Binh chủng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Binh chủng Thiết giáp
Việt Nam Cộng hòa
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Quân kỳ.
Hoạt động 19561975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Phân loại Chủ lực quân
Bộ phận của ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Tên khác Thiết Kỵ
Khẩu hiệu Mau - Mạnh
Tham chiến -Trận Mậu Thân
-Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Phan Hòa Hiệp
-Vĩnh Lộc
-Lý Tòng Bá

Binh chủng Thiết giáp Kỵ binh Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) (tiếng Anh: Vietnamese Armored Cavalry Corp, VNACC) - còn gọi là Thiết Kỵ, trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là lực lượng đột kích tác chiến và cơ động trên các chiến trường với hỏa lực mạnh. Thường xuyên phối hợp với các đơn vị Bộ Binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt động quân để giải quyết nhanh chóng trận chiến theo chiến thuật "Bộ binh tùng Thiết". Luôn luôn là một trong các thành phần tham dự những cuộc hành quân có quy mô lớn (Trong đó bao gồm cả thành phần Hải, Lục, Không quân và Pháo binh). Trong quá trình hoạt động, Binh chủng Thiết kỵ đã được mệnh danh là "Vua chiến trường".

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Đã được Quân đội Liên hiệp Pháp hỗ trợ để thành lập một đơn vị Thám thính xa. Khi hiệp định Genève được ký kết chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1954. Binh chủng Thiết giáp gồm 1 Lữ đoàn và 4 Thiết đoàn Biệt lập. Năm 1955, nền Đệ Nhất Cộng hòa hình thành thì Bộ chỉ huy Thiết giáp mới được chính thức thành lập.

Bộ chỉ huy Thiết Giáp được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1955 do Trung tá Dương Ngọc Lắm làm Chỉ huy trưởng đầu tiên.

Những chiến xa đầu tiên của binh chủng đều thuộc loại M-24 Chaffees hạng nhẹ và loại M-8 nửa bánh nửa xích (Đều do Quân đội Pháp để lại). Đến năm 1956, Thiết Giáp Kỵ Binh được tổ chức tiêu chuẩn hơn gồm những Trung đoàn Kỵ binh, mỗi Trung đoàn có 2 Chi đoàn được trang bị Chiến xa M-3, M-8, và M-24.

Thời gian từ năm 1957-1962, Thiết kỵ chỉ giữ một vai trò khiêm nhường trên chiến trường miền Nam, vì địa hình nhiều rừng rậm và sông rạch lầy lội không thích hợp với di chuyển của Chiến xa. Tuy nhiên với nhu cầu của chiến trường, những Thiết vận xa M-113 (còn gọi là xe tăng lội nước) được đem ra áp dụng và rất hữu hiệu với các mặt trận ở đồng bằng và đã thành công trong các cuộc hành quân ở vùng 4 chiến thuật. Sau đó các Thiết vận xa M-113 được trang bị thêm lá chắn và hỏa lực mạnh hơn để trở thành loại Chiến xa đa dụng của Binh chủng Thiết giáp (Xin phân biệt chiến xa hay xe tăng có nhiệm vụ chính là dùng hỏa lực tiêu diệt địch quân, còn Thiết quân vận có mục đích nguyên thuỷ là dùng để chở quân đổ bộ vào mục tiêu).

Năm 1964, các Chiến xa M-24 cũ kỹ được thay thế bằng loại M-41A3 (Walker Bulldog) tối tân hơn với hỏa lực chính: đại bác 76mm và đại liên 50 (Đạn cỡ 12ly7, sau thay bằng đại liên M-60 nhẹ và tác xạ nhanh hơn) (Loại này tuy bị coi là nhỏ bé chật chội đối với người tây phương cồng kềnh, nhưng đối với người Việt Nam nhỏ tác thì lại rất vừa vặn và hữu hiệu). Chiến xa M-41 có 5 Chi đoàn chẳng bao lâu đã trở thành xương sống và là niềm tự hào của Binh chủng Thiết giáp Kỵ binh. Cũng trong năm này, Bộ chỉ huy Thiết kỵ được lệnh giải tán vào giữa tháng 11. Sau đó 5 tháng vào ngày 15 tháng 4 năm 1965 được tái lập và đặt Bộ chỉ huy tại trại Phù Đổng, Hạnh Thông Tây, Gò vấp, Gia Định.

Vào đầu thập niên 1970, khi phía đối phương dùng các loại Chiến xa T-54PT-76 (năm 1968, PT-76 xuất hiện tại Làng Vây và Khe Sanh) để yểm trợ cho Bộ binh. Binh chủng Thiết giáp Kỵ binh Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ canh tân qua chương trình Việt Nam hoá chiến tranh và được trang bị loại Chiến xa tối tân hạng nặng M48 Patton (trang bị hoả lực đại bác 90mm và có gắn máy ngắm hồng ngoại Xenon) để tương ứng đối đầu với Chiến xa T-54 được trang bị đại bác 100mm của đối phương. Trong những cuộc hành quân lớn và quy mô như Vượt biên qua Campuchia năm 1970, Hạ Lào năm 1971 và trận chiến Mùa hè đỏ lửa năm 1972, các Chiến xa của Binh chủng Kỵ binh Việt Nam Cộng hòa đã bị thiệt hại đáng kể.

Tính đến năm 1975, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa gồm có Bộ Tư lệnh tại Trung ương và 4 Bộ Tư lệnh Lữ đoàn tại 4 Quân khu, trong đó gồm có: 3 Thiết đoàn Chiến xa M-48, 14 Thiết đoàn Thiết vận xa M-113 và 6 Thiết đoàn Chiến xa M-41 được phối trí đều và thích ứng theo địa hình cho 4 vùng chiến thuật: Vùng 1, 2 và 4, mỗi vùng 5 Thiết đoàn, Vùng 3 có 6 Thiết đoàn. Ngoài ra phối trí cho các Tiểu khu, mỗi Tiểu khu có 1 Chi đội thám thính xa Cadillac Gage Commando Vehicle V-100 (di chuyển bằng bánh hơi, rất cơ động và nhanh lẹ). Một Chi đoàn gồm đủ các loại: M-48, M-41, M-113 và V-100 để cho khóa sinh tập huấn tại Trường huấn luyện Thiết giáp. Số còn lại thuộc dụng Bộ Tư lệnh Thiết giáp Trung ương. Tổng số là 21 Thiết đoàn.

Bảng phối trí các Lữ đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

TT Đơn vị Chủng loại Trực thuộc Chỉ huy Chú thích
Lữ đoàn 1 Kỵ binh
Quân khu 1
Đại tá
Nguyễn Xuân Hường[1]
Võ bị Địa phương
Trung Việt (Huế) K1[2]
Phối thuộc Quân đoàn I
1
Thiết đoàn 20
Chiến xa M.48
Lữ đoàn 1
Trung tá Phan Công Tuấn
Cơ hữu Lữ đoàn 1
2
Thiết đoàn 17
Thiết vận xa M.113
nt
Trung tá
Nguyễn Viết Thạnh
nt
3
Thiết đoàn 4
Chiến xa M.41
nt
Thiếu tá
Trần Văn Minh
Phối thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh
4
Thiết đoàn 7
nt
nt
Trung tá
Hồ Đàn
Phối thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh
5
Thiết đoàn 11
nt
nt
Trung tá
Nguyễn Hữu Lý
Phối thuộc Sư đoàn 3 Bộ binh
Lữ đoàn 2 Kỵ binh
Quân khu 2
Đại tá
Nguyễn Văn Đồng
Võ bị Đà Lạt
Phối thuộc Quân đoàn II
6
Thiết đoàn 21
Chiến xa M.48
Lữ đoàn 2
Trung tá
Nguyễn Cung Vinh
Võ bị Đà Lạt K18[3]
Cơ hữu Lữ đoàn 2
7
Thiết đoàn 3
Thiết vận xa M.113
nt
Thiếu tá
Nguyễn Văn Triết
nt
8
Thiết đoàn 19
nt
nt
Thiếu tá
Hoàng Kiều
nt
9
Thiết đoàn 8
Chiến xa M.41
nt
Thiếu tá
Nguyễn Văn Đêm
Phối thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh
10
Thiết đoàn 14
nt
nt
Đại tá
Lương Chí[4]
Võ bị Đà Lạt K10
Tư lệnh phó Lữ đoàn
Phối thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh
Lữ đoàn 3 Kỵ binh
Quân khu 3
Chuẩn tướng
Trần Quang Khôi
Võ bị Đà Lạt K6
Phối thuộc Quân đoàn III
11
Thiết đoàn 22
Chiến xa M.48
Lữ đoàn 3
Trung tá
Nguyễn Văn Liên
Cơ hữu Lữ đoàn 3
12
Thiết đoàn 15
Thiết vận xa M.113
nt
Trung tá
Đỗ Đức Thảo
nt
13
Thiết đoàn 18
nt
nt
Trung tá
Nguyễn Đức Dương
Võ khoa Thủ Đức K5p
(Khóa 11B Trừ bị Đà Lạt)
nt
14
Thiết đoàn 1
nt
nt
Trung tá
Nguyễn Minh Tánh
Võ khoa Thủ Đức K5[5]
Phối thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh
15
Thiết đoàn 10
nt
nt
Trung tá
Huỳnh Kiêm Mậu
Phối thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh
16
Thiết đoàn 5
Chiến xa M.41
nt
Trung tá
Trần Văn Nô
Phối thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh
Lữ đoàn 4 Kỵ binh
Quân khu 4
Đại tá
Trần Ngọc Trúc
Phối thuộc Quân đoàn IV
17
Thiết đoàn 12
Thiết vận xa M.113
Lữ đoàn 4
Trung tá
Phạm Hữu Tường
Cơ hữu Lữ đoàn 4
18
Thiết đoàn 16
nt
nt
Trung tá
Lê Văn Thành
nt
19
Thiết đoàn 2
nt
nt
Trung tá
Nguyễn Văn Việt Tân
Phối thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh
20
Thiết đoàn 6
nt
nt
Thiếu tá
Ngô Đức Lâm
Phối thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh
21
Thiết đoàn 9
nt
nt
Trung tá
Trần Hữu Thành
Võ khoa Thủ Đức K10
Phối thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh

Bộ Chỉ huy Binh chủng Thiết giáp tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy và Tham mưu sau cùng
TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Nguyễn Văn Toàn
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
Chỉ huy trưởng
Kiêm Tư lệnh Quân đoàn III
2
Thẩm Nghĩa Bôi[6]
Võ bị Đà Lạt K5
Đại tá
Chỉ huy phó
3
Lương Bùi Tùng[7]
Võ khoa Nam Định[8]
nt
Phụ tá Chỉ huy trưởng
4
Nguyễn Đức Dung
Võ khoa Thủ Đức K5
nt
Tham mưu trưởng
5
Huỳnh Văn Tám
nt
Chỉ huy trưởng
Trường Thiết giáp

Tư lệnh các Lữ đoàn Kỵ binh từ khi thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị TT Họ và Tên Cấp bậc Tại nhiệm Chú thích
Lữ đoàn 1
1
Phan Hòa Hiệp
Võ bị Địa phương
Trung Việt Huế K1
Chuẩn tướng
1971
Sau cùng là Chuẩn tướng Tổng trưởng Thông tin
2
Nguyễn Trọng Luật[9]
Võ khoa Thủ Đức K1
Đại tá
1971-1972
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac
3
Trần Tín
nt
1972
4
Vũ Quốc gia[10]
Võ khoa Thủ Đức
nt
1972-1974
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Phú Yên
5
Nguyễn Xuân Hường
nt
1974-1975
Tư lệnh cuối cùng
Lữ đoàn 2
1
Nguyễn Đức Dung
Võ bị Đà Lạt K5
nt
1971-1973
Năm 1973-1974, giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Pleiku. Năm 1974-1975, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Thiết giáp Trung ương
2
Nguyễn Văn Đồng
nt
1973-1974
Tư lệnh chối cùng
Lữ đoàn 3
1
Trần Quang Khôi
nt
1970-1971
Tư lệnh lần thứ nhất
2
Nguyễn Kim Định
Võ khoa Thủ Đức K5
nt
1971-1973
3
Trần Quang Khôi
nt
1973-1975
Tư lệnh lần thứ hai. Thắng cấp Chuẩn tướng năm 1974
Lữ đoàn 4
1
Vũ Quốc gia
nt
1969-1972
2
Nguyễn Văn Của[11]
Võ khoa Thủ Đức K3
nt
1972-1974
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Dương
3
Trần Ngọc Trúc
nt
1974-1975
Tư lệnh cuối cùng

Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại nhiệm Chú thích
1
Hoàng Đôn Thận
Võ bị Đà Lạt k5
Thiếu tá[12]
1955-1956
Giải ngũ ở cấp Trung tá
2
Trần Văn Ái
nt
1956
Giải ngũ ở cấp Trung tá
3
Nguyễn Duy Hinh
Võ khoa Nam Định
Đại úy
1956-1957
4
Lương Bùi Tùng
nt
1957-1959
5
Vĩnh Lộc
Võ bị Lục quân Pháp
Thiếu tá
1959-1961
6
Dương Văn Đô[13]
Võ khoa Nam Định
Đại úy
1961-1963
Sau cùng là Đại tá
7
Nguyễn Văn Toàn
Thiếu tá
1963-1964
8
Lâm Quang Thơ
Võ bị Đà Lạt K3
Trung tá
1964-1965
9
Nguyễn Tuấn[14]
Võ khoa Thủ Đức K1
nt
1965-1968
Trận tết Mậu Thân năm 1968, bị VC sát hại cùng với cả vợ con tại trại Thiết giáp Phù Đổng ở Gò Vấp, Gia Định.
10
Nguyễn Quang Nguyên[15]
Võ khoa Nam Định
nt
1968-1969
Sau cùng là Đại tá
11
Trần Tín
nt
1969-1972
Sau cùng là Đại tá
12
Trần Văn Tỷ[16]
Võ bị Đà Lạt K10
Đại tá
1972-1973
13
Huỳnh Văn Tám
nt
1973-1975

Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Dương Ngọc Lắm
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Trung tá[12]
03/1955-05/1957
Sau cùng là Thiếu tướng Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn. Giải ngũ năm 1964
2
Hoàng Xuân Lãm
Võ bị Đà Lạt K3
nt
05/1957-06/1959
Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
3
Nguyễn Văn Thiện
Võ khoa Thủ Đức K2
Thiếu tá
06/1959-12/1963
Sau cùng giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà (Quảng Nam và Đà Nẵng). Tử nạn mất tích trên phi cơ A.37 sau khi thăng cấp Chuẩn tướng được 2 ngày
4
Vĩnh Lộc
Đại tá
12/1963-02/1964
Sau cùng là Trung tướng Tổng tham mưu trưởng 1 ngày (28/4/1975)
5
Nguyễn Đình Bảng[17]
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tá
02/1964-11/1964
Xử lý thường vụ đến ngày Bộ Tư lệnh Thiết giáp tạm giải tán 5 tháng. Sau cùng là Đại tá Thị trưởng Cam Ranh (Trước nhiệm kỳ của Đại tá Trần Công Liễu)
6
Lâm Quang Thơ
nt
04/1965-09/1965
Khi Bộ Tư lệnh Thiết giáp tái thành lập. Sau cùng là Thiếu tướng CHT Trường Võ bị Đà lạt
7
Lương Bùi Tùng
nt
09/1965-02/1969
8
Dương Văn Đô
Võ khoa Nam Định
nt
02/1969-09/1969
Tư lệnh lần thứ 1
9
Phan Hòa Hiệp
Đại tá
09/1969-02/1972
Sau cùng là Chuẩn tướng Trưởng ban Quân sự 2 bên
10
Nguyễn Văn Toàn
Thiếu tướng
02/1972-05/1972
Tư lệnh lần thứ nhất
11
Dương Văn Đô
Đại tá
05/72-10/1972
Tái nhiệm Tư lệnh lần thứ hai. Giải ngũ cùng cấp
12
Lý Tòng Bá
Võ bị Đà Lạt K6
Chuẩn tướng
10/1972-11/1974
13
Nguyễn Văn Toàn
Trung tướng
11/1974-04/1975
Tư lệnh lần thứ hai

Tướng lãnh Xuất thân từ Binh chủng Thiết giáp[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ
sau cùng
Chú thích
1
Hoàng Xuân Lãm
Trung tướng
Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
2
Vĩnh Lộc
nt
Tổng Tham mưu trưởng
3
Nguyễn Văn Toàn
nt
Tư lệnh Quân đoàn III
Kiêm Chỉ huy trưởng Thiết giáp
4
Nguyễn Duy Hinh
Thiếu tướng
Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh
5
Dương Ngọc Lắm
nt
Phụ tá Đặc biệt Phủ Thủ tướng
6
Lý Tòng Bá
Chuẩn tướng
Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh
7
Phan Hòa Hiệp
nt
Tổng trưởng Thông tin Chiêu hồi
8
Trương Hữu Đức
Võ bị Đà Lạt K10
nt
(Truy thăng)
Chiến đoàn trưởng
Chiến đoàn Đặc nhiệm
Nguyên Đại tá Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 5 kiêm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn Đặc nhiệm 52. Mùa hè năm 1972 tử trận tại mặt trận Chơn Thành, Bình Long, được truy thăng Chuẩn tướng.

Chỉ huy nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sinh năm 1929 tại Quảng Nam
  2. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan
  3. ^ Tử trận khi cùng đơn vị di tản trên đường 7B, ngày 21 tháng 3 năm 1975
  4. ^ Sinh năm 1935 tại Thừa Thiên
  5. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
  6. ^ Sinh năm 1923 tại Hà Nội
  7. ^ Sinh năm 1930 tại Bắc Ninh
  8. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định
  9. ^ Sinh năm 1929 tại Long Xuyên
  10. ^ Sinh năm 1930 tại Hà Nội
  11. ^ Sinh năm 1931 tại Sài Gòn
  12. ^ a ă Cấp bậc khi nhậm chức
  13. ^ Sinh năm 1926 tại Sơn Tây
  14. ^ Sinh năm 1931 tại Nam Định
  15. ^ Sinh năm 1932 tại Thái Nguyên
  16. ^ Sinh năm 1934 tại Tây Ninh
  17. ^ Sinh năm 1928 tại Nam Định

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]