tương ứng, khiến cho ưu thế về cự ly hạ cánh trở nên vô nghĩa nếu máy bay không thể cất cánh trở lại từ chính đường băng ngắn đó.[15]

Một biến thể trinh sát điện tử của C-130B được định danh là C-130B-II. Tổng cộng đã có 13 chiếc được hoán cải. C-130B-II có thể nhận biết qua các bình dầu phụ giả treo ngoài cánh, vốn thực chất là vỏ ngụy trang cho các ăng-ten thu thập tình báo tín hiệu (SIGINT). Các cụm khí tài này hơi lớn hơn so với các thùng dầu cánh tiêu chuẩn trên những chiếc C-130B thông thường. Hầu hết các máy bay đều có ăng-ten dạng cánh xuôi trên lưng thân, cùng các ăng-ten dây bổ sung giăng giữa cánh đuôi đứng và phần lưng thân không có trên các dòng C-130 khác. Mã hiệu vô tuyến sơn ở đuôi của những máy bay này thường xuyên được thay đổi nhằm đánh lạc hướng quan sát và che giấu nhiệm vụ thực sự.

Phiên bản tầm bay mở rộng C-130E chính thức đi vào phục vụ năm 1962 sau khi được phát triển như một giải pháp vận tải tầm xa lâm thời cho Bộ chỉ huy Vận tải Hàng không Quân sự. Về cơ bản phát triển từ mẫu B, định danh mới là kết quả của việc lắp thêm hai thùng dầu phụ dung tích 1.360 galông Mỹ (5.100 lít) dưới phần giữa mỗi bên cánh cùng các động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-7A mạnh mẽ hơn. Áp suất trợ lực thủy lực cho cánh lái liệng được hạ trở lại mức 2.050 psi (14,1 MPa) do ảnh hưởng từ trọng lượng của các thùng dầu ngoài đặt ở giữa sải cánh. Mẫu E cũng sở hữu các cải tiến về kết cấu, nâng cấp điện tử hàng không và trọng lượng cất cánh toàn tải cao hơn. Úc đã tiếp nhận 12 chiếc C-130E trong giai đoạn 1966–1967 để bổ trợ cho 12 chiếc C-130A đang phục vụ trong RAAF. Thụy Điển và Tây Ban Nha vận hành phiên bản TP-84T của C-130E được trang bị khả năng tiếp dầu trên không.

Các máy bay tiếp dầu KC-130, ban đầu là biến thể C-130F được đặt mua cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (USMC) vào năm 1958 (dưới định danh GV-1), được trang bị một bình nhiên liệu bằng thép không gỉ dung tích 3.600 galông Mỹ (14.000 L) có thể tháo rời đặt trong khoang chứa hàng. Hai cụm ống tiếp dầu mềm và phễu hứng gắn trên cánh mỗi bên có khả năng bơm tiếp nhiên liệu tới 300 galông Mỹ trên phút (1.100 L/min) đồng thời cho hai máy bay, cho phép rút ngắn chu kỳ tiếp nhiên liệu cho các biên đội nhận dầu (một biên đội 4 máy bay thông thường được tiếp dầu trong chưa đầy 30 phút). Biến thể C-130G của Hải quân được gia cường độ bền kết cấu, cho phép vận hành ở trọng lượng toàn tải lớn hơn.

Các bước phát triển tiếp theo

[sửa | sửa mã nguồn]
Máy bay C-130K Hercules C.3 của Không quân Hoàng gia Anh đang bay
Một chiếc C-130K (C.3) của Không quân Hoàng gia Anh

Mẫu C-130H được trang bị động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-15 cải tiến, phần cánh ngoài được thiết kế lại, hệ thống điện tử hàng không nâng cấp cùng một số cải tiến nhỏ khác. Các mẫu H sản xuất về sau có phần cánh giữa mới với tuổi thọ chống mỏi được cải thiện, vốn cũng được nâng cấp bổ sung cho nhiều mẫu H đời đầu. Vì lý do kết cấu, một số mẫu máy bay buộc phải hạ cánh với lượng nhiên liệu giảm bớt khi chuyên chở hàng hóa nặng, điều này làm giảm tầm bay hữu ích.[16]

Mẫu H vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong Không quân Hoa Kỳ và nhiều lực lượng không quân quốc tế. Các đợt bàn giao đầu tiên bắt đầu vào năm 1964 (cho Không quân Hoàng gia New Zealand), duy trì sản xuất cho đến năm 1996. Một phiên bản C-130H cải tiến được giới thiệu vào năm 1974, trong đó Úc đã mua 12 chiếc thuộc loại này vào năm 1978 để thay thế 12 chiếc C-130A nguyên bản vốn được đưa vào biên chế RAAF từ năm 1958. Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) sử dụng biến thể HC-130H cho các nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn tầm xa, chống buôn lậu ma túy, tuần tra ngăn chặn người di cư bất hợp pháp, an ninh nội địa và hậu cần.

Các mẫu C-130H sản xuất từ năm 1992 đến 1996 được Không quân Hoa Kỳ định danh là C-130H3, với số "3" biểu thị biến thể thiết kế thứ ba của dòng H. Những cải tiến bao gồm con quay hồi chuyển laser quang học cho hệ thống dẫn đường quán tính, bộ thu GPS, buồng lái kính một phần (các đồng hồ ADI và HSI), radar màu APN-241 mạnh mẽ hơn, hệ thống chiếu sáng bảng đồng hồ tương thích với thiết bị nhìn đêm, cùng hệ thống cảnh báo tên lửa và radar tích hợp. Gói nâng cấp hệ thống điện bao gồm các bộ điều khiển máy phát (GCU) và bộ chuyển mạch thanh cái (BSU) nhằm cung cấp nguồn điện ổn định cho các thiết bị nâng cấp vốn nhạy cảm hơn.[17]

Mẫu tương đương dùng cho xuất khẩu sang Vương quốc Anh là C-130K, được Không quân Hoàng gia Anh (RAF) gọi là Hercules C.1. Biến thể C-130H-30 (Hercules C.3 trong biên chế RAF) là phiên bản thân kéo dài của chiếc Hercules nguyên bản, đạt được bằng cách chèn thêm một đoạn thân 100 in (2,5 m) phía sau buồng lái và một đoạn thân 80 in (2,0 m) ở phía sau thân máy bay. Một chiếc C-130K duy nhất đã được Cơ quan Khí tượng Anh (Met Office) mua lại để phục vụ Đơn vị Bay Nghiên cứu Khí tượng, nơi nó được phân loại là Hercules W.2. Chiếc máy bay này đã được hoán cải rất nhiều, với đặc điểm nổi bật nhất là que thăm dò khí quyển dài sọc đỏ-trắng ở mũi và radar thời tiết được chuyển vào một cụm vỏ khí tài phía trên thân trước. Chiếc máy bay này, mang tên Snoopy, đã dừng hoạt động vào năm 2001 và sau đó được công ty Marshall of Cambridge Aerospace hoán cải thành máy bay thử nghiệm bay cho động cơ tuốc bin TP400 của A400M. Biến thể C-130K được đội dù RAF Falcons sử dụng cho các màn nhảy dù biểu diễn. Ba chiếc C-130K (Hercules C Mk.1P) đã được nâng cấp và bán cho Không quân Áo vào năm 2002.[18]

Các mẫu tăng cường tính năng

[sửa | sửa mã nguồn]
Máy bay HC-130P đang tiếp nhiên liệu trên không cho trực thăng HH-60G Pavehawk
Một chiếc HC-130P của Không quân Hoa Kỳ tiếp nhiên liệu cho trực thăng HH-60G Pavehawk

Mẫu MC-130E Combat Talon được phát triển cho Không quân Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam nhằm hỗ trợ các nhiệm vụ tác chiến đặc biệt tại Đông Nam Á; nó đã mở đường cho sự ra đời của MC-130H Combat Talon II cùng một dòng máy bay chuyên dụng khác; 37 chiếc thuộc các phiên bản đời đầu đang phục vụ trong Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Không quân (AFSOC) dự kiến sẽ được thay thế bằng các biến thể MC-130J sản xuất mới. Mẫu EC-130 Commando Solo là một biến thể chuyên dụng khác thuộc AFSOC, dù chỉ được vận hành bởi một không đoàn trực thuộc AFSOC thuộc Vệ binh Quốc gia Không quân Pennsylvania; đây là nền tảng chiến tranh tâm lý/tác chiến thông tin (PSYOP/IO) được trang bị như một đài phát thanh và truyền hình bay có khả năng phát sóng thông điệp trên các dải tần thương mại. Các phiên bản khác của EC-130, đáng chú ý nhất là EC-130H Compass Call, cũng là những biến thể chuyên biệt nhưng được biên chế cho Bộ Tư lệnh Không chiến (ACC). Biến thể Lockheed AC-130 lần đầu tiên được phát triển trong Chiến tranh Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực tầm gần và các nhiệm vụ cường kích mặt đất khác.

Dòng HC-130 bao gồm các biến thể tìm kiếm cứu nạn tầm xa (SAR) được Không quân và Tuần duyên Hoa Kỳ sử dụng. Được trang bị để triển khai sâu các đội lính cứu hộ dù, thiết bị sinh tồn, và (đối với các phiên bản của USAF) tiếp nhiên liệu trên không cho các trực thăng cứu nạn chiến đấu, HC-130 thường đóng vai trò là máy bay chỉ huy tại hiện trường cho các nhiệm vụ cứu nạn chiến đấu (chỉ riêng USAF) và cứu nạn phi chiến đấu (cả USAF và USCG). Các phiên bản ban đầu của USAF còn được trang bị hệ thống thu hồi mặt đất-lên-không Fulton, được thiết kế để kéo một người từ mặt đất lên bằng sợi dây nối với một quả khí cầu khí heli. Bộ phim The Green Berets của tài tử John Wayne có cảnh sử dụng hệ thống này. Hệ thống Fulton sau đó đã bị loại bỏ khi phương pháp tiếp nhiên liệu trên không cho trực thăng chứng minh được tính an toàn và đa năng hơn. Bộ phim The Perfect Storm cũng tái hiện một nhiệm vụ SAR có thật ngoài đời thực với cảnh tiếp nhiên liệu trên không cho chiếc HH-60G của Vệ binh Quốc gia Không quân New York bởi một chiếc HC-130P thuộc cùng đơn vị.

C-130R và C-130T là các mẫu dành riêng cho Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, cả hai đều được trang bị các thùng nhiên liệu phụ gắn ngoài dưới cánh. C-130T của Hải quân tương tự nhưng có thêm các cải tiến về hệ thống điện tử hàng không. Ở cả hai mẫu, máy bay đều sử dụng động cơ Allison T56-A-16. Các phiên bản của Thủy quân lục chiến được định danh là KC-130R hoặc KC-130T khi lắp đặt các giá treo và cụm ống tiếp dầu mềm dưới cánh, đồng thời hoàn toàn tương thích với thiết bị nhìn đêm.

Mẫu RC-130 là một phiên bản trinh sát được phát triển trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đôi khi được gọi là máy bay "ferret" (chồn sương - máy bay trinh sát điện tử), những chiếc máy bay này ban đầu là các máy bay C-130 tiêu chuẩn được hoán cải.[19]

Mẫu Lockheed L-100 (L-382) là biến thể dân sự, tương đương với mẫu C-130E nhưng không mang các trang thiết bị quân sự. L-100 cũng có hai phiên bản thân kéo dài.

Thế hệ tiếp theo

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm 1970, Lockheed từng đề xuất một biến thể C-130 sử dụng động cơ turbofan thay vì động cơ tuốc bin cánh quạt, nhưng USAF vẫn ưu tiên hiệu suất cất cánh trên đường băng ngắn của dòng máy bay hiện hữu. Vào những năm 1980, C-130 từng dự kiến được thay thế bằng dự án Máy bay Vận tải Cất hạ cánh ngắn Tầm trung Tiên tiến (AMST). Dự án này sau đó đã bị hủy bỏ và C-130 tiếp tục được duy trì sản xuất.

Dựa trên những kinh nghiệm thu được, Lockheed Martin đã hoán cải một biến thể thương mại của C-130 thành Bệ thử nghiệm Công nghệ cao (HTTB). Chiếc HTTB này đã lập nhiều kỷ lục về hiệu suất cất hạ cánh trên đường băng ngắn (STOL) và mở rộng đáng kể cơ sở dữ liệu cho các biến thể phái sinh sau này của C-130.[20] Các cải tiến thực hiện trên HTTB bao gồm cánh lái liệng có dây cung mở rộng, cánh lái đứng có dây cung dài hơn, cánh tà mép sau dạng khe đôi phản ứng nhanh, phần mở rộng mép trước cánh có độ cong lớn, cánh ổn định lưng thân lớn hơn, bổ sung ba tấm cánh cản khí động trên mặt trên mỗi cánh, hệ thống càng đáp chính và càng mũi hành trình dài, cùng các thay đổi ở hệ thống kiểm soát bay: chuyển đổi từ liên kết cơ khí trực tiếp có trợ lực thủy lực sang hệ thống điều khiển hoàn toàn bằng năng lượng trợ lực, trong đó các thanh giằng cơ học từ buồng lái chỉ đóng vai trò điều khiển các van thủy lực của bộ trợ lực tương ứng.[21]

Chiếc HTTB cất cánh lần đầu vào ngày 19 tháng 6 năm 1984, mang số đăng ký dân sự N130X. Sau khi chứng minh thành công nhiều công nghệ mới (trong đó có những công nghệ được ứng dụng cho C-130J), chiếc HTTB đã bị mất trong một tai nạn thảm khốc vào ngày 3 tháng 2 năm 1993 tại Căn cứ Không quân Dự bị Dobbins ở Marietta, Georgia.[22] Nguyên nhân vụ tai nạn được xác định là do sự mất liên kết của hệ thống điều khiển bay fly-by-wire của bánh lái đuôi, dẫn đến việc mất hoàn toàn khả năng kiểm soát bánh lái hướng trong quá trình thực hiện bài kiểm tra tốc độ kiểm soát tối thiểu trên mặt đất. Sự mất liên kết này bắt nguồn từ thiết kế thiếu hoàn thiện của cụm cơ cấu chấp hành tích hợp bánh lái từ nhà sản xuất; quá trình đánh giá an toàn hệ thống của bên vận hành cũng không lường trước được hậu quả của thiết kế này đối với mọi chế độ hoạt động. Một yếu tố khác góp phần gây ra tai nạn là phi hành đoàn thiếu sự huấn luyện chuyên sâu về bay thử nghiệm kỹ thuật hàng không.[23]

Vào những năm 1990, mẫu cải tiến C-130J Super Hercules đã được Lockheed (sau này là Lockheed Martin) phát triển. Mẫu máy bay này là phiên bản mới nhất và là biến thể duy nhất hiện vẫn đang được sản xuất. Mặc dù có diện mạo bên ngoài tương đồng với dòng Hercules cổ điển, mẫu J được trang bị động cơ tuốc bin cánh quạt mới, cánh quạt sáu lá, hệ thống điện tử hàng không kỹ thuật số cùng nhiều hệ thống hiện đại khác.[24]

Các nâng cấp và cải tiến

[sửa | sửa mã nguồn]
C-130H trang bị cánh quạt tám lá NP2000
C-130H với cánh quạt tám lá NP2000

Vào năm 2000, Boeing đã được trao một hợp đồng trị giá 1,4 tỷ đô la Mỹ để phát triển bộ trang bị cho Chương trình Hiện đại hóa Hệ thống Điện tử Hàng không (AMP) dành cho dòng C-130. Chương trình đã gặp nhiều trở ngại do chậm tiến độ và đội chi phí cho đến khi dự án được tái cấu trúc vào năm 2007.[25] Đến tháng 9 năm 2009, có thông tin cho rằng kế hoạch nâng cấp AMP cho các máy bay C-130 đời cũ sẽ bị hủy bỏ để dành thêm ngân sách cho các chương trình phát triển F-35, CV-22 và chương trình thay thế máy bay tiếp dầu trên không.[26] Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 2010, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phê duyệt kinh phí để sản xuất ban đầu các bộ trang bị nâng cấp AMP.[27][28] Theo các điều khoản của thỏa thuận này, Không quân Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho Boeing bắt đầu giai đoạn sản xuất ban đầu ở quy mô nhỏ (LRIP) cho gói C-130 AMP. Dự kiến có tổng cộng 198 máy bay sẽ được nâng cấp gói AMP. Chi phí vào thời điểm đó cho mỗi máy bay là 14 triệu đô la Mỹ, mặc dù Boeing kỳ vọng mức giá này sẽ giảm xuống còn 7 triệu USD kể từ chiếc thứ 69 trở đi.[25]

Trong những năm 2000, Lockheed Martin và Không quân Hoa Kỳ đã bắt đầu trang bị mới và nâng cấp bổ sung cho các máy bay C-130 loại cánh quạt tám lá NP2000 của hãng UTC Aerospace Systems.[29] Một chương trình cải tiến động cơ giúp tiết kiệm nhiên liệu và giảm nhiệt độ vận hành cho dòng động cơ T56 đã được phê duyệt; Không quân Hoa Kỳ dự kiến sẽ tiết kiệm được 2 tỷ USD (~$2,58 tỷ tính theo tỷ giá năm 2022) và kéo dài tuổi thọ cho toàn phi đội.[30]

Vào năm 2021, Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ (AFRL) đã thử nghiệm thành công hệ thống Rapid Dragon, biến C-130 thành bệ phóng tấn công tầm xa uy lực có khả năng phóng 12 tên lửa JASSM-ER mang đầu đạn 500 kg từ khoảng cách an toàn ngoài tầm phòng không đối phương lên tới 925 km (575 mi). Các nâng cấp dự kiến trong tương lai bao gồm khả năng tích hợp bom JDAM-ER, rải thủy lôi, phóng máy bay không người lái dạng bầy đàn, cùng tầm bắn được mở rộng đáng kể khi biến thể JASSM-XR tầm bắn 1.900 km (1.200 mi) sẵn sàng đưa vào trang bị từ năm 2024.[31][32]

Thay thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10 năm 2010, Không quân Hoa Kỳ đã ban hành một yêu cầu cung cấp thông tin về năng lực (CRFI) nhằm phát triển một mẫu máy bay vận tải mới để thay thế C-130. Mẫu phi cơ mới được yêu cầu mang tải trọng lớn hơn 190% và đảm nhận nhiệm vụ cơ động theo phương thẳng đứng có gắn trang bị (MVM). Tải trọng và nhiệm vụ mở rộng này sẽ cho phép nó vận chuyển các phương tiện bọc thép hạng trung và bốc dỡ chúng tại những địa điểm không có đường băng dài. Nhiều phương án đã được đưa ra xem xét, bao gồm các thiết kế cánh cố định mới hoặc nâng cấp, máy bay cánh quay, máy bay cánh quạt xoay góc (tiltrotor), hoặc thậm chí là khí cầu. Phi đội C-130 gồm khoảng 450 chiếc khi đó dự kiến sẽ được thay thế bởi chỉ 250 chiếc máy bay mới.[33] Không quân Hoa Kỳ từng tìm cách thay thế C-130 vào những năm 1970 thông qua dự án Máy bay Vận tải Cất hạ cánh ngắn Tầm trung Tiên tiến (AMST), dự án này sau đó đã dẫn đến sự ra đời của C-17 Globemaster III nhằm thay thế chiếc C-141 Starlifter.[34]

Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ (AFRL) đã tài trợ cho các mẫu thử nghiệm ý tưởng Speed Agile của Lockheed Martin và Boeing, với mục tiêu chế tạo máy bay có khả năng cất và hạ cánh ở tốc độ thấp tới 70 kn (130 km/h; 81 mph) trên các sân bay dã chiến dài dưới 2,000 ft (0,610 m) và đạt tốc độ hành trình trên Mach 0,8. Thiết kế của Boeing áp dụng công nghệ thổi luồng khí bề mặt trên từ các động cơ đặt chìm ở phần cánh trong và cánh tà thổi khí để kiểm soát lưu thông ở phần cánh ngoài. Thiết kế của Lockheed cũng sử dụng cánh tà thổi khí ở phần cánh ngoài, nhưng ở phần cánh trong lại sử dụng ống phụt đảo chiều luồng xả dạng phun đẩy đã được cấp bằng sáng chế.[35]

Thiết kế của Boeing đã hoàn thành hơn 2.000 giờ thử nghiệm trong hầm gió vào cuối năm 2009. Đó là một mô hình thu nhỏ 5% của thiết kế thân hẹp với tải trọng 55.000 lb (25.000 kg). Khi AFRL tăng yêu cầu tải trọng lên 65.000 lb (29.000 kg), Boeing đã tiến hành thử nghiệm mô hình thu nhỏ 5% của một thiết kế thân rộng có trọng lượng cất cánh toàn tải 303.000 lb (137.000 kg) cùng khoang hàng rộng 158 inch tương đương kích thước của A400M. Mẫu máy bay này dự kiến sẽ vận hành bằng bốn động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt IAE V2533.[35]

Vào tháng 8 năm 2011, AFRL đã công bố những hình ảnh về mô hình thử nghiệm ý tưởng Speed Agile của Lockheed. Một mô hình thu nhỏ 23% đã trải qua các đợt thử nghiệm khí động học trong hầm gió để chứng minh hệ thống nâng lực kết hợp, hòa trộn giữa khung thân lực cản thấp với cấu trúc cơ khí đơn giản nhằm cắt giảm trọng lượng và cải thiện khí động học. Mô hình thử nghiệm có 4 động cơ, bao gồm hai động cơ turbofan Williams FJ44.[34][36] Vào ngày 26 tháng 3 năm 2013, Boeing đã được cấp bằng sáng chế cho thiết kế máy bay cánh xuôi sử dụng lực nâng tăng cường bằng luồng động lực của mình.[37]

Vào tháng 1 năm 2014, Bộ Tư lệnh Cơ động Đường không, Bộ Tư lệnh Trang bị Không quân và AFRL đã bước vào giai đoạn đầu xác định các yêu cầu cho chương trình máy bay vận tải thế hệ tiếp theo C-X[38] nhằm thay thế cả C-130 và C-17. Mẫu phi cơ này dự kiến sẽ được đưa vào sản xuất từ đầu những năm 2030 đến những năm 2040.[39]

Hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]

Quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]
C-130D cất cánh có tên lửa đẩy trợ lực (RATO) từ trạm DYE 2
KC-130F Hercules trên sàn đáp của USS Forrestal trong các đợt thử nghiệm tính phù hợp trên tàu sân bay năm 1963
Một chiếc KC-130F Hercules của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thực hiện các lượt cất và hạ cánh trên tàu sân bay Forrestal vào năm 1963: Chiếc phi cơ này hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Hàng không Hải quân.

Lô sản xuất đầu tiên của dòng máy bay C-130A bắt đầu được bàn giao từ năm 1956 cho Không đoàn Vận tải số 463 tại Căn cứ Không quân Ardmore (AFB), bang Oklahoma, và Không đoàn Vận tải số 314 tại Căn cứ Không quân Sewart, bang Tennessee. Sáu phi đoàn bổ sung đã được biên chế cho Sư đoàn Không quân số 322 ở châu Âu và Sư đoàn Không quân số 315 ở Viễn Đông. Các máy bay bổ sung khác được hoán cải phục vụ nhiệm vụ trinh sát điện tử và biên chế về Căn cứ Không quân Rhein-Main, Đức; trong khi các phiên bản RC-130A hoán cải được bàn giao cho bộ phận không ảnh và đo đạc lập bản đồ thuộc Cơ quan Vận tải Hàng không Quân sự (MATS). Mẫu C-130A chính thức đi vào biên chế Không quân Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1956.[40]

Vào tháng 1 năm 1957, Lockheed đã tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của chiếc C-130A (số hiệu 55-0021) được hoán cải cấu hình bánh-ván trượt kết hợp, có thể hoạt động từ các đường băng thông thường lẫn bề mặt phủ đầy băng tuyết. Vào tháng 2, Lực lượng Đặc nhiệm Slide (Task Force Slide) bắt đầu hoạt động tại Bemidji, Minnesota nhằm phát triển, thử nghiệm và chuẩn hóa các quy trình cho dòng máy bay sau này là C-130D. Các chuyến bay đã được thực hiện ngay trên mặt hồ đóng băng lân cận, bao gồm các bài bay cất cánh có tên lửa đẩy trợ lực (RATO). Lực lượng Đặc nhiệm Slide tiếp tục vận hành sang năm 1958 và tính đến cuối năm đó, 12 chiếc C-130A hoán cải (lúc này định danh là C-130D) đã được bàn giao cho Phi đoàn Vận tải số 61 nhằm hỗ trợ xây dựng hai trạm radar thuộc Hệ thống Cảnh báo Sớm Từ xa (DEW Line) trên dải băng Greenland.[41][42] Biến thể LC-130H hiện vẫn giữ kỷ lục là máy bay lớn nhất thế giới có khả năng hạ cánh trên băng tuyết bằng ván trượt.[43]

Năm 1958, một chiếc máy bay trinh sát C-130A-II của Phi đoàn Hỗ trợ số 7406 đã bị bốn tiêm kích MiG-17 của Liên Xô bắn hạ trên không phận Armenia dọc theo biên giới Thổ Nhĩ Kỳ - Armenia trong một nhiệm vụ thường lệ.[44]

Úc trở thành bên sử dụng máy bay Hercules ngoài Hoa Kỳ đầu tiên trên thế giới, với 12 chiếc được bàn giao từ cuối năm 1958. Không quân Hoàng gia Canada cũng là một trong những lực lượng tiếp nhận dòng máy bay này từ rất sớm với bốn chiếc mẫu B (định danh của Canada là CC-130 Mk I) vào tháng 10/tháng 11 năm 1960.[45]

Năm 1963, một chiếc Hercules đã lập và cho đến nay vẫn nắm giữ kỷ lục là máy bay lớn nhất và nặng nhất từng hạ cánh thành công trên một tàu sân bay.[46] Trong hai tháng 10 và 11 năm đó, một chiếc KC-130F của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (số hiệu BuNo 149798), được cho Trung tâm Thử nghiệm Hàng không Hải quân Hoa Kỳ mượn, đã thực hiện 29 lần tiếp đất rồi bay lên lại (touch-and-go), 21 lần hạ cánh dừng hẳn không cần cáp hãm đà (unarrested), và 21 lần cất cánh không cần máy phóng trợ lực trên tàu sân bay Forrestal ở nhiều mức tải trọng khác nhau. Phi công điều khiển, Trung úy (sau này là Chuẩn Đô đốc) James H. Flatley III thuộc Hải quân Hoa Kỳ, đã được trao tặng Huân chương Thập tự Bay Xuất sắc cho vai trò trong chuỗi thử nghiệm này. Các thử nghiệm thành công rực rỡ, nhưng máy bay sau đó không được triển khai thường trực theo phương thức này.[47] Flatley phủ nhận việc C-130 được thử nghiệm cho các chiến dịch tiếp tế hậu cần trên tàu sân bay (COD) hay vận chuyển vũ khí hạt nhân; ông cho biết mục đích chính là nhằm hỗ trợ máy bay do thám Lockheed U-2, vốn cũng đang được thử nghiệm trên tàu sân bay vào thời điểm đó.[48] Chiếc Hercules dùng trong đợt thử nghiệm này, từng phục vụ trong Phi đoàn Tiếp dầu Trên không số 352 của Thủy quân lục chiến (VMGR-352) cho đến năm 2005, hiện là một phần trong bộ sưu tập của Bảo tàng Quốc gia Hàng không Hải quân tại Căn cứ Không quân Hải quân Pensacola, bang Florida.[49]

Năm 1964, các phi hành đoàn C-130 thuộc Tập đoàn Tác chiến số 6315 tại Căn cứ Không quân Naha, Okinawa, bắt đầu thực hiện các nhiệm vụ điều khiển tiền phương trên không (FAC hoặc thả pháo sáng) dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào để yểm trợ cho các máy bay tấn công của Không quân Hoa Kỳ. Đến tháng 4 năm 1965, nhiệm vụ được mở rộng sang miền Bắc Việt Nam, nơi các phi hành đoàn C-130 dẫn đầu các biên đội máy bay ném bom Martin B-57 Canberra trong các đợt trinh sát/tập kích ban đêm đánh phá các tuyến tiếp tế vào miền Nam. Đầu năm 1966, Dự án Blind Bat/Lamplighter được thành lập tại Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Ubon, Thái Lan. Sau khi chuyển đến Ubon, nhiệm vụ đã phát triển thành nhiệm vụ FAC bốn động cơ, trong đó tổ bay C-130 tìm kiếm mục tiêu và chỉ thị tọa độ cho máy bay cường kích tới oanh kích. Một nhiệm vụ ít được biết đến khác của các tổ bay C-130 xuất phát từ Naha là Chiến dịch Commando Scarf (hoặc Chiến dịch Commando Lava), sử dụng máy bay rải các hợp chất hóa học xuống các cung đường Trường Sơn ở Lào nhằm gây sạt lở đất và bùn lầy với hy vọng cắt đứt các tuyến đường vận tải bằng xe cơ giới.[50]

Vào tháng 11 năm 1964, ở bên kia bán cầu, các máy bay C-130E thuộc Không đoàn Vận tải số 464 (được tăng cường cho Sư đoàn Không quân số 322 tại Pháp) đã tham gia Chiến dịch Dragon Rouge, một trong những chiến dịch giải cứu kịch tính nhất lịch sử tại Congo thuộc Bỉ cũ. Sau khi phiến quân Simba bắt giữ các cư dân da trắng tại thành phố Stanleyville làm con tin, Hoa Kỳ và Bỉ đã phối hợp triển khai chiến dịch giải cứu chung, sử dụng các máy bay C-130 để nhảy dù, đổ bộ đường không và vận chuyển lực lượng lính dù Bỉ đến giải cứu con tin. Hai đợt bay đã được thực hiện, một đợt tại Stanleyville và một đợt khác tại Paulis trong tuần lễ Tạ ơn.[51] Chiến dịch nổi tiếng trên khắp các mặt báo này đã mang lại giải thưởng Cúp MacKay danh giá lần đầu tiên cho các phi hành đoàn C-130.[52][53]

Trong cuộc Chiến tranh Ấn Độ – Pakistan 1965, Phi đoàn Vận tải số 6 của Không quân Pakistan đã hoán cải các máy bay C-130B của họ thành máy bay ném bom, chở tới 20.000 pound (9.100 kg) bom trên các giá pallet. Những chiếc máy bay ném bom tự chế này được dùng để tấn công các mục tiêu của Ấn Độ như cầu cống, trận địa pháo hạng nặng, đội hình xe tăng và các vị trí tập trung quân, dù không mang lại nhiều hiệu quả tác chiến.[54][55][56]

Máy bay C-130 Hercules trên mặt đất tại Khâm Đức
C-130 Hercules được sử dụng trong Trận Khâm Đức vào năm 1968, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam buộc các lực lượng do Mỹ chỉ huy phải rút bỏ Căn cứ Lực lượng Đặc biệt Khâm Đức.

Vào tháng 10 năm 1968, các máy bay C-130B thuộc Không đoàn Vận tải Chiến thuật số 463 đã thả một cặp bom M-121 nặng 10,000 pound (4,536 kg), vốn được phát triển ban đầu cho máy bay ném bom khổng lồ Convair B-36 Peacemaker nhưng chưa từng được sử dụng. Lục quân và Không quân Hoa Kỳ đã hồi sinh những vũ khí khổng lồ này nhằm phát quang nhanh các bãi đáp trực thăng (LZ), và đến đầu năm 1969, Không đoàn 463 bắt đầu triển khai các nhiệm vụ Commando Vault. Mặc dù mục đích ban đầu của Commando Vault là dọn bãi đáp, chúng cũng được dùng để ném bom các căn cứ hậu cần và nhiều mục tiêu khác của đối phương.[57]

Trong giai đoạn cuối thập niên 1960, Hoa Kỳ rất muốn thu thập thông tin về năng lực hạt nhân của Trung Quốc. Sau khi Phi đoàn Hắc Miêu thất bại trong việc thả các khối cảm biến trinh sát gần Khu thử nghiệm Vũ khí Hạt nhân La Bố Ngạc bằng máy bay U-2, CIA đã xây dựng kế hoạch mang tên "Heavy Tea" để thả hai pallet cảm biến chạy bằng pin gần căn cứ này. Để thực hiện nhiệm vụ, một phi hành đoàn của Phi đoàn Hắc Bát đã được huấn luyện tại Mỹ để lái vận tải cơ C-130 Hercules. Tổ bay 12 người do Đại tá Tôn Bối Trân chỉ huy đã cất cánh từ Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Takhli trên một chiếc C-130E không mang số hiệu của Không quân Hoa Kỳ vào ngày 17 tháng 5 năm 1969. Bay trong 6 tiếng rưỡi ở độ cao thấp trong đêm tối, họ đã tới khu vực mục tiêu và thả các khối pallet cảm biến bằng dù gần huyện An Tây thuộc tỉnh Cam Túc. Sau thêm 6 tiếng rưỡi bay thấp quay về, họ đã hạ cánh an toàn tại Takhli. Các cảm biến đã hoạt động và truyền tải dữ liệu về vệ tinh tình báo Mỹ suốt sáu tháng trước khi cạn pin. Phía Trung Quốc đã tiến hành hai vụ thử hạt nhân vào ngày 22 và 29 tháng 9 năm 1969 trong thời gian các pallet cảm biến này vận hành. Một nhiệm vụ tương tự khác dự kiến mang tên Chiến dịch Golden Whip đã được lên kế hoạch nhưng bị hủy bỏ vào năm 1970.[58] Chiếc máy bay sử dụng trong nhiệm vụ này nhiều khả năng là C-130E mang số hiệu 64-0506 hoặc 64-0507 (số xuất xưởng 382-3990 và 382–3991). Hai chiếc phi cơ này từng được bàn giao cho hãng hàng không ngầm Air America vào năm 1964.[59] Sau khi được chuyển trả về cho Không quân Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ năm 1966 đến 1970, chúng được gán lại số hiệu của các máy bay C-130 đã bị rơi trước đó: chiếc 64-0506 mang số hiệu 62–1843 (chiếc C-130E từng rơi ở Việt Nam ngày 20 tháng 12 năm 1965), và chiếc 64-0507 mang số hiệu 63–7785 (chiếc C-130E từng rơi ở Việt Nam ngày 17 tháng 6 năm 1966).[60]

Mẫu A tiếp tục phục vụ trong suốt Chiến tranh Việt Nam, nơi các máy bay thuộc bốn phi đoàn tại Căn cứ Không quân Naha (Okinawa) và một phi đoàn tại Căn cứ Không quân Tachikawa (Nhật Bản) đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bao gồm cả việc thực hiện các phi vụ tác chiến đặc biệt tối mật như nhiệm vụ thả pháo sáng/FAC BLIND BAT và nhiệm vụ rải truyền đơn Fact Sheet trên không phận Lào và miền Bắc Việt Nam. Mẫu A cũng được viện trợ cho Không lực Việt Nam Cộng hòa theo khuôn khổ chương trình Việt Nam hóa chiến tranh vào giai đoạn cuối của cuộc chiến và trang bị cho ba phi đoàn đóng tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất. Bên vận hành cuối cùng trên thế giới là Không quân Honduras, lực lượng vẫn còn duy trì một trong năm chiếc Hercules mẫu A (số hiệu FAH 558, c/n 3042) tính đến tháng 10 năm 2009.[61] Khi Chiến tranh Việt Nam dần khép lại, các máy bay mẫu B thuộc Không đoàn Vận tải/Vận tải Chiến thuật số 463 và mẫu A thuộc Không đoàn Vận tải Chiến thuật số 374 đã được chuyển giao trở lại Hoa Kỳ, nơi phần lớn được biên chế cho các đơn vị Không quân Dự bị và Vệ binh Quốc gia Không quân.

Lính Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ từ máy bay C-130 tại Căn cứ Không quân Đà Nẵng năm 1965
Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ rời khỏi các máy bay vận tải C-130 tại Căn cứ không quân Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 3 năm 1965

Một vai trò nổi bật khác của mẫu B là trong Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, nơi những chiếc Hercules ban đầu mang định danh GV-1 đã thay thế dòng C-119. Sau khi các máy bay C-130D của Không quân Hoa Kỳ chứng minh được hiệu quả vượt trội tại Nam Cực, Hải quân Hoa Kỳ đã mua một số máy bay mẫu B gắn ván trượt và định danh là LC-130. Các máy bay trinh sát điện tử C-130B-II được vận hành theo chương trình mang tên SUN VALLEY, chủ yếu xuất phát từ Căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản. Tất cả đều được khôi phục trở lại cấu hình máy bay chở hàng C-130B tiêu chuẩn sau khi được thay thế vai trò trinh sát bởi các máy bay khác.[cần dẫn nguồn]

C-130 cũng được sử dụng trong cuộc tập kích Entebbe năm 1976, trong đó các lực lượng biệt kích Israel đã thực hiện một chiến dịch táo bạo bất ngờ để giải cứu 103 hành khách trên một chuyến bay bị các phần tử khủng bố người Palestine và người Đức bắt cóc tại Sân bay Entebbe, Uganda. Lực lượng giải cứu—gồm 200 binh sĩ, xe jeep và một chiếc Mercedes-Benz màu đen (nhằm mô phỏng xe nguyên thủ của nhà độc tài Uganda Idi Amin)—đã bay qua quãng đường hơn 2.200 nmi (4.074 km; 2.532 mi) hầu như hoàn toàn ở độ cao dưới 100 ft (30 m) từ Israel đến Entebbe bằng bốn máy bay Hercules của Không quân Israel mà không cần tiếp dầu trên không (trên đường về, máy bay đã tiếp nhiên liệu tại Nairobi, Kenya).[62]

Trong cuộc Chiến tranh Falkland (tiếng Tây Ban Nha: Guerra de las Malvinas) năm 1982, các máy bay C-130 của Không quân Argentina đã thực hiện các chuyến bay tiếp tế ban đêm mạo hiểm nhằm vượt qua phòng tuyến phong tỏa để chi viện cho lực lượng đồn trú Argentina trên Quần đảo Falkland. Chúng cũng thực hiện các chuyến bay trinh sát biển vào ban ngày. Một chiếc đã bị máy bay Sea Harrier của Hải quân Hoàng gia Anh bắn hạ bằng tên lửa AIM-9 Sidewinder và pháo, khiến toàn bộ 7 thành viên phi hành đoàn thiệt mạng. Argentina cũng vận hành hai máy bay tiếp dầu KC-130 trong cuộc chiến nhằm tiếp nhiên liệu cho cả các máy bay Douglas A-4 SkyhawkDassault-Breguet Super Étendard của Hải quân; một số chiếc C-130 thậm chí còn được cải biến làm máy bay ném bom với các giá treo bom dưới cánh và đã tấn công tàu chở dầu VLCC Hercules, khiến con tàu hư hỏng nặng và bị đánh chìm gần Florianópolis, Brasil.[63] Phía Anh cũng sử dụng các máy bay C-130 của RAF để phục vụ công tác đảm bảo hậu cần.[64]

C-130T Fat Albert của Blue Angels thực hiện cất cánh có tên lửa hỗ trợ
C-130T Fat Albert của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ biểu diễn cất cánh có trợ lực tên lửa (JATO)

Trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 (Chiến dịch Bão táp Sa mạc), C-130 Hercules được Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ vận hành tác chiến, cùng với không quân các nước Úc, New Zealand, Ả Rập Xê Út, Hàn Quốc và Vương quốc Anh.[cần dẫn nguồn] Biến thể MC-130 Combat Talon đã thả những quả bom BLU-82 "Daisy Cutter" đầu tiên trong chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1991, chủ yếu để dọn sạch các bãi đáp và quét sạch các bãi mìn.[cần dẫn nguồn] Vũ khí kế nhiệm của nó, bom GBU-43/B MOAB (Massive Ordnance Air Blast), được phát triển vào năm 2003 và lần đầu tiên được sử dụng tác chiến thực tế từ máy bay MC-130 tại Afghanistan vào tháng 4 năm 2017.

C-130 Hercules hạ cánh trên đường băng đất
Một chiếc C-130 Hercules thực hiện cú hạ cánh chiến thuật trên đường băng đất dã chiến tại Bắc Carolina, Hoa Kỳ.

Kể từ năm 1992, hai chiếc máy bay C-130 mang tên Fat Albert đã lần lượt đóng vai trò là máy bay hỗ trợ hậu cần cho đội bay biểu diễn Blue Angels của Hải quân Hoa Kỳ. Chiếc Fat Albert I là một mẫu TC-130G (số hiệu 151891), nguyên là máy bay truyền tin TACAMO của Hải quân thuộc Phi đoàn Trinh sát Hàng không Hạm đội Ba (VQ-3) trước khi chuyển giao cho Blue Angels,[65] trong khi Fat Albert II là một chiếc C-130T (số hiệu 164763).[66] Mặc dù Fat Albert hỗ trợ cho một phi đoàn Hải quân, nó lại do Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ vận hành và toàn bộ tổ bay đều là quân nhân Thủy quân lục chiến. Tại một số triển lãm hàng không, Fat Albert thường tham gia bay trình diễn lượn qua lễ đài. Cho đến năm 2009, chiếc máy bay này còn biểu diễn các pha cất cánh có trợ lực bằng rocket (JATO); các màn biểu diễn này sau đó đã dừng lại do nguồn cung rocket ngày càng cạn kiệt.

Mẫu pháo hạm bay AC-130 cũng nắm giữ kỷ lục về chuyến bay liên tục dài nhất của dòng C-130. Từ ngày 22 đến 24 tháng 10 năm 1997, hai chiếc AC-130U đã bay liên tục 36 giờ không nghỉ từ Sân bay Hurlburt, bang Florida tới Sân bay quốc tế Daegu, Hàn Quốc, sau khi được máy bay tiếp dầu KC-135 tiếp nhiên liệu trên không 7 lần. Chuyến bay kỷ lục này đã phá kỷ lục bay dài nhất trước đó hơn 10 giờ, và hai chiếc pháo hạm bay đã nhận vào tổng cộng 410.000 lb (190.000 kg) nhiên liệu. AC-130 đã tham gia vào mọi chiến dịch quân sự lớn của Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh Việt Nam, ngoại trừ Chiến dịch El Dorado Canyon (cuộc tập kích vào Libya năm 1986).[67]

Trong cuộc tấn công Afghanistan năm 2001 và các hoạt động hỗ trợ sau đó cho Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (Chiến dịch Tự do Bền vững), C-130 Hercules đã được lực lượng không quân các nước Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Ý, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Romania, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đưa vào tác chiến thực địa.[cần dẫn nguồn]

Trong Cuộc tấn công Iraq 2003, C-130 Hercules được Úc, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ sử dụng tác chiến. Sau cuộc tấn công ban đầu, các nước vận hành C-130 thuộc Lực lượng đa quốc gia tại Iraq tiếp tục sử dụng đội bay của mình để hỗ trợ các hoạt động quân sự tại đây.[49]

Từ năm 2004, Không quân Pakistan đã triển khai C-130 trong Chiến tranh Tây Bắc Pakistan. Một số biến thể được gắn thêm các cụm cảm biến hồng ngoại nhìn phía trước (FLIR Systems Star Safire III EO/IR) dạng cầu để bám bắt mục tiêu phiến quân tầm gần.[68]

Năm 2017, Pháp và Đức tuyên bố sẽ thành lập một phi đoàn vận tải hàng không chung đóng tại Căn cứ Không quân Evreux, Pháp, với quy mô gồm 10 máy bay C-130J, trong đó 6 chiếc do phía Đức vận hành. Năng lực tác chiến ban đầu đạt được vào năm 2021, và toàn bộ năng lực vận hành dự kiến hoàn tất vào năm 2024.[69]

Không quân Argentina hiện có 5 máy bay C-130H thuộc gói viện trợ an ninh do Hoa Kỳ tài trợ. Hoa Kỳ đã cho Không quân Argentina thuê các máy bay này thông qua Lực lượng Vệ binh Quốc gia Không quân Georgia từ tháng 6 năm 2023.[70]

Vụ tràn dầu Deepwater Horizon

[sửa | sửa mã nguồn]
C-130 Hercules phun hóa chất phân tán dầu trên Vịnh Mexico
Một chiếc C-130 Hercules của Không quân Hoa Kỳ thuộc Không đoàn Vận tải số 910, Trạm Dự bị Không quân Youngstown-Warren, bang Ohio, phun hóa chất phân tán dầu xuống Vịnh Mexico vào ngày 9 tháng 5 năm 2010.

Trong gần hai thập kỷ, Phi đoàn Vận tải số 757 thuộc Không đoàn Vận tải số 910 của Không quân Hoa Kỳ và Tuần duyên Hoa Kỳ đã thường xuyên tham gia các đợt diễn tập ứng phó sự cố tràn dầu nhằm đảm bảo quân đội Hoa Kỳ có đủ năng lực ứng phó trong trường hợp khẩn cấp quốc gia. Phi đoàn Vận tải số 757 vận hành hệ thống phun rải trên không bằng máy bay cánh cố định duy nhất của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, vốn được EPA cấp chứng nhận để phun thuốc trừ sâu trên các khu đất của Bộ Quốc phòng, nhằm phun hóa chất phân tán dầu xử lý vụ tràn dầu Deepwater Horizon trên Vịnh Mexico vào năm 2010.[71]

Trong chiến dịch kéo dài 5 tuần, các phi hành đoàn đã thực hiện 92 chuyến bay và phun rải trên diện tích khoảng 30.000 mẫu Anh (hơn 12.000 ha) với gần 149.000 gallon hóa chất phân tán để phá vỡ các mảng dầu loang. Chiến dịch Deepwater Horizon đánh dấu lần đầu tiên Hoa Kỳ triển khai năng lực phân tán dầu trên không của Không đoàn Vận tải số 910—chương trình phun rải trên không diện rộng bằng máy bay cánh cố định duy nhất của lực lượng—vào một sự cố tràn dầu thực tế có tầm quan trọng cấp quốc gia.[72] Bộ Tư lệnh Không quân Dự bị sau đó thông báo Không đoàn Vận tải số 910 đã được trao tặng Giải thưởng Đơn vị Xuất sắc của Không quân nhờ thành tích nổi bật từ ngày 28 tháng 4 năm 2010 đến ngày 4 tháng 6 năm 2010.[73]

Bão Harvey

[sửa | sửa mã nguồn]
Phi hành đoàn Vệ binh Quốc gia Không quân Illinois bốc hàng cứu trợ bão Harvey lên chiếc C-130
Các phi hành đoàn thuộc Vệ binh Quốc gia Không quân Illinois tham gia hỗ trợ cứu trợ bão Harvey đang bốc hàng hóa cứu trợ lên một chiếc C-130.

Các máy bay C-130 đóng quân tạm thời tại Kelly Field đã thực hiện nhiệm vụ phun thuốc diệt muỗi trên không tại các khu vực thuộc miền đông bang Texas bị tàn phá bởi Bão Harvey. Nhiệm vụ đặc biệt này đã xử lý diện tích hơn 2,3 triệu mẫu Anh (hơn 930.000 ha) theo chỉ đạo của Cơ quan Quản lý Khẩn cấp Liên bang (FEMA) và Cơ quan Dịch vụ Y tế Bang Texas (DSHS) nhằm hỗ trợ công tác phục hồi sau thảm họa thông qua việc khống chế sự gia tăng đột biến của các loài côn trùng gây hại sinh sôi từ các vùng nước đọng ngập úng diện rộng. Không đoàn Vận tải số 910 là đơn vị vận hành năng lực phun rải trên không duy nhất của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ nhằm kiểm soát quần thể côn trùng gây hại, triệt phá các loài thực vật xâm lấn ngoài ý muốn, cũng như phân tán các vết dầu loang trên các vùng nước lớn.[74]

Đội bay phun rải hiện cũng có khả năng hoạt động vào ban đêm nhờ các thiết bị nhìn đêm, qua đó nâng công suất phun tối ưu từ khoảng 60.000 mẫu Anh/ngày lên 190.000 mẫu Anh/ngày. Không quân Dự bị Hoa Kỳ cho biết các phi vụ phun rải thường được thực hiện vào lúc hoàng hôn và ban đêm khi các loài côn trùng gây hại hoạt động mạnh nhất.[75]

Chữa cháy trên không

[sửa | sửa mã nguồn]
C-130E phun chất chống cháy từ hệ thống MAFFS
Một chiếc C-130E trang bị hệ thống MAFFS-1 đang phun chất làm chậm cháy.

Vào đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đã cấp phép thành lập Hệ thống Chữa cháy Mô-đun trên Không (MAFFS), một chương trình hợp tác giữa Cơ quan Kiểm lâm Hoa KỳBộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Thiết bị lắp đặt dạng trượt (roll-on/roll-off) này cho phép các máy bay C-130 tạm thời biến thành máy bay chữa cháy dung tích 3.000 gallon để chữa cháy rừng khi nhu cầu thực địa vượt quá khả năng đáp ứng của đội máy bay chữa cháy tư nhân và công cộng sẵn có.[76]

Vào cuối những năm 1980, 22 chiếc C-130A đã loại biên của Không quân Hoa Kỳ được rút khỏi các kho lưu trữ và chuyển giao cho Cơ quan Kiểm lâm Hoa Kỳ; cơ quan này sau đó đã chuyển tiếp chúng cho sáu công ty tư nhân để hoán cải thành máy bay chữa cháy. Một trong những chiếc C-130 này đã rơi vào tháng 6 năm 2002 khi đang làm nhiệm vụ gần Walker, California. Vụ tai nạn được xác định là do cánh máy bay bị gãy rời vì các vết nứt do mỏi kim loại dưới ứng suất cao, dẫn đến việc đình chỉ bay toàn bộ phi đội máy bay chữa cháy cỡ lớn.[77] Sau quá trình kiểm tra toàn diện, Cơ quan Kiểm lâm và Cục Quản lý Đất đai đã từ chối gia hạn hợp đồng thuê đối với 9 chiếc C-130A do lo ngại về tuổi thọ của các khung thân máy bay vốn hoạt động từ những năm 1950, cũng như khả năng chịu tải của chúng trước các lực tác động cực lớn phát sinh trong quá trình chữa cháy từ trên không.[78]

Gần đây hơn, một hệ thống phun rải chất làm chậm cháy trên không cải tiến mang tên RADS XL đã được công ty Coulson Aviation (Mỹ) phát triển. Hệ thống này bao gồm các máy bay C-130H/Q được trang bị hệ thống xả tích hợp dưới sàn khoang lái, kết hợp cùng một bồn chứa nước có thể tháo rời dung tích 3.500 hoặc 4.000 gallon. Tổ hợp hoàn chỉnh này đã được FAA cấp chứng chỉ phê chuẩn.[79] Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, chiếc Tanker 134 của Coulson, một chiếc EC-130Q mang số đăng ký N134CG, đã bị rơi trong khi thực hiện nhiệm vụ chữa cháy trên không tại New South Wales, Úc, khiến toàn bộ ba thành viên phi hành đoàn thiệt mạng. Chiếc phi cơ cất cánh từ Căn cứ Không quân RAAF Richmond và đang tham gia hỗ trợ các hoạt động chữa cháy trong mùa cháy rừng 2019–2020 tại Úc.[80]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
C-130A của Không lực Việt Nam Cộng hòa trên mặt đất
C-130A của Không lực Việt Nam Cộng hòa
Một chiếc C-130B của Không quân Bangladesh. Đây là một trong những chiếc C-130B cuối cùng và nằm trong số những chiếc phi cơ lâu đời nhất còn phục vụ trong quân đội
C-130E Hercules của Không quân Iran đang bay
C-130E của Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran
C-130T Hercules của Hải quân Mỹ đỗ trên sân bay
C-130T của Hải quân Hoa Kỳ, năm 2013
HC-130J của Tuần duyên Hoa Kỳ đang bay
Một chiếc HC-130J của Tuần duyên Hoa Kỳ
C-130K của Không quân Mexico trên mặt đất
Một chiếc C-130K của Không quân Mexico
Máy bay JC-130 thu hồi viên nang chứa phim từ vệ tinh trinh sát đang bung dù
Máy bay JC-130 của Mỹ đang thu hồi một khoang chứa phim từ vệ tinh trinh sát đang bung dù.
C-130J-30 của Không quân Hoàng gia Úc trên mặt đất tại Point Cook
C-130J-30 của RAAF tại Point Cook, 2006

Các biến thể quân sự tiêu biểu của C-130 bao gồm:

C-130A
Mẫu sản xuất thương mại đầu tiên trang bị bốn động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-11/9. 219 chiếc đã được đặt hàng và các đợt bàn giao cho Không quân Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 12 năm 1956.
C-130B
Biến thể trang bị bốn động cơ Allison T56-A-7. 134 chiếc đã được đặt hàng và đưa vào biên chế Không quân Hoa Kỳ từ tháng 5 năm 1959.
C-130E
Sử dụng động cơ tương tự C-130B nhưng được bổ sung hai thùng dầu phụ gắn ngoài 1,290 gal Mỹ (4,88 L; 1,074 gal Anh) và tăng trọng lượng cất cánh tối đa. Ra mắt vào tháng 8 năm 1962 với 389 chiếc được đặt hàng.
C-130F/G
Các biến thể do Hải quân Hoa Kỳ mua sắm nhằm phục vụ nhiệm vụ tiếp nhiên liệu cho Thủy quân lục chiến cùng các hoạt động vận tải/hỗ trợ khác.
C-130H
Tương đương mẫu C-130E nhưng trang bị động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-15 mạnh mẽ hơn. Ra mắt vào tháng 6 năm 1964 với 308 chiếc được đặt hàng.
C-130K
Định danh dành cho các máy bay Hercules C1/W2/C3 của RAF (các phiên bản C-130J trong biên chế RAF mang tên Hercules C.4 và Hercules C.5).
C-130T
Các biến thể cải tiến do Hải quân Hoa Kỳ mua sắm cho Thủy quân lục chiến để làm nhiệm vụ tiếp nhiên liệu và các hoạt động vận tải/hỗ trợ khác.
C-130A-II Dreamboat
Phiên bản trinh sát điện tử/tình báo tín hiệu (ELINT/SIGINT) đời đầu.[81]
C-130J Super Hercules
Máy bay vận tải chiến thuật với động cơ mới, hệ thống điện tử hàng không và các hệ thống cập nhật hiện đại.
C-130B BLC
Phiên bản hoán cải thử nghiệm duy nhất từ khung thân C-130B số hiệu 58–0712, được sửa đổi gắn thêm hai vỏ máy sinh khí Allison YT56 dưới mỗi đầu cánh ngoài để cung cấp khí trích áp suất cao cho toàn bộ bề mặt lái và cánh tà.[82]
AC-130A/E/H/J/U/W
Các biến thể pháo hạm bay (gunship).
C-130D/D-6
Phiên bản trang bị ván trượt tuyết phục vụ các chiến dịch tại vùng băng tuyết của Không quân Hoa Kỳ / Vệ binh Quốc gia Không quân.
CC-130E/H/J Hercules
Định danh dành cho các máy bay Hercules của Lực lượng Vũ trang Canada / Không quân Hoàng gia Canada.[83] Không quân Hoa Kỳ từng sử dụng định danh CC-130J để phân biệt biến thể C-130J tiêu chuẩn với biến thể C-130J "thân kéo dài" (tên thương mại của công ty là C-130J-30). CC-130H(T) là biến thể máy bay tiếp dầu của Canada cải biến từ KC-130H.[84]
C-130M
Định danh do Không quân Brasil sử dụng cho các máy bay C-130H được nâng cấp nội địa.[85]
DC-130A/E/H
Biến thể điều khiển máy bay không người lái của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ.
E-130J
Máy bay chỉ huy truyền tin hạt nhân TACAMO tương lai của Hải quân Hoa Kỳ.
EC-130
EC-130E/J Commando Solo – Phiên bản phục vụ tác chiến tâm lý của Không quân Hoa Kỳ / Vệ binh Quốc gia Không quân.
EC-130E Trung tâm Chỉ huy và Kiểm soát Chiến trường Trên không (ABCCC) – Máy bay kiểm soát tấn công không đối đất theo quy trình tác chiến của Không quân Hoa Kỳ, đồng thời cung cấp thông tin cập nhật mối đe dọa gần thời gian thực (NRT).
EC-130E Rivet Rider – Máy bay chiến tranh tâm lý phát thanh truyền hình trên không.
EC-130H Compass Call – Phục vụ chiến tranh điện tử và tấn công điện tử.[86]
EC-130Q – Máy bay thông tin liên lạc hạt nhân TACAMO của Hải quân Hoa Kỳ.
EC-130V – Biến thể cảnh báo sớm và kiểm soát trên không (AEW&C) được USCG sử dụng cho các nhiệm vụ chống buôn lậu ma túy.[87]
GC-130
Khung thân máy bay bị đình bay vĩnh viễn dùng cho mục đích hướng dẫn, huấn luyện kỹ thuật mặt đất.
HC-130
HC-130B/E/H – Mẫu tìm kiếm cứu nạn trong chiến đấu (CSAR) đời đầu.
HC-130P/N Combat King – Máy bay tiếp dầu trên không kiêm tìm kiếm cứu nạn chiến đấu của Không quân Hoa Kỳ.
HC-130J Combat King II – Máy bay tiếp dầu kiêm tìm kiếm cứu nạn chiến đấu thế hệ tiếp theo.
HC-130H/J – Phiên bản giám sát tầm xa kiêm tìm kiếm cứu nạn của Tuần duyên Hoa Kỳ, cùng nhiệm vụ phun hóa chất khử trùng và vận tải đường không của USAFR.
JC-130
Phiên bản hoán cải tạm thời phục vụ bay thử nghiệm; thường dùng để chỉ các máy bay được gắn thiết bị thu hồi giữa không trung phục vụ việc đón bắt các khoang kín hồi quyển vũ trụ và máy bay không người lái.
KC-130F/R/T/J
Máy bay tiếp dầu trên không kiêm vận tải chiến thuật của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
LC-130F/H/R
Phiên bản trang bị ván trượt tuyết của Không quân Hoa Kỳ / Vệ binh Quốc gia Không quân phục vụ hoạt động hỗ trợ tại Bắc CựcNam Cực; các phiên bản LC-130F và R trước đây từng do Hải quân Hoa Kỳ vận hành.
MC-130
MC-130E/H Combat Talon I/II – Biến thể thâm nhập/rút quân phục vụ tác chiến đặc biệt.
MC-130W Combat Spear/Dragon Spear – Biến thể tiếp dầu kiêm pháo hạm bay tác chiến đặc biệt.[88]
MC-130P Combat Shadow – Máy bay tiếp dầu tác chiến đặc biệt – toàn bộ máy bay hoạt động đều đã được chuyển đổi sang chuẩn HC-130P.
MC-130J Commando II (trước đây là Combat Shadow II) – Máy bay tiếp dầu tác chiến đặc biệt của Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Không quân.[89]
YMC-130H – Máy bay hoán cải theo khuôn khổ Chiến dịch Credible Sport phục vụ kế hoạch giải cứu con tin lần hai trong Khủng hoảng con tin Iran.
NC-130
Phiên bản hoán cải vĩnh viễn phục vụ hoạt động bay thử nghiệm.
PC-130/C-130-MP
Biến thể tuần tra hàng hải.
RC-130A/S
Máy bay giám sát phục vụ trinh sát đường không.
SC-130J Sea Herc
Đề xuất biến thể tuần tra biển dựa trên C-130J, được thiết kế cho nhiệm vụ giám sát bờ biển và tác chiến chống ngầm.[90][91]
TC-130
Phiên bản huấn luyện phi hành đoàn.
VC-130H
Phiên bản chuyên cơ vận tải VIP.
WC-130A/B/E/H/J
Biến thể trinh sát khí tượng ("Hurricane Hunter") của USAF / Phi đoàn Trinh sát Khí tượng số 53 thuộc Bộ Tư lệnh Không quân Dự bị hỗ trợ cho Trung tâm Bão Quốc gia thuộc Cơ quan Thời tiết Quốc gia.
C-130HE
Phiên bản tác chiến điện tử dựa trên C-130H dành cho Không quân Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).[92]
C-130(EM/BM) Erciyes
Chương trình hiện đại hóa Erciyes của Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm việc nâng cấp hệ thống điện tử hàng không cho các biến thể C-130B/E. Trong phạm vi nâng cấp, máy bay được trang bị Buồng lái Kỹ thuật số (bốn màn hình đa chức năng hiển thị bản đồ số di động - MFD), hai Bộ Hiển thị Trung tâm (CDU) và hai Máy tính Điều khiển Trung tâm đa chức năng tương thích với các tiêu chuẩn dẫn đường quốc tế, cùng với Máy tính Nhiệm vụ đa năng có năng lực tác chiến cao, Hệ thống Quản lý Bay (FMS), hệ thống liên kết dữ liệu Link-16, Bộ Lập kế hoạch Nhiệm vụ Mặt đất tương thích với Hệ thống Thông tin Không quân, cùng các hệ thống hiển thị và chiếu sáng tương thích với kính nhìn đêm. Các trang thiết bị khác bao gồm GPS, đồng hồ chỉ thị, hệ thống cảnh báo chống va chạm, radar thời tiết/đường không, hệ thống dẫn đường dân dụng và quân sự tiên tiến, đèn chiếu sáng tàng hình ban đêm cho nhiệm vụ quân sự, hộp đen ghi âm giọng nói, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống lái tự động tiên tiến (dân dụng và quân sự), các hệ thống tương thích mạng tác chiến quân sự, bản đồ số di động và hệ thống lập kế hoạch tác chiến mặt đất.[93]
B.L.8
(tiếng Thái: บ.ล.๘) Tên định danh của Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Thái Lan dành cho mẫu C-130H.[94]
B.L.8A
(tiếng Thái: บ.ล.๘ก) Tên định danh của Các Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Thái Lan dành cho mẫu C-130H-30.[94]
TP 84
Định danh của Không quân Thụy Điển dành cho dòng C-130H.

Bên vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ thế giới hiển thị các quốc gia hiện đang và từng vận hành C-130 Hercules trong quân đội
Các bên vận hành quân sự:   Hiện tại   Trước đây
C-130H của Không quân Trung Hoa Dân Quốc đang bay
Một chiếc C-130H của Không quân Trung Hoa Dân Quốc, năm 2011
C-130H của Không quân Philippines trên mặt đất
Một chiếc C-130H của Không quân Philippines, năm 2021
C-130H của Không quân Hoàng gia New Zealand tại Triển lãm Hàng không Quốc tế Úc 2019
Một chiếc C-130H của Không quân Hoàng gia New Zealand, năm 2019

Bên từng vận hành

Thông số kỹ thuật (C-130H)

[sửa | sửa mã nguồn]
Các đồng hồ và cần điều khiển trong buồng lái C-130H Hercules
Buồng lái của C-130H Hercules
Nhân viên bốc dỡ C-130 quan sát qua cửa kính vòm
Nhân viên bốc dỡ của C-130 quan sát qua cửa sổ vòm quan sát
Máy bay Hercules phóng mồi bẫy nhiệt theo hình dạng cánh thiên thần
Một chiếc Hercules phóng mồi bẫy nhiệt, đôi khi được gọi là Angel Flares (Cánh thiên thần) do hình mẫu phân tán đặc trưng
Bên trong khoang hàng máy bay C-130 của Không quân Thụy Điển
Khoang chứa hàng của một chiếc C-130 thuộc Không quân Thụy Điển

Dữ liệu lấy từ Bảng dữ liệu C-130 Hercules của USAF,[96] International Directory of Military Aircraft,[97] Complete Encyclopedia of World Aircraft,[98]Encyclopedia of Modern Military Aircraft.[99]

Đặc tính tổng quát

  • Kíp lái: 5 (2 phi công, sĩ quan điều hướng/hoa tiêu, kỹ thuật viên và nhân viên bốc dỡ)
  • Sức chứa: 42.000 lb (19.000 kg) tải trọng
    • Khoang chứa hàng C-130E/H/J: dài 40 ft (12,19 m); rộng 9 ft 11 in (3,02 m); cao 9 ft (2,74 m). Cửa dốc phía sau: dài 123 in (3,12 m); rộng 119 in (3,02 m)
    • Khoang chứa hàng C-130J-30: dài 55 ft (16,76 m); rộng 9 ft 11 in (3,02 m); cao 9 ft (2,74 m). Cửa dốc phía sau: dài 123 inch (3,12 m); rộng 119 in (3,02 m)
    • 92 hành khách hoặc
    • 64 lính đổ bộ đường không hoặc
    • 74 bệnh nhân nằm cáng cùng 5 nhân viên y tế hoặc
    • 6 pallet hàng chuẩn hoặc
    • 2–3 xe Humvee hoặc
    • 2 xe thiết giáp chở quân M113
    • 1 pháo tự hành CAESAR
  • Chiều dài: 97 ft 9 in (29,79 m)
  • Sải cánh: 132 ft 7 in (40,41 m)
  • Chiều cao: 38 ft 3 in (11,66 m)
  • Diện tích cánh: 1.745 foot vuông (162,1 m2)
  • Biên dạng cánh: gốc cánh: NACA 64A318; đầu cánh: NACA 64A412[100]
  • Trọng lượng rỗng: 75.800 lb (34.382 kg)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 155.000 lb (70.307 kg)
  • Động cơ: 4 × động cơ tuốc bin cánh quạt Allison T56-A-15, 4.590 shp (3.420 kW) mỗi chiếc
  • Cánh quạt: 4-lá cánh quạt biến bước điều tốc Hamilton Standard 54H60 hoàn toàn có khả năng dựng cờ và đảo chiều lực đẩy, 13 ft 6 in (4,11 m) đường kính [101]

Hiệu suất bay

  • Vận tốc cực đại: 320 kn (368 mph; 593 km/h) ở độ cao 20.000 ft (6.100 m)
  • Vận tốc hành trình: 292 kn (336 mph; 541 km/h)
  • Tầm bay: 2.050 nmi (2.359 mi; 3.797 km)
  • Tầm bay chuyển sân: 3.995 nmi (4.597 mi; 7.399 km)
  • Trần bay: 33.000 ft (10.000 m) khi bay không tải[102]
23.000 ft (7.000 m) với tải trọng 42.000 lb (19.000 kg)
  • Vận tốc lên cao: 1.830 ft/min (9,3 m/s)
  • Chiều dài chạy đà cất cánh: 3.586 ft (1.093 m) ở trọng lượng toàn tải tối đa 155.000 lb (70.307 kg);[99]
1.400 ft (427 m) ở trọng lượng cất cánh 80.000 lb (36.287 kg)[103]

Hệ thống điện tử

Máy bay liên quan
Máy bay tương tự

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

Ghi chú

  1. "Why Lockheed Martin's Hercules is still going strong 70 years after first flight". Flight Global. 2024. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  2. "Hercules History". lockeedmartin.com. Lockheed Martin. ngày 30 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019.
  3. Roza, David (ngày 23 tháng 8 năm 2024). "'Workhorse of the Air' C-130 Marks 70 Years Since First Flight". Air & Space Forces Magazine. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
  4. 1 2 "Today in History – 21 April 1964 – Military version of the C-130 finally takes flight". Super Sabre Society (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2022.
  5. 1 2 Rogallo, Vernon L.; Yaggy, Paul F.; McCloud, John L. (ngày 9 tháng 9 năm 1954). "An Investigation in the Ames 40- by 80-Foot Wind Tunnel of a YT-56A Turboprop Engine Incorporating a Decoupler and a Controlled-Feathering Device". Nasa.gov.
  6. "Fairchild C-123K Provider". National Museum of the United States Air Force™ (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.
  7. 1 2 Rhodes, Jeff (Third Quarter 2004). "Willis Hawkins and the genesis of the Hercules". Code One Magazine. Quyển 19 số 3. tr. 16–21.
  8. Boyne, Walter J. (1998). Beyond the Horizons: The Lockheed Story. New York: St. Martin's Press. ISBN 978-0-312-19237-2.
  9. Dabney, Joseph E. A. (2004). Mating of the Jeep, the Truck, and the Airplane. Quyển 29. lockheedmartin.com. tr. 3.
  10. Olausson 2009, tr. 129.
  11. "C-130 Broad Area Review". Fas.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2021.
  12. Eric Tegler (ngày 21 tháng 4 năm 2017). "Why the C-130 Is Such a Badass Plane". Popular Mechanics.
  13. Carl A. Posey (tháng 9 năm 2004). "50 Years of Hercules". Smithsonian Magazine.
  14. "Feats of Hercules recorded". Royal Australian Air Force. ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  15. Anderson, Seth B. Memoirs of an aeronautical engineer: flight testing at Ames Research Center. United States, National Aeronautics and Space Administration, History Office, Ames Research Center. tr. 29.
  16. Cassidy, J. (2001). "C-130 Transportability of Army Vehicles". Defense Technical Information Center. tr. 3. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2016.
  17. Petrescu, Relly Victoria; Petrescu, Florian Ion (2013). Lockheed Martin. Germany: Books on Demand GmBH, Norderstedt. tr. 11. ISBN 978-3-8482-6053-9.
  18. "C-130K in the Austrian Air Force". doppeladler.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  19. Dedication and Sacrifice: National Aerial Reconnaissance During the Cold War (PDF). Center for Cryptologic History, National Security Agency. tr. 2. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2024.
  20. "NASA and Lockheed Martin Partners In C-130 Technology". NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  21. "The High Technology Test Bed" (PDF). Lockheed Service News. Lockheed. tháng 9 năm 1985. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  22. Norton, Bill (2002). STOL Progenitors: The Technology Path to a Large STOL Aircraft and the C-17A. Reston, Virginia: American Institute of Aeronautics and Astronautics. ISBN 1-56347-538-3.
  23. "ASN Aircraft Accident". Aviation Safety Network. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  24. United States House Committee on Appropriations (1994). "C-130 aircraft". Department of Defense appropriations for 1995, part 3 (Báo cáo). tr. 489–491. hdl:2027/uc1.31210014044646. ISBN 0-16-045949-4. OCLC 1097431953.
  25. 1 2 Trimble, Stephen. "Boeing outlines C-130H and KC-10 cockpit upgrades". Flightglobal. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  26. Capaccio, Tony (ngày 2 tháng 9 năm 2009). "Air Force Would Cancel Boeing C-130 Upgrade, 15 Other Programs". Bloomberg. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  27. Wall, Robert (ngày 25 tháng 6 năm 2010). "Pentagon Approves C-130 AMP Production". Aviation Week. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  28. "Boeing C-130 Avionics Modernization Program to Enter Production". Boeing. ngày 24 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2011.
  29. "AF.MIL". U.S. Air Force. ngày 4 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.
  30. "NOAA 'Hurricane Hunters' First To Get T56 Series 3.5 Engine Enhancement". Aero News. ngày 14 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013.
  31. "Rapid Dragon's first live fire test of a Palletized Weapon System deployed from a cargo aircraft destroys target". Air Force Material Command. Air Force Research Laboratory Public Affairs. ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2022.
  32. Host, Pat (ngày 1 tháng 10 năm 2021). "US AFRL plans Rapid Dragon palletized munitions experiments with additional weapons". Janes. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2022.
  33. "USAF asks industry to answer C-130 replacement questions". FlightGlobal. ngày 22 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2015.
  34. 1 2 "Lockheed's stealth C-130 successor revealed". FlightGlobal. ngày 13 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2015.
  35. 1 2 "Fast STOL – Lockheed's Speed Agile". Aviationweek.com. ngày 15 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2014.
  36. "Lockheed's New STOL Airlifter Design". Defensetech.org. ngày 15 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2013.
  37. "Boeing awarded patent for Speed Agile stealth transport concept". FlightGlobal. ngày 2 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  38. Horizon, Over The (ngày 6 tháng 3 năm 2017). "C-X: Next-Gen Cargo Plane for the Joint Force". OTH (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
  39. "Daily Report". Air Force Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2022.
  40. "C-130 History". Lockheed Martin (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
  41. Mitchell, Kent (1998). "Task Force Slide (USAF C-130 Ski Tests)". American Aviation Historical Society Journal. 43 (4): 262.
  42. Cloe, John (1977). "Skibirds on the Ice Cap". American Aviation Historical Society Journal. 22 (2): 144–146.
  43. Tuller, Jocelyn (ngày 16 tháng 3 năm 2026). "New York Guard Completes 38th Year of Operation Deep Freeze". NationalGuard.mil. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
  44. "60528's Last Flight" (PDF). nsa.gov. National Security Agency. ngày 31 tháng 8 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2017.
  45. "Canadian Military Aircraft". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2013.
  46. "C-130 Hercules on an Aircraft carrier". Defence Aviation. ngày 2 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  47. "Landing a Cargo Plane on a Postage Stamp". Naval Historical Foundation. tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  48. Carroll, Ward (ngày 3 tháng 2 năm 2022). Here's How a Fighter Pilot Landed a Cargo Plane on a Carrier (video) (bằng tiếng Anh) qua YouTube.
  49. 1 2 "Vietnam Conflict Aviation Resource Center - A Warbirds Resource Group Site". vietnam.warbirdsresourcegroup.org. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2025.
  50. "Mud Wars: How the Air Force Tried to Muck up Vietnam". ngày 19 tháng 1 năm 2014.
  51. Odom, T. (tháng 1 năm 2009). "Dragon Operations: Hostage Rescues in the Congo, 1964–1965". Combat Studies Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  52. "Mackay Trophy". National Aeronautic Association (naa.aero) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2023.
  53. "Operation Dragon Rouge". Combat Operators (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  54. Newdick, Thomas (ngày 2 tháng 3 năm 2015). "The Unusual History of Transport Bomber Planes". War Is Boring. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
  55. Hali, Sultan M. (tháng 12 năm 1998). "PAF's Gallant Christian Heroes Carry Quaid's Message". Defence Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015.
  56. "Pakistan Air Force – Official website". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2019.
  57. Hinh, Nguyen Duy. "Lam Son 719" (PDF). U.S. Army Center of Military History. tr. 133. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.
  58. Pocock, Chris (2010). The Black Bats: CIA Spy Flights over China from Taiwan 1951–1969. Atglen, Pennsylvania: Schiffer Military History. ISBN 978-0-7643-3513-6.
  59. Leeker, Joe (ngày 23 tháng 8 năm 2010). "Air America: Lockheed C-130 Hercules" (PDF). The University of Texas at Dallas. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
  60. Baugher, Joe. "1964 USAF Serial Numbers". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
  61. Olausson 2010, tr. 5.
  62. "Entebbe". Air & Space Forces Magazine. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  63. Prial, Frank J. (ngày 9 tháng 6 năm 1982). "Tanker Attacked in South Atlantic". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
  64. "About the Hercules (C-130J)". Royal Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023. ...the Hercules fleet was crucial to UK operations, a fact emphasised by the 1982 Falklands War
  65. Olausson 2010, tr. 43.
  66. Olausson 2010, tr. 120.
  67. "AFSOC Heritage". US Air Force Special Operations Command. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2009.
  68. "PAF conducted 5,500 bombing runs in Fata since 2008". The Express Tribune. ngày 14 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2012.
  69. Schwarz, Karl (ngày 19 tháng 10 năm 2017). "C-130J der Luftwaffe werden in Evreux fliegen". Flug Revue (bằng tiếng Đức).
  70. "Georgia Air National Guard Strengthens Argentina Air Force". National Guard Bureau. tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  71. "specialized aerial service". Bản gốc lưu trữ 5 tháng 7 2015. Truy cập 4 tháng 7 2015.
  72. Davis, Brent J. (ngày 24 tháng 6 năm 2010). "Air Force Reserve's 910th Airlift Wing provides initial response to Deepwater Horizon spill". Youngstown Air Reserve Station (bằng tiếng Anh).
  73. Davis, Brent (ngày 6 tháng 3 năm 2010). "910th receives Outstanding Unit Award". Youngstown Air Reserve Station (bằng tiếng Anh).
  74. "Aerial Spray Mission". Youngstown Air Reserve Station (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
  75. "Hurricane Harvey relief: Air Force provides mosquito aerial spray applications : Pest Management Professional" (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
  76. "Modular Airborne Fire Fighting System (MAFFS)". 302nd Airlift Wing, Air Force Reserve Command. ngày 14 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2019.
  77. Anonymous, Anonymous. "NTSB Identification: LAX02GA201". National Transportation Safety Board. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2019.
  78. "Forest Service says fatigue caused wing to fall off airtanker". Nevada Appeal. ngày 23 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  79. "C-130H/Q Fire Fighting Air Tanker" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015.
  80. "Three Americans killed as C-130 firefighting plane crashes in Australia". Los Angeles Times. Associated Press. ngày 23 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
  81. "Criminal Occurrence description". aviation-safety.net. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2017.
  82. "Now the STOL Hercules (advert)" (PDF). Flight. 78 (2687): 2–3. ngày 9 tháng 9 năm 1960. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  83. "CC-130H Hercules fact sheet" (bằng tiếng Anh). Royal Canadian Air Force. ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  84. Jordan, Art (ngày 17 tháng 11 năm 2020). "A little bit of Hercules history". The Maple Leaf (bằng tiếng Anh). Government of Canada. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  85. "Brazilian Military Airworthiness Certification and KC-390 Project Challenge" (.ppt). Department of Science and Aerospace Technology. tr. 13. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2017.
  86. King, Vince Jr. (ngày 1 tháng 11 năm 2006). "Compass Call continues to 'Jam' enemy". Air Force Link, United States Air Force.
  87. "Lockheed EC-130V Hercules". Military Analysis Network, Federation of American Scientists. ngày 10 tháng 2 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
  88. Housman, Damian (ngày 29 tháng 6 năm 2006). "Highly modified C-130 ready for war on terrorism". Air Force Link, United States Air Force.
  89. "MC-130 J name change promotes modern missions, preserves heritage". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2013.
  90. "SC-130J Sea Herc". lockheedmartin.com. Lockheed Martin. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014.
  91. "Lockheed Martin's Sea Hercules unveiled". stratpost.com. StratPost. ngày 16 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014.
  92. Militar, Redaccion Zona (ngày 3 tháng 11 năm 2025). "The Taiwanese Air Force is considering canceling the modernization of its C-130H aircraft to move forward with the purchase of new C-130J Super Hercules from the United States".
  93. "ERCIYES C-130 Modernization Program Will Keep C-130B/E Aircraft in Service Until the 2040s". defenceturkey.com. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
  94. 1 2 "Thai Military Aircraft Designations". designation-systems.net. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
  95. Zwerger, Patrick (ngày 22 tháng 7 năm 2021). "Deutschlands erste Hercules rollt aus der Halle". Flug Revue (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2021.
  96. "C-130 Hercules" . United States Air Force. 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2014.
  97. Frawley 2002, p. 108.
  98. Donald 1997
  99. 1 2 Eden 2004
  100. Lednicer, David (ngày 15 tháng 9 năm 2010). "The Incomplete Guide to Airfoil Usage". UIUC Applied Aerodynamics Group, University of Illinois. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2019.
  101. Webb, L. R. (1999). "The 54H60 Propeller" (PDF). Lockheed Martin Service News. 26 (3): 4–5. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2019.
  102. "Lockheed C-130 Hercules Heavy Transport". aerospaceweb.org. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2019.
  103. "Aircraft Characteristics: C-130 Hercules". uscost.net. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2019.
  104. "AN/APN-241 Color Weather/Navigation Radar with Prediction Windshear Detection". Electronic systems sector, Northrop Grumman. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2019.

Tài liệu

  • Borman, Martin W. Lockheed C-130 Hercules. Marlborough, UK: Crowood Press, 1999. ISBN 978-1-86126-205-9.
  • Diehl, Alan E., PhD, Former Senior USAF Safety Scientist. Silent Knights: Blowing the Whistle on Military Accidents and Their Cover-ups. Dulles, Virginia: Brassey's Inc., 2002. ISBN 1-57488-544-8.
  • Donald, David, ed. "Lockheed C-130 Hercules". The Complete Encyclopedia of World Aircraft. New York: Barnes & Noble Books, 1997. ISBN 0-7607-0592-5.
  • Eden, Paul. "Lockheed C-130 Hercules". Encyclopedia of Modern Military Aircraft. Luân Đôn: Amber Books, 2004. ISBN 1-904687-84-9.
  • Frawley, Gerard. The International Directory of Military Aircraft, 2002/03. Fyshwick, ACT, Australia: Aerospace Publications Pty Ltd, 2002. ISBN 1-875671-55-2.
  • Olausson, Lars. Lockheed Hercules Production List 1954–2011. Såtenäs, Sweden: Self-published, 27th Edition March 2009. No ISBN.
  • Olausson, Lars. Lockheed Hercules Production List 1954–2012. Såtenäs, Sweden: Self-published, 28th Edition, March 2010. No ISBN.
  • Reed, Chris. Lockheed C-130 Hercules and Its Variants. Atglen, Pennsylvania: Schiffer Publishing, 1999. ISBN 978-0-7643-0722-5.
  • Bản mẫu:US Air Force

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]