PT-76

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
PT-76
PT-76
PT-76
Loại Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Quốc gia chế tạo  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ 16 tháng 8 năm 1952–nay
Sử dụng bởi  Liên Xô
 Việt Nam
 Lào
 Campuchia
 Cuba
 Iraq
 Iran
 Indonesia
Lược sử chế tạo
Người thiết kế N. Shashmurin và Zh.Y. Kotin
Năm thiết kế 1949–51
Nhà sản xuất VTZ, Nhà máy Kirov
Giai đoạn sản xuất 1953–69
Số lượng chế tạo Khoảng 12.000 (3.039 xe được Liên Xô sản xuất, số còn lại do nước khác sản xuất)
Thông số (PT-76 model 1)
Khối lượng 14,6 tấn
Chiều dài 6,91 m (tính cả tháp)
Chiều rộng 3,15 m
Chiều cao 2,325 m
Kíp chiến đấu 3 (lái xe, xa trưởng, chiến sĩ nạp đạn)

Phương tiện bọc thép 20 mm
Vũ khí
chính
Pháo D-56T 76,2 mm (40 viên đạn)
Vũ khí
phụ
Súng máy đồng trục SGMT 7,62 mm (1.000 viên đạn)
Động cơ Diesel 6 cylinder
240 mã lực (179 kW)
Công suất/trọng lượng 16,4 mã lực/tấn
Hệ thống treo thanh xoắn
Khoảng sáng gầm 370 mm
Sức chứa nhiên liệu 250 lít
Tầm hoạt động 370–400 km, 480–510 km với bình nhiên liệu phụ
Tốc độ 44 km/h trên bộ, 10,2 km/h dưới nước

PT-76, viết tắt của (Плавающий Танк/Plavajuschij Tank trong tiếng Nga) là ký hiệu loại xe tăng lội nước hạng nhẹ của quân đội Xô Viết nặng khoảng 14 tấn. Xe tăng PT-76 được giới thiệu lần đầu tiên vào đầu thập niên 1950, và sớm trở thành mẫu xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Xô Viết và những lực lượng quân sự thuộc khối Hiệp ước Warszawa. PT-76 cũng được xuất khẩu rộng rãi đến các nước đồng minh khác của Liên Xô như Việt Nam, Lào, Iraq, Bắc Triều TiênCuba và đồng minh khác của Liên Xô đó là Indonesia. Có hơn 25 nước sử dụng PT-76.

Tên đầy đủ của xe tăng tiếng Nga: Плавающий Танк, Plavayushchiy Tank, hoặc ПТ-76). 76 là viết tắt của vũ khí chính: 76,2 mm D-56T. PT-76 được sử dụng trong vai trò trinh sát và yểm trợ hỏa lực. Khung gầm của nó được sử dụng làm cơ sở cho một số mẫu thiết kế xe khác như: xe thiết giáp BTR-50, súng phòng không tự hành ZSU-23-4, pháo tự hành hạng nhẹ ASU-85, xe phóng tên lửa phòng không KUB 2K12.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

PT-76
xe tăng PT-76 tại viện bảo tàng
PT-76 trong viện bảo tàng Hoa Kỳ (Hình 1).
(Hình 2).

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các khái niệm về xe tăng hạng nhẹ được nghiên cứu lại ở Liên Xô. Các xe tăng hạng nhẹ sẽ được sử dụng trong các đơn vị trinh sát và do đó khả năng lội nước là rất cần thiết. Chiếc xe sẽ có thể vượt sông ngòi, đầm lầy với sự chuẩn bị ít. Nhiều nguyên mẫu của xe tăng hạng nhẹ như vậy đã được thiết kế vào cuối những năm 1940. Thành công nhất là "obyekt 740" (đối tượng 740) được thiết kế bởi kỹ sư N. Shashmurin làm việc tại các viện VNII-100 ở Leningrad (một viện nghiên cứu của Nhà máy xe tăng Chelyabinsk ChTZ) năm 1949-1950, dưới sự giám sát ban đầu của Zh. Kotin từ Nhà máy Kirov. Chiếc xe đã thành công bởi vì nó có một thiết kế đơn giản, đặc điểm định hướng tốt và khả năng tự sản xuất.

Một nguyên mẫu đã được xây dựng tại Nhà máy Kirov vào năm 1950 và đã được chính thức thông qua ngày 06 tháng 8 năm 1951 với chỉ định của PT-76 sản xuất bắt đầu tại nhà máy Stalingrad Tractor (Khu liên hiệp).

Được phát triển trong những năm 1949-1951, PT-76 đi vào sản xuất năm 1952 tới 1959, với 1.896 xe được sản xuất. Đến năm 1959, thế hệ 2 là PT-76B ra đời và được sản xuất tới năm 1967, với 1.143 xe được sản xuất. Cả hai đều có biên chế 3 người, hỏa lực chính gồm pháo 76,2 mm, súng máy 7,62 mm. Ngoài ra có thể thêm súng máy 12,7 mm.

PT-76 được tiết kế chủ yếu để hỗ trợ bộ binh tại những nơi có địa hình lầy lội, nhiều sông ngòi đầm lầy. Do đó nó có ưu điểm lội nước tốt, nhưng bù lại chỉ có vỏ giáp mỏng (để duy trì khả năng bơi lội), trọng lượng 14 tấn rất nhẹ so với các loại xe tăng khác của Nga đều trên 40 tấn, do đó súng máy hạng nặng, thậm chí cả súng trường chống tăng cổ điển cũng có thể xuyên thủng. Do thiết kế chủ yếu để hỗ trợ bộ binh diệt công sự, hỏa điểm và thiết giáp nhẹ thay vì đấu tăng (tương tự như xe thiết giáp chiến đấu - IFV ngày nay) nên hỏa lực xe yếu, không có pháo thủ chuyên biệt mà phải kiêm nhiệm.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

PT-76 có một bố trí xe tăng điển hình: khoang lái ở phía trước, khoang chiến đấu ở trung tâm và khoang động cơ ở phía sau. Kíp lái ba người, người chỉ huy kiêm người liên lạc và pháo thủ. Chỉ huy và bộ nạp được đặt bên trong tháp pháo, chỉ huy ngồi ở phía bên tay trái của súng chính và người nạp đạn ngồi bên phải. Lái xe ngồi ở trung tâm của mặt trước, kính viễn vọng đặt bên dưới súng chính ở phía trên cùng của tấm giáp dốc phía trước thân xe.

Kính ngắm TPKU-2B dành cho chỉ huy xe được lắp trên PT-76 cũng như PT-76B. TPKU-2B cũng được sử dụng trong T-54B cũng như các loại xe bọc thép khác của Liên Xô vì nó là thiết bị mới nhất thuộc loại này vào cuối những năm 1950, tuy nhiên ở PT-76 nó có một số sửa đổi ở tay cầm. Biến thể này của kính tiềm vọng TPKU-2B được sử dụng rộng rãi trong các loại xe hạng nhẹ khác như BRDM-1, BTR-60, BTR-70 và nhiều loại khác, chưa kể đến BTR-50 có nguồn gốc từ PT-76. TPKU-2B có độ phóng đại có thể điều chỉnh với tùy chọn độ phóng đại 1x hoặc 5x. Với độ phóng đại 1x, trường nhìn là 17,5 độ, hoặc giảm xuống 7,5 độ với độ phóng đại 5x. Cách bố trí chung của các mặt kẻ ô giống như trong tất cả các kính ngắm khác của Liên Xô vào thời đó, bao gồm sự hiện diện của một vạch đo khoảng cách, đủ cho người chỉ huy tìm kiếm và ước tính phạm vi mục tiêu ở khoảng cách ngắn đến trung bình.

Đối với xạ thủ, PT-76 có kính ngắm TShK-66, đến PT-76 model 1957 thì dùng loại TShK-66P cải tiến. PT-76B model 1959 thì được trang bị loại TShK-2-66, được thiết kế để ổn định đường ngắm theo chiều dọc thông qua các mối liên kết cơ học với pháo. TShK-66 có độ phóng đại cố định 4x và trường 16 độ.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí chính của nó bao gồm một súng 76,2 mm D-56T, tầm bắn khoảng 1,5 km. D-56T là một thiết kế hoàn toàn mới được phát triển vào năm 1949 bởi nhà máy thiết kế số 9, nơi nó nhận được tên gọi LB-62T. Pháo dùng đạn cỡ 76,2x385mm, chung loại đạn với pháo chống tăng ZiS-3 và pháo F-34 trên xe tăng T-34-76. Nòng pháo dài 3,2 mét (tỷ lệ 42 caliber), giống hệt với ZiS-3 và F-34, nên các đặc điểm đạn đạo giống hệt nhau, tạo thuận lợi cho việc huấn luyện và trang bị đạn. Tuy nhiên, D-56T tiên tiến hơn ở chỗ có bộ giảm giật ở đầu nòng và bầu hút khói để ngăn khói thuốc pháo bay ngược lại khoang lái. Năm 1957, D-56T được thay thế bằng khẩu pháo D-56TM mới hơn với bộ giảm giật ở đầu nòng được cải tiến. Pháo có thể nâng và hạ từ -4 đến +30 độ, do đó, cũng như hầu hết các xe tăng Liên Xô, PT-76 không thể bắn hiệu quả từ vùng đất cao hơn.

PT-76 phiên bản đầu được trang bị hệ thống quay tháp pháo bằng điện EPB-4, tốc độ quay tháp pháo tối đa 17 độ mỗi giây. Một trong những nhược điểm lớn nhất của các mẫu PT-76 phiên bản đầu là nó không có hệ thống ổn định và do đó không thể bắn chính xác trong khi xe di chuyển. Mẫu PT-76B được nâng cấp với hệ thống ổn định hai mặt phẳng STP-2P "Zarya" (biến thể từ bộ ổn định STP-2 "Tsiklon" sử dụng trên T-55). Độ chính xác được báo cáo là 1,0 mil theo chiều dọc, và 1,5 mils theo chiều ngang, cung cấp sự cải thiện tương tự về độ chính xác khi bắn. Khi tiếp cận mục tiêu ở khoảng cách 800 - 1.200 mét theo đường thẳng, tỷ lệ bắn trúng đã tăng 5,25 lần, tỷ lệ bắn trúng trong khi di chuyển ở một góc 15 độ so với mục tiêu đã được cải thiện 4 lần. Tóm lại, "Zarya" cho phép PT-76 bắn trúng các mục tiêu loại xe tăng từ tầm ngắn đến trung bình với độ chính xác hợp lý ở tốc độ từ 12 đến 25 km/h và nâng cao tỷ lệ bắn trúng ở cự ly xa hơn.

Xe tăng lội nước PT-76 của Ba Lan tập luyện đổ bộ.
PT-76s đang lội nước.
A PT-76 trong viện bảo tàng ở Kiev.
Một người lính tăng Soviet đang đứng cạnh xe tăng PT-76 của anh, 8/1989.

PT-76 mang 40 viên đạn pháo cỡ 76,2x385mm. Cơ số đạn điển hình bao gồm 24 viên đạn nổ mảnh chống bộ binh và lô cốt (Frag-HE), 4 viên viên đạn xuyên giáp - nổ (APHE), 4 viên đạn xuyên giáp lõi cứng (APCR) và 8 viên đạn nổ lõm chống tăng (HEAT):

  • Đạn nổ mảnh là loại OF-350, sơ tốc 680 m/s, chứa 0,64 kg TNT. Đạn có chế độ chạm nổ hoặc nổ chậm. Ở chế độ nổ chậm, OF-350 được bắn từ khoảng cách 7,5 km có thể xuyên qua một bức tường gạch dày tới 0,75 mét hoặc một kè đất dày 2 mét trước khi phát nổ. Tuy là đạn nổ, động năng của OF-350 giúp nó có thể xuyên thủng tấm giáp hông của chiếc M41 Walker Bulldog (dày khoảng 19 – 25 mm), điều này cũng có nghĩa là OF-350 có khả năng phá hủy hoặc ít nhất là vô hiệu hóa bất kỳ xe bọc thép bọc thép và xe tăng hạng nhẹ nào trong thập niên 1960. Điều này rất hữu ích vì PT-76 thường không mang theo nhiều đạn xuyên giáp động năng.
  • Đạn APHE là loại BR-350B (chứa 65 gram hỗn hợp nổ A-IX-2), sơ tốc 655 m/s. Ở góc chạm thẳng, nó xuyên được 82mm thép ở 100 mét, 75mm thép ở 500 mét, 67mm thép ở 1.000 mét, 60mm thép ở 1.500 mét, 53mm thép ở 2.000 mét. Ở góc chạm 60 độ, các con số tương ứng là 33,5 mm - 30,5 mm - 24,5 mm - 22.5 mm - 21.5 mm thép. Mặc dù sức xuyên bình thường, nó vẫn đủ để đánh bại giáp trước của một chiếc xe tăng hạng nhẹ M41 Walker Bulldog của Mỹ từ 1.000 đến 1.500 mét, và đe dọa phía hông của bất kỳ chiếc xe tăng hạng trung nào từ 1.000 mét hoặc hơn. Bộ giáp hông khá mỏng của chiếc xe tăng Centurion Mk-3 (51 mm) và Chieftain (38 mm) của Anh khiến những chiếc xe tăng này đặc biệt dễ bị phục kích bởi PT-76.
    • Giữa thập niên 1950, BR-350B được thay thế bởi BR-354, cải thiện rất nhiều sức xuyên. Ở góc chạm thẳng, nó xuyên được 95mm thép ở 500 mét, 80mm thép ở 1.000 mét, 70mm thép ở 1.500 mét, 60mm thép ở 2.000 mét.
  • Đạn APCR là loại BR-354P, có lõi xuyên bằng tungsten, dài 72mm và nặng 0,48 kg, sơ tốc 950 m/s, tầm bắn hiệu quả 1.000 mét. Ở góc chạm thẳng, nó xuyên được 120mm thép ở 100 mét, 105mm thép ở 300 mét, 90mm thép ở 500 mét, 60mm thép ở 1.000 mét. Loại đạn này có thể xuyên được giáp hông của hầu hết các tăng hạng trung trong thập niên 1950 ở cự ly 500 mét.
    • Cuối thập niên 1950, BR-354P được thay thế bởi BR-354N. Sự cải tiến chính là những đặc điểm khí động học giúp cải thiện rất nhiều độ chính xác. Phạm vi hiệu quả tối đa được liệt kê là 1.500 mét - một cải tiến lớn so với BR-354P. Ở góc chạm thẳng, nó xuyên được 125mm thép ở 500 mét, 110mm thép ở 1.000 mét, 90mm thép ở 1.500 mét, 75mm thép ở 2.000 mét.
  • Đạn HEAT là loại BK-354, chứa 0,74 kg hỗn hợp nổ A-IX-1, sơ tốc 550 m/s, xuyên được 200mm thép ở góc chạm thẳng. Nó đủ để tiêu diệt các xe tăng hạng nhẹ thập niên 1950 từ phía trước, và có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho bất kỳ xe tăng hạng trung hoặc hạng nặng nào nếu bắn vào hông.
    • Cuối thập niên 1950, BK-354 được thay thế bởi BK-354M, chứa 0,8 kg hỗn hợp nổ, xuyên được 250mm thép ở góc chạm thẳng.

Đạn được nạp bằng tay, tốc độ bắn lý thuyết đạt khoảng 15 phát/phút, còn trong thực tế đạt khoảng 7 phát/phút (có nhiều yếu tố làm giảm tốc độ bắn trong thực tế, ví dụ như xe di chuyển khiến nạp đạn viên đứng không vững, hoặc xạ thủ phải mất thời gian ngắm bắn).

Xe có một súng máy đồng trục SGMT 7,62 mm với 1.000 viên đạn. Tầm bắn tối đa 1.000 mét. Từ năm 1967, súng máy PKT đã được thay thế. Khẩu súng có thể bắn trong khi xe đang nổi.

Vỏ giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Giáp của PT-76 làm bằng thép cán nguội có độ bền cao. Tháp pháo của nó có:

  • 20 mm ở 35° ở phía trước
  • 16 mm ở 35° ở bên
  • 11 mm ở 33° ở phía sau
  • 8 mm ở 0° trên tháp pháo.

Thân xe:

  • 10 mm ở 80° ở phía trước
  • 13 mm ở 80° phía trước thấp hơn
  • 14 mm ở hai bên
  • 7 mm ở phía sau
  • 5 mm ở bên dưới

Giáp trước của PT-76 đủ để chống lại đạn súng máy cỡ 12,7 mm, giáp hông thì đủ để chống lại đạn súng máy 7,62 mm và những mảnh đạn pháo nhỏ. Nhưng với đạn 12,7 mm hoặc các mảnh đạn pháo lớn hơn thì giáp của PT-76 có thể bị xuyên thủng ở phía hông.

Đặc biệt, độ nghiêng lớn của giáp trước khiến cho một số loại đạn súng chống tăng có thể bị trượt văng ra, không phát nổ. Tiêu biểu là trận Làng Vây, tất cả các phát đạn từ súng M72 LAW của Mỹ bắn vào những xe PT-76 đều bị trượt ra nên không phá hủy được mục tiêu.

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 3.000 xe tăng PT-76 đã được Liên Xô sản xuất và 2.000 chiếc đã được xuất khẩu. Ngoài ra, Trung Quốc cũng tự sản xuất hàng ngàn xe PT-76, trong đó có biến thể xe tăng hạng nhẹ kiểu 63 (thay thế tháp pháo và pháo 76mm bằng pháo 85mm). Ở Việt Nam, xe tăng hạng nhẹ kiểu 63 được gọi là PT-85.

Sau đó nó đã được Liên Xô thay thế bằng BMP-1BRM-1. Tuy nhiên, một số đơn vị hải quân đánh bộ của Nga vẫn sử dụng một số PT-76 cho tới năm 2000. Tới năm 2020, nó vẫn được sử dụng ở một số đơn vị vũ trang tại một số quốc gia.

Trong Chiến tranh Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa PT-76 vào chiến đấu và thu được một số thành công trong các trận Làng Vây, Bến Hét, và nó đã tham gia chiến đấu hợp đồng binh chủng cùng loại xe tăng hạng trung T-54/55.

Xe tăng PT-76 số hiệu 268 từng tham gia chiến dịch (nay đặt tại tượng đài chiến thắng Làng Vây)

PT-76 cho thấy tính cơ động tuyệt vời trong các địa hình khó khăn, nhiều sông ngòi ở Việt Nam. Cuối tháng 1 năm 1968, PT-76 của Quân đội nhân dân Việt Nam tham chiến lần đầu tiên tại Trận Tà Mây - Trận Làng Vây (đường 9 - Khe Sanh). 20 giờ ngày 23-1-1968, bộ đội xe tăng với trang bị là xe tăng hạng nhẹ PT-76 đã chở bộ binh đánh thẳng vào bên trong cứ điểm Tà Mây, dùng hỏa lực đánh sập lô cốt, ụ súng, khiến quân địch tháo chạy. Ngày 7/2/1968, bộ đội tăng - thiết giáp với 14 xe PT-76 đã chi viện cho bộ binh tiêu diệt cứ điểm Làng Vây, diệt hoặc bắt sống gần 700 địch. Ngày 7/2 trở thành ngày kỷ niệm đánh thắng trận đầu của bộ đội Tăng thiết giáp Việt Nam.

Xe tăng PT-76 nối tiếng nhất là xe số hiệu 555, biệt danh “Mãnh hổ Đường số 9” bởi những chiến tích của nó, đặc biệt là 2 lần đơn độc tung hoành trong cứ điểm địch. Lần đầu tiên là trong trận Tà Mây tháng 1/1968, trưởng xe Lê Xuân Tấu đã ra lệnh cho xe đi đầu xông vào căn cứ địch, vừa dùng pháo và súng máy diệt địch, vừa dùng xích sắt nghiến nát các công sự. Lần thứ 2 là ở điểm cao 543 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, xe 555 có chính trị viên tiểu đoàn Lê Cối cùng đi dẫn đầu đội hình trung đội 1 tiến lên điểm cao 543, vừa bắn vừa yểm trợ bộ binh xông thẳng vào trận địa pháo và khu trung tâm thông tin, bắt sống toàn bộ Ban Tham mưu Lữ đoàn dù 3 của địch, trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng. Xe tăng 555 được đưa về Hà Nội tham gia Triển lãm về Chiến thắng “Đường 9 - Nam Lào” và nay được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Ngoài ra, những chiếc xe tăng hạng nhẹ kiểu 63 (Type-63, phiên bản Trung Quốc của PT-76) được Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam vào năm 1971. Type 63 được sử dụng lần đầu tiên trong chiến đấu vào tháng 12/1971 ở chiến dịch Cánh đồng Chum trong đội hình Tiểu đoàn xe tăng 195A.

Trận đánh nổi tiếng của Type-63 là trận phòng ngự cảng Cửa Việt ngày 27-28/1/1973. Để chống lại 130 xe tăng, xe thiết giáp các loại của đối phương, Quân Giải phóng chỉ có Đại đội tăng thiết giáp 1 gồm 7 xe: 1 xe tăng Type-63 (số hiệu 704), 2 xe thiết giáp K-63 (có trang bị 2 bệ phóng tên lửa chống tăng B-72), 4 xe thiết giáp BTR-50 lắp cao xạ 23mm. Về sau đại đội 1 được chi viện thêm 1 xe tăng T-54 của Trung đoàn 203. Kíp xe Type-63 số hiệu 704 trong đêm tối đã bất ngờ xuất kích đánh vào sườn đội hình địch, với 8 phát đạn đã bắn cháy 5 xe tăng M48 Patton và bắn hỏng 2 xe tăng M48 khác, đồng thời tiêu diệt hàng chục bộ binh. Đến rạng sáng, xe tăng 704 bị trúng đạn pháo của địch, Đại đội trưởng Nguyễn Văn Khoán và nạp đạn viên Nguyễn Văn Khanh hy sinh, pháo thủ Hoa Xuân Toàn và lái xe Nguyễn Thế Tường bị thương nặng.

Kết thúc trận đánh, quân Giải phóng đã phòng ngự thành công cảng Cửa Việt. Riêng đại đội 1 đã bắn cháy 16 xe tăng - xe thiết giáp của địch, yểm trợ bộ binh thu giữ 3 xe tăng M48 Patton, 3 xe tăng M41 Walker Bulldog và 5 xe M-113. Phía Đại đội 1 bị bắn cháy 6 xe (1 xe tăng Type-63 và 5 xe thiết giáp). Ngày 23/9/1973, Đại đội 1 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân[1].


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]