M41 Walker Bulldog

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
M41 Walker Bulldog
M41 Walker Bulldog
Xe tăng hạng nhẹ M41
Loại76mm (hạng nhẹ[1]) Gun Tank M41
Quốc gia chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Việt Nam
 Áo
 Hàn Quốc
 Đan Mạch
 Đài Loan
 Philippines
 New Zealand
 Somalia
 Thái Lan
 Chile
 Brazil
 Tây Đức
 Tây Ban Nha
 Uruguay
 Israel
 Đan Mạch
Thông số
Khối lượng23,5 tấn
Chiều dài5,819 m
Chiều rộng3,2 m
Chiều cao2,71 m
Kíp chiến đấu4 người

Phương tiện bọc thép38 mm
Vũ khí
chính
pháo 1 x 76 mm M32
Vũ khí
phụ
súng máy 1 x 0,50, 1 x 0,30
Động cơđộng cơ xăng 6 xi lanh Continental AOS 895-3
373 kW
Công suất/trọng lượng21,3 hp/tấn
Hệ thống treotorsion bar
Tầm hoạt động161 km
Tốc độ45 mph (72 km/h)

(đáng chú thích)

M41 Walker Bulldog là loại xe tăng hạng nhẹ do Hoa Kỳ chế tạo, ban đầu có biệt danh Bulldog, về sau được đặt theo tên của vị tướng Hoa Kỳ đã tử trận tại Triều Tiên Walton Walker.

M41 là thành quả của quá trình phát triển xe tăng thử nghiệm T37. Nó đã trải qua nhiều cuộc chạy thử trong năm 1949. Năm 1950, hợp đồng sản xuất hàng loạt được ký kết. Cadillac Motor Car Division, một bộ phận của General Motors, là đơn vị chế tạo chiếc tăng này.

Xe tăng M41 có trọng lượng 23,5 tấn; chiều dài thân 5,819 m; chiều rộng 3,2 m; chiều cao 2,71 m; kíp chiến đấu 4 người (trưởng xe, pháo thủ, nạp đạn, lái xe). Vũ khí của M41 bao gồm pháo chính M32A1 cỡ 76mm (cơ số đạn 65 viên), cùng với 1 súng máy đồng trục 7,62 mm M1919A4 (cơ số đạn 5.000 viên) và 1 súng máy hạng nặng 12,7 mm M2 Browning (cơ số đạn 2.175 viên) bố trí trên nóc tháp pháo. Pháo 76mm của M41 đủ sức tiêu diệt mọi loại xe tăng hạng nhẹ thời bấy giờ, nếu sử dụng đạn xuyên giáp cao cấp APDS thì có thể bắn xuyên giáp trước của xe tăng hạng trung M48 ở cự ly 1.000 mét, hoặc giáp trước của xe tăng T-54 ở cự ly khoảng 500 mét.

Xe có động cơ xăng 6 xi lanh Continental AOS 895-3 công suất 600 mã lực (373 kW) cho tốc độ tối đa lên tới 72 km/h, tầm hoạt động 161 km.

Do là xe tăng hạng nhẹ nên M41 có vỏ giáp khá mỏng. Phía trước và 2 bên tháp pháo bọc giáp dày 25,4mm thép, phần khiên chắn quanh nòng pháo (mantle) dày 38mm, phía trước thân xe dày 31,7mm nghiêng 45 độ, những vị trí còn lại giáp chỉ dày khoảng 10-19 mm. Với lớp giáp như vậy, mặt trước M41 có thể chịu được đạn súng máy 12,7mm, hai bên hông xe có thể chịu được đạn súng máy 7,62mm, nhưng không thể chịu được mảnh đạn pháo cỡ lớn hoặc súng chống tăng chuyên dụng.

Nhìn chung, so với xe tăng hạng nhẹ cùng thời của Liên Xô là PT-76, M-41 có hỏa lực mạnh hơn, vỏ giáp hơi nhỉnh hơn. Tuy nhiên, xe nặng gấp rưỡi (21,3 tấn so với 14,6 tấn) nên không có khả năng tự lội nước, vượt sông ngòi, đầm lầy tốt như PT-76, cũng không đủ nhẹ để máy bay vận tải có thể mang theo (trong khi đây lại là mục tiêu thiết kế của M-41). Vì thế trong quân đội Mỹ, M41 bị chê bai vì kích thước "lỡ cỡ" của nó: nó không đủ nặng để có vỏ giáp tốt, nhưng cũng không đủ nhẹ để tăng tính cơ động.

Trong Chiến tranh Việt Nam, M-41 là loại xe tăng được Hoa Kỳ sử dụng phổ biến, bởi trọng lượng nhẹ của nó thích hợp với địa hình Việt Nam hơn là xe tăng hạng nặng. Ngoài ra, Mỹ còn trang bị loại xe tăng này cho quân đội Sài Gòn sử dụng nhiều trong các chiến dịch Lam Sơn 719, Tân Cảnh... trước khi được cung cấp xe tăng hạng nặng và tiên tiến hơn là M48 Patton. Vào thời điểm năm 1973, có hơn 200 chiếc M-41 Walker Bulldog đang phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trong toàn cuộc chiến, Mỹ đã viện trợ tổng cộng ít nhất 350 chiếc M41 cho quân đội Sài Gòn.

Quân đội Sài Gòn sử dụng M41 Walker trong một cuộc huấn luyện.

Trong và sau chiến tranh, nhiều chiếc M41 được Quân đội Nhân dân Việt Nam tịch thu như chiến lợi phẩm và cho vào lực lượng tăng dự bị. Năm 1975, xe tăng M41 số hiệu 021 của Quân đội Nhân dân Việt Nam (chiến lợi phẩm thu được tại Cheo Reo, Phú Bổn) đã bắn cháy 7 xe thiết giáp M113 của quân đội Sài Gòn trong trận Cầu Bông ngày 29/4/1975, góp phần mở đường cho quân đoàn 3 tiến vào giải phóng Sài Gòn. Cũng giống như M48, M41 được bổ sung vào các đơn vị thiết giáp tham gia Chiến tranh Biên giới Tây Nam 1979. Hiện nay, tuy không còn được biên chế trong các đơn vị chiến đấu, nhưng nhiều M41 vẫn được niêm cất bảo quản như phương tiện dự bị của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài Việt Nam, Hoa Kỳ còn xuất khẩu xe tăng này tới nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, từ những năm 1980, xe tăng M-41 trở nên lỗi thời, bị rút khỏi biên chế Quân đội Hoa Kỳ và bị bán dần cho nhà buôn phế liệu sắt thép, hoặc thậm chí bị ném xuống Thái Bình Dương. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều quốc gia sử dụng M41 như một loại tăng hạng nhẹ chủ lực trong biên chế quân đội và một số gói nâng cấp được đưa ra để kéo dài thời hạn sử dụng của loại tăng này.

Cho đến nay, M41 Walker Bulldog đã có những phiên bản sau:

  • M41 (1951).
  • M41A1 (1953).
  • M41A2 (1956).
  • M41A3.
M41A3.
Đài Loan M-41D

Ngoài ra còn có các phiên bản cải tiến do Brasil, Đức, Tây Ban Nha, Uruguay, Israel thực hiện.

Xe tăng M41 walker của quân đội hoàng gia Thái Lan trong cuộc đảo chính năm 2006.

Các quốc gia sản xuất và sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng nhiều quốc gia khác

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hunnicutt, R. P. "Patton: A History of the American Main Battle Tank." 1984 edition, Presidio Press; ISBN 0-89141-230-1 (vol 1).
  1. ^ Hunnicutt/p. 35