T-72

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
T-72
T-72
T-72 tại Bảo tàng Tăng Worthington, Canada.
Loại Tăng chiến đấu chủ lực
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1973 - nay
Quốc gia sử dụng Xem Các quốc gia sử dụng
Sử dụng trong Xem Lịch sử chiến đấu
Lược sử chế tạo
Giai đoạn sản xuất 1971 - nay
Số lượng chế tạo 25.000+
Các biến thể Xem Các phiên bản
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 41 tấn
41,5 tấn đối với T-72M [1]
41,5 tấn (không có ERA) đối với T-72M1[2]
44,5 tấn đối với T-72B[2]
44,5 tấn đối với T-72S[3]
Chiều dài 6.9 m
6.67 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72A[3]
6.95 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72M1, T-72B và T-72S[3][2]
Chiều rộng 3.6 m
3.59 m (3.37 m không có tấm giáp chắn sườn) đối với T-72A, T-72M1, T-72B và T-72S[3][2]
Chiều cao 2.2 m
2.19 m đối với T-72A[3]
2.23 m đối với T-72M1 và T-72B[2]
2.22 m đối với T-72S[3]
Kíp chiến đấu 3 (chỉ huy, lái xe và pháo thủ)

Bọc giáp Giáp Composite; bao gồm đèn hồng ngoại và ống phóng lựu đạn khói có giáp bảo vệ; Giáp Composite thế hệ 3; thép có độ cứng cao, tungsten và plastic cùng với ceramic
500 mm (19.7 in) trước tháp pháo (T-72M1)[2]
520 mm (20.5 in) trước tháp pháo (T-72B)[2]
Vũ khí chính Pháo nòng trơn 125 mm 2A46M, T-72B có thể phóng ATGM AT-11 "Svir"
Vũ khí phụ Súng máy đồng trục hạng nhẹ PKMT 7.62 mm (2.000 viên đạn)[2]
súng máy phòng không hạng nặng 12.7 mm DShK 1938/46 hoặc NSVT (300 viên đạn) phía trên vị trí chỉ huy[2]
Động cơ Động cơ 12-xylanh V-46-6 đối với T-72 "Ural"
động cơ 12-xylanh V-84 làm lạnh bằng khí đối với T-72B và T-72S[3]
động cơ 12-xylanh V-92S2 đối với T-72BM (T-72B "Rogatka")
780 hp (582 kW) với T-72 "Urał"
840 hp (626 kW) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
1000 hp (746 kW) với T-72BM (T-72B "Rogatka")
Công suất/trọng lượng 19 hp/tấn (14.2 kW/tấn) với T-72 "Urał"
20.5 hp/tấn (15.3 kW/tấn) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
24.9 hp/tấn (18.2 kW/tấn) với T-72BM (T-72B "Rogatka")
Hệ thống treo thanh xoắn
Khoảng sáng gầm 490 mm[2]
Sức chứa nhiên liệu 1200 l (317 gal)[2]
Tầm hoạt động 450 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 600 km
460 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 700 km cho T-72A, T-72M1 và T-72S[3][2]
500 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 900 km cho T-72B[3][2]
Tốc độ 60 km/h (37 mph) trên đường tốt[3][2]
45 km/h trên đường đất[3]

T-72 là xe tăng chiến đấu chủ lực của Liên Xô, được sản xuất vào năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. Mặc dù có hình dạng rất giống T-64, T-72 thực ra được phát triển từ T-62 và có trang bị thêm những chi tiết kỹ thuật từ T-64.[4] Mặc dù vậy, T-72 không đơn thuần là một mẫu cải tiến mà là một kiểu mới hoàn toàn và vượt trội so với người tiền nhiệm của mình.

T-72 nhanh chóng trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên Xô những năm 1970 và là niềm tự hào của Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết: ngay lúc nó ra đời, những mẫu tăng cùng thời như M60A3 PattonLeopard I trở thành “đồ bỏ”. Tuy nhiên, thời gian “tại vị” của nó không dài. Từ cuối thập niên 1980 trở đi, các phiên bản đầu của nó đã trở nên lạc hậu so với các loại như T-80U, M1 Abrams, Leopard 2, Challenger... Trong chiến tranh vùng Vịnh, lực lượng T-72 đông đảo của Iraq (hơn 1000 chiếc) đã bị xe tăng M1 Abrams và trực thăng AH-64 Apache của Mĩ đánh thiệt hại nặng (mặc dù nguyên do chủ yếu là sự yếu kém của binh lính Iraq và các mẫu T-72 của Iraq là các mẫu xuất khẩu đã bị cắt giảm tính năng). Dù vậy, các phiên bản hiện đại hóa của T-72 là "T-72BM Rogatka" và T-90 vẫn được đánh giá là một trong những loại xe tăng hiện đại nhất thế giới.

Hiện nay, T-72 vẫn còn được sử dụng tương đối rộng rãi ở trên 40 quốc gia với nhiều phiên bản từ cũ tới mới, thậm chí vẫn được xem là đối thủ đáng gờm của các xe tăng hiện đại. Bản thân nước Nga vẫn đang sử dụng hàng ngàn xe tăng T-72 và vẫn đang nâng cấp chúng để tiếp tục phục vụ trong quân đội của mình.

T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: Chiến tranh Chechen 1 và 2, Chiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh.

Thông số[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng T-72 của Nga
  • Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT)
  • Nước SX chính: Liên Xô và Nga
  • Nặng:
41 tấn với T-72
41,5 tấn với T-72M
44,5 tấn với T-72B
44,5 tấn với T-72S
  • Dài: 6,9m
  • Rộng: 3,6m
  • Cao: 2,2m
  • Tổ lái: 3 người
  • Giáp: Composite thế hệ 3, bao gồm thép tôi, vonfram, plastic và gốm
  • Vũ khí:
  • Súng chính:
125mm loại 2A46M nòng trơn
T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo
1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh
1 đại liên đồng trục 7,62mm
  • Động cơ:
V-46-6 12-cylinder diesel 780 mã lực với T-72 "Ural"
V-84 12-cylinder diesel 840 mã lực làm mát bằng không khí với T-72B and T-72S
V-92S2 12-cylinder diesel 1000 mã lực với T-72BM
  • Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72, 20,5 mã lực/tấn với T-72B, 24,9 mã lực/tấn với T-72BM
  • Tầm hoạt động: 450 km tới 460 km, 600 km tới 900 km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản
  • Tốc độ: 60 km/h trên đường nhưạ và 45 km/h trên đường gồ ghề

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc T-64 sản xuất cuối thập niên 1960 là loại tăng hiện đại nhất Liên Xô và thế giới thời đó. Tuy nhiên, chi phí sản xuất, bảo trì quá cao cùng với các trục trặc kỹ thuật ban đầu liên quan đến động cơ, xích xe tăng và pháo tăng khiến cho T-64 chỉ được sản xuất hạn chế và trang bị cho một số ít đơn vị tinh nhuệ của Hồng quân Liên Xô.

Yêu cầu lúc đó là phải chế tạo ra một mẫu tăng mới đơn giản, rẻ tiền, kinh tế, không dùng quá nhiều linh kiện kỹ thuật cao để có thể trang bị rộng rãi cho Hồng quân cùng quân đội các nước đồng minh, nhưng sức mạnh của nó phải tương đương T-64. Và thế là, “Obyekt 172” do Leonid Karchev chế tạo ra đời. Mẫu thử nghiệm “Obyekt 172M” được Valeri Venidikov hoàn thiện. Nhà máy xe tăng Uralvagonzavod đảm trách sản xuất. Sau đó vào năm 1971, nhà máy Chelyabinsk cũng lập tức đình chỉ sản xuất các mẫu T-55T-62 để tập trung vào T-72.

Thế là, trong khi T-64 chỉ được sản xuất hạn chế trong nội bộ Liên Xô, T-72 nhanh chóng trở thành loại tăng chủ lực phổ biến của Hồng quân Xô Viết và của quân đội nhiều nước trên thế giới, kể cả một số nước tư bản lớn. Nhiều nước khác cũng tham gia sản xuất T-72 hoặc các mẫu tăng giống như T-72, có nước sản xuất công khai hợp pháp, có nước sản xuất “chui”. Đã có hơn 25000 xe tăng T-72 được sản xuất trên thế giới. Có điều, tiền nào của nấy, xe tăng T-64 và các hậu duệ của nó là T-80, T-84 có chất lượng cao hơn T-72. Tuy nhiên, các bản nâng cấp của T-72, nhất là sau năm 1985 trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều: nó đã vượt qua T-64 và đạt sức mạnh gần bằng T-80 (trong khi giá thành vẫn rẻ).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé của các dòng tăng T-55,T-62, T-64 với cách bố trí bố cục quy ước. Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64. T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển. Hệ thống nhìn đêm của xạ thủ gắn bên phải súng chính. Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng không có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm. Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.

Tính năng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực[4], đến năm 1985 được trang bị động cơ V-84 840 mã lực, hiện nay được trang bị động cơ 1000 mã lực giống T-90[3]. Động cơ của T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái chứ không như ở mẫu T-62. Mặc dù có khoang động cơ lớn hơn T-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn (41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ gần như bằng T-64: 60 km/h trên đường nhưạ và 45 km/h trên đường gồ ghề. Mẫu T-72B còn được tăng cường động cơ V-12 piston làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng 3 loại nhiên liệu: Diesel, Benzen, Kerosene. 2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe. Mặc dù T-72 không kín nước, nó có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút.[4] Nếu xe tăng chết máy giữa lòng sông, nó sẽ chìm do giảm áp suất hoặc cần 6 giây để tái khởi động.

Mặc dù to hơn T-64, T-72 vẫn bị cho là “mi-nhon” hơn các xe tăng Phương Tây. T-72BM nặng nhất nhưng cũng không quá 48 tấn, còn M1 Abrams bản nhẹ nhất là 61 tấn. Một số trục đường rất nhỏ tại Liên Xô chỉ thiết kế riêng cho T-72 di chuyển, xe tăng Tây phương đi không được vì quá lớn. Tuy nhiên, để đánh đổi lấy trọng lượng nhẹ và giáp dày, khoang lái của T-72 trở nên chật hẹp tù túng, khiến cho tổ lái nhiều khi bị căng thẳng thần kinh và mau mệt mỏi.

Giáp trụ và hệ thống bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Giáp trụ của T-72 thay đổi tùy theo phiên bản. Nhưng nhìn chung, T-72 có hệ thống giáp bảo vệ tốt hơn T-62 nhờ sử dụng giáp dày hơn, phẩm chất tốt hơn và thưà hưởng những đặc tính tốt từ T-64[4]. Nguyên mẫu T-72 dùng giáp thép đúc. Các mẫu sau năm 1979 dùng giáp composite và trang bị thêm váy bảo vệ hông. Các mẫu cuối thập niên 1980 trở đi trang bị thêm giáp phản ứng và gạch ERA. Giáp tấm composite trên mẫu T-72Ural và T-72M dày tương đương 380mm thép cán tiêu chuẩn, có thể chống đỡ được đạn 105mm trên M1A1 Abrams từ khoảng cách trên 2000m[4] Phiên bản nâng cấp T-72B trang bị thêm giáp phản ứng nổ Kontakt-5 đạt độ dày tương đương 800mm thép cán tiêu chuẩn, có thể chịu được đạn pháo 120mm của M1A2 ở cự ly 1.500m. Tháp pháo của T-72B được bọc giáp có độ dày 500mm thép cán tiêu chuẩn, còn giáp trước có độ dày lên đến 300-500mm.

Phiên bản T-72M và T-72M1 còn được trang bị thêm thiết bị xác định tầm bắn bằng laser làm giảm thiệt hại khi trúng đạn ở khoảng cách 2000m và trở xuống. Bên cạnh hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, T-72 còn được trang bị hệ thống chống phóng xạ (trừ các phiên bản xuất khẩu), hệ thống bảo vệ NBC (bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học). T-72 có thiết bị tạo màn khói ngụy tran giống như các mẫu T-55, T-62, các ống phóng lựu đạn khói được lắp ở 2 bên hông tháp pháo.[4]

Tuy nhiên, giống như phần lớn xe tăng Liên Xô, hòm đạn T-72 đặt ở khoang chính và không cách biệt an toàn với tổ lái. Vì vậy, khi khoang chính bị trúng đạn làm hòm đạn có bị nổ tung thì các mảnh đạn sẽ văng vào tổ lái gây thương vong, có khi hòm đạn nổ làm cả tháp pháo bị hất tung lên không trung.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 được trang bị vũ khí, đạn và hệ thống điều khiển hoả lực tương tự như T-64[4]. Vũ khí chính của nó là pháo nòng trơn 125 ly. Hệ thống nạp đạn tự động gắn ở sau tháp pháo làm giảm số lượng tổ lái còn 3 người. Pháo chính của T-72 nếu sử dụng đạn xuyên giáp động năng kiểu mới BM-48-2 (Svitnetz-2) có thể xuyên thủng 800mm thép cán tiêu chuẩn ở cự ly 2.000m, có khả năng chọc thủng giáp trước của M1 Abrams từ khoảng cách 1000 tới 3000 m (tùy phiên bản M1).

Các phiên bản T-72 chất lượng cao (T-72A, T-72B, T-72S, T-72BM...) còn có khả năng phóng tên lửa AT-11 qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu từ cự ly xa 5.000 mét trong khi cự ly hiệu quả của đạn pháo tăng thông thường chỉ khoảng 3.000 mét, cho phép T-72 tiêu diệt xe tăng địch trước khi chúng có thể bắn trả. Đạn phá giáp BK-27 HEAT (đạn nổ mạnh chống tăng) gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA. Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đối phó với giáp cảm ứng, đạn MP thì có thể vỡ mảnh dùng để sát thương bộ binh. Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng). Tầm bắn tối đa của pháo là 9,1 km, của tên lửa là 5 km.[4]

T-72 không dùng thiết bị nạp hiện đại (nhưng phức tạp và đắt) của T-64 và T-80 (T-72 dùng hệ thống nạp ngang, còn T-64 dùng hệ thống phát động dọc). Tốc độ nạp vẫn tốt (6,5-15 giây/viên, tùy vị trí ổ quay) nhưng độ tin cậy thấp, dễ có trục trặc nếu bảo dưỡng kém. Thiết bị tự nạp sẽ đẩy nòng súng lên cao 3 độ nhằm ấn đuôi nòng xuống để nạp đạn, nhưng không ảnh hưởng đến tầm ngắm độc lập của pháo thủ. Nói chung việc nạp đạn cũng không gây nhiều phiền hà, và vỏ đạn cũng dễ cầm hơn.

Thiết bị nhìn đêm của T-72 gắn bên phải súng chính thay vì bên trái như T-64. Tuy nhiên, ở mẫu T-72 đầu tiên, nó vẫn nằm bên trái. Thiết bị ngắm 1K13-49 có thể dùng cho hai chức năng: nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lưả chống tăng qua nòng. T-72 còn có thể lắp đặt hệ thống định vị mục tiêu bằng nhiệt, bao gồm Agava-2 của Nga, SAGEM-produced ALIS của Pháp, thiết bị này có thể dùng để dẫn bắn tên lửa chống tăng vào ban đêm.[4]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

So với nhiều đồng sự của Liên Xô, T-72 có rất rất nhiều phiên bản. Và, như đã nói, ngoài Liên Xô, một số quốc gia khác như Tiệp Khắc, Ấn Độ, Ba LanNam Tư cũ cũng tham gia sản xuất T-72 theo kiểu riêng của mình[4], từ đó sinh ra vô số loại T-72 khác nhau.

- Năm 1994, Slovakia đã phối hợp với Pháp cải tiến phiên bản T-72M1 thành phiên bản T-72M1A và T-72M2 với hệ thống điều khiển hoả lực mới EFCS3-72, thay trọng liên phòng không 12,7mm bằng pháo 20mm hoặc 30mm.

- Năm 1995, Cộng hoà Séc với sự giúp đỡ của Israel đã thay thế động cơ diesel V-84 của Nga có công suất 840 sức ngựa bằng động cơ 6TD-1 có công suất 1000 ngựa, hoặc 6TD-2 công suất 1200 ngựa để có tính việt dã cao hơn, đồng thời sử dụng hệ thống điều khiển hoả lực tự động 15MP.[cần dẫn nguồn]

- Israel cũng đã trang bị hệ thống dẫn đường định vị toàn cầu GPS cho xe tăng T-72, nâng công suất động cơ lên 1000 sức ngựa, có thiết bị ảnh nổi bằng la-de TKN-3B và có các súng phóng lựu đạn khói ngụy trang.

- Năm 1998 Pháp cũng thay thế động cơ V-84 bằng động cơ V8X công suất 1000 sức ngựa với hệ thống làm lạnh cải tiến cho phép tăng tốc độ của xe tăng T-72 lên tới 70 ki-lô-mét/giờ, thay cơ cấu điều khiển tháp xe bằng thuỷ lực sang điều khiển bằng điện có sự can thiệp của máy tính.[cần dẫn nguồn]

- Nam Phi cũng trang bị cho xe tăng T-72 hệ thống dẫn đường định vị toàn cầu GPS, thay hệ thống điều khiển hoả lực bằng hệ thống của xe tăng Tiger của Đức, có đo báo động la-de kết hợp với đo cự ly bằng la-de, hệ thống quan sát ảnh nổi toàn cảnh và cuối cùng là thay hệ thống nâng hạ nòng pháo bằng điện.[cần dẫn nguồn]

- Nga đã cung cấp cho Ấn Độ bản thiết kế nâng cấp cho loại xe tăng T-72M1 đạt tính năng hiện đại như của xe tăng T-72S.

Liên Xô-Nga[sửa | sửa mã nguồn]

  • T-72 Ural (1973): Nguyên mẫu T-72.
    • T-72K: Mẫu T-72 dùng cho chỉ huy. Trang bị thêm radio R-130M.
    • T-72E: Mẫu T-72 dùng để xuất khẩu. Có thể trang bị thêm nòng 155mm của Anh, Pháp.
    • T-72 Ural cải tiến (1980): bộ phận nhìn đêm bên phải nòng súng, bỏ thiết bị đo xa TPD-2-49 và thêm các núm cao su bảo vệ.
  • T-72A (1979): Mẫu cải tiến của T-72 Ural. Hệ thống TKD-2-49 bị thay bằng hệ thống TPD-K1 dùng tia laser, thêm váy bảo vệ bánh xe, cải tiến giáp bảo vệ thùng nhiên liệu. Dùng giáp composite bảo vệ phía trước và nóc xe, về sau được trang bị thêm ở toàn tháp pháo (1986), giáp cảm ứng, ống phóng lựu MB, giáp chắn bùn, và nội thất có thay đổi. Năm 1984 có thêm lớp giáp chống radar. Các mẫu sau năm 1990 dùng động cơ V2S2.
    • T-72AK: Mẫu T-72A dành cho chỉ huy.
    • T-72M: Mẫu xuất khẩu của T-72A. Giáp mỏng hơn T-72A. Được sản xuất ở Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc.
  • T-72B (1985): Giáp dày hơn và dùng giáp composite nhiều hơn ở nóc xe, phía trước xe và hông tháp pháo. Hệ thống điều khiển bắn 1A40-1, 9K120 cho phép bắn ATGM, pháo 2A46GM, hệ thống nhìn 1K13-49, hệ thống ổn định, động cơ V-84, gạch ERA. Hệ thống xả khói mù dời sang bên trái tháp pháo.
    • T-72BK: Mẫu T-72 dành cho chì huy. Có nhiều ăng-ten và radio nằm dưới tháp pháo.
    • T-72BM (2006): hệ thống điều khiển bắn mới, kính hồng ngoại, hệ thống ngụy trang “Nakidka”, động cơ V2S2, giáp cảm ứng “Relikt” thế hệ 3 (mạnh gấp đôi giáp ERA Kontakt-5).
    • T-72S: Mẫu T-72B xuất khẩu. Chỉ có 155 miếng gạch ERA, hệ thống NBC đơn giản và không có lớp chống sóng radar.
    • T-72BU: đó chính là T-90.
  • T-72 Safir: thật ra đây không phải là xe tăng T-72. Nó là một mẫu cải tiến của T-54 mà Iraq dùng trong chiến tranh 1980-88.

Duro Dakovic M95 Degman: Phiên bản xe tăng T-72 do Séc chế tạo

Al Khalid (MBT 2000): T-72 do Pakistan hợp tác với Trung Quốc sản xuất

M-84: Phiên bản xe tăng T-72 do Nam Tư chế tạo

M-84A: Phiên bản xe tăng T-72 do Séc-bi chế tạo

DIO Zulfiqar: Iran sản xuất dựa trên mẫu T-72.

Type-96: T-72 do Trung Quốc sản xuất.

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajeya phiên bản MK2
T-72 Ajeya của Ấn Độ
  • Ajeya MK1 - Phiên bản Ấn Độ của T-72M. Giống như đối với T-90S, bên cạnh nhập khẩu các xe tăng từ Liên Xô, Ấn Độ cũng cố gắng tự chế tạo một đội ngũ T-72 cho riêng mình và đặt cái tên là Ajeya. 900 xe tăng T-72 Ajeya MK1 được chế tạo tại một nhà máy nằm tại vùng Avadi và đến năm 1993 chúng được nâng cấp lên chuẩn T-72M1 của Liên Xô cũ.[5]
  • Ajeya MK2 - Phiên bản Ấn Độ của T-72M1, còn được gọi là Xe tăng chiến đấu Ajeya cải tiến (Combat Improved Ajeya). Vì tập trung sức lực vào mẫu tăng thuần nội địa Arjun nên trong suốt một thời gian dài các xe tăng T-72 Ấn Độ không được nâng cấp. Tuy nhiên, sau đó kế hoạch về Arjun bị đình trệ vì quá nhiều khó khăn phát sinh và kết quả là Ấn Độ tiến hành Chiến dịch Rhino nhằm tái trang bị và nâng cấp cho 1500 xe tăng T-72M1, và các xe tăng này trở thành Ajeya MK2. Chương trình nâng cấp bao gồm việc bổ sung hệ thống điều khiển bắn/thiết bị nhìn hồng ngoại SKO-1T DRAWA-T của Ba Lan, cung cấp bởi hãng PCO/Cenzi (hệ thống này lấy từ xe tăng PT-91 Twardy); giáp phản ứng DRDO; hệ thống định hướng dành cho Tamam của Israel; Litef của Đức hay RDI của Nam Phi; hệ thống đèn báo nguy sản xuất trong nước; radio kiểu mới chế tạo bởi Tadidran hay GES Marconi và hệ thống bảo vệ NBC cải tiến. Ajeya MK2 còn trang bị động cơ S-1000 công suất 1000 mã lực (750 kW) chế tạo bởi hãng PZL-Wola của Ba Lan (động cơ này cũng được trang bị cho PT-91 Twardy). Nó cũng được trang bị một fire detection and suppression systems và thiết bị cảnh báo bằng laser ở hai bên tháp pháo. Các nguồn tin Ấn Độ cho rằng có khoảng 1800-2000 T-72M1 được nâng cấp toàn diện, số còn lại sẽ chỉ được nâng cấp một phần.[5]
  • Tank EX - Phiên bản thử nghiệm của Ấn Độ, kết hợp giữa tháp pháo của xe tăng Arjun với thân của T-72

Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nhật báo tin tức quốc phòng Mĩ đưa tin, Iraq đang lên kế hoạch cải tiến hơn 2000 xe tăng T-72 vừa mua từ các nước Đông Âu. Tập đoàn Defense Solutions of Exton, Pa của Mĩ sẽ đảm nhận việc tháo khung và tiến hành lắp đặt các thiết bị mới cho số xe tăng này. Tim Ringgold - Tổng giám đốc Defense Solutions of Exton, Pa nói: “Chúng tôi sẽ tiếp nhận tất cả những chiếc xe tăng theo hợp đồng sau đó sẽ tháo toàn bị “nội thất” bên trong và thay thế chúng bằng những trang bị hiện đại”.

“Sau khi hoàn thành số tăng chiến trường có từ thời kỳ Liên Xô này sẽ có khả năng chiến đấu trong cả điều kiện ban đêm và ban ngày” – Ông Tim Ringgold nói thêm.

Tổng giám đốc Defense Solutions of Exton, Pa cho biết ông hy vọng sẽ nhận được hợp đồng yêu cầu chính thức từ phía các quan chức của chính quyền Iraq về thương vụ quy mô lớn này trong tuần tới. Phiên bản xe tăng T-72 mới này sẽ là đối thủ đầy hứa hẹn với T-72BM của Quân đội Nga.

Pakistan[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Khalid là sản phẩm hợp tác giữa Pakistan và Trung Quốc. Nó cũng có cơ chế nạp đạn tự động. Trang bị giáp liên hợp và phản ứng nổ. Hệ thống ngắm bắn có nguồn gốc phương Tây, hoàn toàn vi tính hóa. Al Khalid có bộ nguồn phụ trợ, cung cấp điện khi động cơ không hoạt động. Nó có hệ thống cảnh báo laser tiên tiến.

Al Khalid cũng được trang bị pháo 125mm, cơ số đạn 39 viên. Thân và tháp pháo đều dùng hàn, không sử dụng đinh rivet. Xe được bảo vệ khỏi phóng xạ và sinh hóa, cùng với hệ thống dập lửa. Ngoài ra, nó có hệ thống bảo vệ chủ động bằng laser, dùng tia laser để làm 'lóa' cảm biến nhiệt của tên lửa, cũng như làm tổn thương mắt của đối phương nếu chiếu vào thiết bị quang học. Khung gầm của nó cũng gần như giống với T-72. Động cơ Diesel 1200 mã lực.

Xe nặng 48 tấn, tổ lái 3 người, tốc độ tối đa 65 km/h, tầm hoạt động 450–600 km. Vượt dốc 40%, chướng ngại vật cao 0.8m, hào rộng 3m, lội nước 1.2m, 5m nếu có trang bị ống thông khí. Hợp đồng mua thiết bị xe tăng do Islamabad ký với Ukraina có tổng trị giá 100 triệu USD. Theo đó, Pakistan sẽ nhập 285 động cơ và hệ thống truyền động để nâng cấp các xe tăng al-Khalid hiện thời, trong khoảng thời gian 3 năm. Xe tăng al-Khalid được Trung Quốc và Ukraina hợp tác sản xuất và bán cho quân đội Pakistan. Theo hãng tin ITAR-TASS, loại động cơ mới trên có công suất 1.200 mã lực. Nó sẽ cho phép al-Khalid di chuyển với vận tốc tối đa 65 km/h. Trong khi đó, Giám đốc trung tâm nghiên cứu quốc phòng Ukraina Valentin Badrak tiết lộ, nước ông chỉ cung cấp máy móc và thùng chứa nhiên liệu cho xe tăng al-Khalid của Pakistan. Ông cũng khẳng định hợp đồng này không hề làm thay đổi cán cân quân sự hiện nay tại khu vực Nam Á. Giữa những năm 1990, Ukraina đã bán 320 xe tăng T-80UD (T-84), do Liên Xô cũ thiết kế, cho Islamabad. Hành động đó khiến Ấn Độ phải xem xét việc mua xe tăng T-90 của Nga để lấy lại cân bằng quân sự.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Type-96 là loại cuối cùng trong chương trình xe tăng thế hệ hai của TQ. Phiên bản thử nghiệm mang tên Type-85. Xe được trang bị pháo nòng trơn 125mm, cơ chế nạp đạn tự động, cả 2 đều copy từ T-72 của Nga. Tốc độ bắn tối đa 8 viên/phút, tổng số đạn 41 viên. Nó có khả năng phóng tên lửa chống tăng từ nòng súng, ví dụ như AT-11 của Nga mà TQ có bản quyền để sản xuất, nhưng chỉ dùng được khi xe tăng đứng yên, có 1 súng máy PK 12,7mm và 1 súng máy đồng trục 7,62mm. Nặng 42,5 tấn. Type-96 bắt đầu được đưa vào trong biên chế từ năm 1997, khoảng 1.500-2.000 chiếc đã được sản xuất. Nó có thể dùng để chống trực thăng. Tầm bắn 4–5 km. Các thông số về khả năng cơ động gần giống Al-Khalid.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia hiện đang sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia sử dụng T-72
T-72 Hungaria.
T-72 MBT và BMP-1 IFV tân trang thuộc Sư đoàn cơ giới số 9 Iraq ở Taji, Iraq.
  •  Algérie - 500
  •  Angola - 22 T-72M1 mua từ Belarus năm 1999.[5]
  •  Armenia - 160 [3]
  •  Azerbaijan - 180 T-72A và T-72B năm 2003[3]
  •  Belarus - 1.465 T-72B[6][7]
  •  Bungary - 430 T-72M và T-72A năm 2003 [3]
  •  Croatia - 3 (xem thêm M-84)
  •  Cuba - Khoảng 50 [3]
  •  Cộng hòa Séc - 543 chiếc hưởng từ Tiệp Khắc năm 1993. 179 chiếc tăng chiến đấu chủ lực T-72 đang trong biên chế kể từ 1 tháng 1 năm 2008. Trước đó có 181 chiếc T-72 trong biên chế.[8]
  •  Ethiopia - 50 chiếc từ Yemen
  • Cờ của Gruzia Gruzia - 230+ (Т-72B1, Т-72M và phiên bản Т-72A Ukraina)
  •  Hungary - 180 T-72, T-72M và T-72A [3]
  • Flag of India.svg Ấn Độ - 1.700 T-72M và T-72M1 [9]
  •  Iran - 480 T-72M1 và T-72S từ năm 2002 (200 chiếc vào năm 1995 và 120 năm 2000) [10]
  •  Iraq - 1000 chiếc gồm các kiểu T-72, T-72M, T-72M1, Lion of Babylon và Saddam đã hoạt động trong quân đội Iraq năm 1990. 375 chiếc T-72, T-72M, T-72M1, Lion of Babylon và Saddam hoạt động trong quân đội Iraq năm 2003. Chỉ có 77 chiếc T-72M1 đang hoạt động năm 2007 trong quân đội Iraq mới[11]
  •  Kazakhstan - 650
  •  Kyrgyzstan - 210
  •  Libya - 150 năm 2003 [3]
  •  Malaysia
  • Flag of Morocco.svg Maroc - 200
  •  Cộng hòa Macedonia - 30 T-72A và 1 T-72AK từ Ukraina
  •  Myanmar - 139 T-72S
  •  CHDCND Triều Tiên - Chắc chắn 1 chiếc T-72S đã được bán cho Bắc Triều Tiên vào đầu thập niên 1990.[12]
  •  Ba Lan - 586 T-72M1 (2005 - 644, 2006 - 596)[13] and 135 T-72M1Z[14] (T-72M1 nâng cấp thành tiêu chuẩn PT-91) (Còn 98 chiếc PT-91 đang hoạt động) Kế hoạch cho T-72M1 nghỉ hưu năm 2010.
  •  Nga - 9700 đang hoạt động.[15][16]
  •  România - 30 T-72 và 3 hoặc 5 TR-125 (đang được rút dần khỏi hoạt động)
  •  Serbia - 65 T-72M
  •  Slovakia - 272 T-72M và T-72M1 [3]
  • Flag of South Africa.svg Nam Phi - [5]
  •  Syria - 1.600 [17]
  •  Tajikistan - 44 (33 năm 2000) [18]
  •  Turkmenistan - 702 [19]
  •  Ukraina - 1.180[20]
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ (display, tests)
  •  Uzbekistan - 70 [21]
  •  Yemen - 39 năm 2003 [3]
  • Cờ Việt Nam Việt Nam - Không rõ con số cụ thể , ít hơn 10 chiếc , chuyển giao đầu những năm 2000
Flag of Abkhazia.svg

Abkhazia

Các quốc gia sử dụng trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 và BMP-2 thuộc Đông Đức (cũ)
T-72M1 của Syria bị Israel chiếm, trưng bày tại Bảo tàng Yad la-Shiryon.
  • Flag of Chechen Republic of Ichkeria.svg
    Cộng Hòa Chechen Ichkeria - Sử dụng vài chục chiếc, mua từ Liên Xô, Nga và chiếm được trong và sau Chiến tranh Chechen lần thứ nhất.
  • Flag of the Czech Republic (bordered).svg Tiệp Khắc - Khoảng 1.700 chiếc T-72/T-72M/T-72M1 được sản xuất từ 1981 đến 1990. Quân đội Tiệp Khắc có 815 T-72 năm 1991. Tất cả chuyển cho các nước cộng hòa độc lập.
  • Flag of East Germany.svg Đông Đức - 35 T-72 (từ Liên Xô), 219 T-72 (từ Ba Lan và Tiệp Khắc), 31 T-72M (từ Liên Xô), 162 T-72M (từ Ba Lan và Tiệp Khắc) và 136 T-72M1. 775 T-72 được trang bị thêm giáp vỏ. Ngừng hoạt động khi Đức hợp nhất.[22]
  • Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan - Khoảng 160-170 T-72M1. Trong đó có khoảng 70 T-72M1 (một lữ đoàn bọc giáp) được mua từ Liên Xô và chuyển giao năm 1984, 1985-1988 và 1990. 97 chiếc T-72M1 nữa (bao gồm một số nhỏ thuộc phiên bản chỉ huy T-72M1K và T-72M1K1) được mua từ Đức năm 1992-1994. Tất cả hiện đã ngừng hoạt động, và được bán cho Cộng hòa Séc.[23]
  •  Israel - Chiếm được một số chiếc T-72M1 của Syria, nhưng không giống như T-54/T-55 và T-62, chúng không được sử dụng. Một trong số đó được trưng bày tại bảo tàng Yad la-Shiryon.
  •  Serbia và Montenegro - Chuyển cho các nước cộng hòa.
  •  Liên Xô - Chuyển cho các nước cộng hòa.
  • Flag of Germany.svg Tây Đức/Flag of Germany.svg Đức - 549 chiếc được chuyển từ quân đội Đông Đức, tất cả đều bị loại bỏ, bán cho các quốc gia khác hoặc trưng bày tại viện bảo tàng.
  • Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư - 90 T-72M và 3 T-72MK chế tạo tại Tiệp Khắc và Liên Xô; chuyển cho các nước cộng hòa. (xem thêm M-84)
  •  Nam Tư - Chuyển cho các nước cộng hòa.

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

T-72M Iraq năm 2006
T-72 bị phá hủy.

Lần đầu tiên T-72 được sử dụng trong chiến trận vào năm 1982 để chống lại cuộc xâm chiếm quân sự của Israel vào Siry. Quân đội Siry đã bố trí khoảng 250 xe tăng T-72M. Dù chỉ là phiên bản xuất khẩu đã bị cắt giảm tính năng và vỏ giáp, các xe tăng T-72 của Siry vẫn chứng minh sự vượt trội của mình trước kỹ thuật thiết giáp của đối phương (gồm chủ yếu là các loại M48 PattonM60 của Mỹ). Sự thể hiện nằm ở khả năng cơ động lớn, sự phòng thủ cao và hỏa lực mạnh của các xe tăng này. Pháo 105mm trên xe M60 và Merkava, loại pháo tăng mạnh nhất của phương Tây thời điểm đó, đã không thể xuyên được giáp trước của T-72M từ cự ly ngoài 1500 mét. Trên các tấm giáp đầu của một vài T-72 đã đếm được khoảng 10 vết lõm từ đạn xuyên giáp của địch. Mặc dù vậy, các xe tăng đã duy trì được khả năng chiến đấu và không bị loại khỏi vòng chiến. Trong cùng thời điểm đó, đạn pháo 125mm trên T-72 đủ khả năng bắn thủng đầu xe tăng địch ở tầm xa 2000 mét. Theo lời từ một sĩ quan Liên Xô làm cố vấn trong quân đội Siry, sau khi trúng đạn D-81TM từ cự ly khoảng 1200 mét, tháp pháo của xe tăng Israel đã bị vỡ tung từ đốc pháo. Theo tài liệu Siry, các xe T-72 của họ đã tiêu diệt hàng chục xe tăng địch mà chỉ tổn thất duy nhất 1 xe T-72 do đạn pháo của xe tăng địch (11 xe T-72 khác bị mất do bị bộ binh Israel trang bị tên lửa chống tăng TOW phục kích)[24]

Năm 1988, T-72 tiếp tục tham gia trong Chiến tranh Iran-Iraq. Bộ chỉ huy quân đội Iraq đã quyết định tấn công mạnh trong khu vực bán đảo Fao. Quân Iraq tiến hành mũi công kích chính vào phía tây cửa sông Shatt – al – Arab với mục đích giải tỏa đường thủy tới bến cảng Basra. Chỉ huy quân đội Iraq đã quyết định tấn công trong thời gian 4-5 ngày. Các hoạt động chiến sự diễn bắt đầu vào buổi sáng 17 tháng 4 năm 1988 bằng cuộc tấn công theo hai hướng với sự tham gia của 200.000 quân. Hướng tấn công chính bằng lực lượng xe tăng Vệ binh cộng hòa trang bị các xe tăng T-72 và T-72M, từ tuyến Al Zubari – Umm Kasr tới đông nam. Buổi sáng, cuộc tấn công quy mô lớn của xe tăng bắt đầu, dẫn đầu là T-72, đã khai hỏa với cường độ cao và dội bão đạn vào đối phương. Đối thủ duy nhất của T-72 khi đó chỉ có thể là xe tăng chủ lực “Chieftain” được trang bị pháo nòng rãnh xoắn 120mm. Cuộc đối đầu giữa T-72 và “Chieftain”đã dẫn đến thiệt hại nặng nề cho cả hai phía. M60, M48 Patton và các xe tăng khác của Iran không phải là nguy cơ đe dọa đối với T-72M – giáp đầu xe chịu được sức công phá của pháo tăng 105mm trên 2 loại xe này. Trong điều kiện vượt trội gần như hoàn toàn về xe tăng, quân đội Iraq đã chiến thắng sau 32 giờ.

Trong thời gian chiến dịch “Bão táp sa mạc” năm 1991, T-72M có mặt trong quân đội Iraq chống lại liên quân do Mỹ cầm đầu. Một loạt các thông số kỹ thuật quan trọng của T-72 phần nào đó so sánh được với M1 và M1IP – vẫn còn được trang bị pháo chính 105mm, nhưng với M1A1HA (phiên bản tăng cường giáp và trang bị pháo 120mm mới nhất của phương Tây), T-72M không có chỉ số kỹ thuật so sánh được. Các biến thể sau cùng của M1 Abrams được bảo vệ trong thiết kế giáp đầu xe tốt, có các loại đạn xuyên giáp dưới cỡ nòng mạnh với lõi đạn bằng uranium nghèo, các khí tài quan sát, thông tin liên lạc hiện đại, đồng thời hệ thống điều khiển vũ khí được tăng cường khả năng tự động hóa. Hơn nữa, các xe tăng T-72M của Iraq là phiên bản xuất khẩu bị cắt giảm tính năng, nó thua kém hoàn toàn cả về hỏa lực và vỏ giáp so với các phiên bản T-72S và T-72B của quân đội Liên Xô (ví dụ: đạn thanh xuyên dưới cỡ của T-72M Iraq có sức xuyên phá chỉ bằng một nửa so với đạn cùng loại của T-72B Liên Xô, giáp của T-72M chỉ dày bằng 1/2 so với T-72B có trang bị ERA). Cùng với đó, phần lớn thiệt hại của phía Iraq gặp phải là từ không kích.

Trong Chiến tranh Chechen lần thứ nhất, T-72 của quân đội Nga không gặp phải đối thủ thiết giáp đáng kể, phần lớn nguy hiểm mà chúng gặp phải là từ vũ khí chống tăng của bộ binh. Việc sử dụng các xe tăng chưa chuẩn bị sẵn sàng cho chiến đấu (không có giáp phản ứng nổ, không chuẩn bị vũ khí…), các phân đội không được huấn luyện không có sự phối hợp giữa lính tăng và lính bộ binh cơ giới trong điều kiện chiến tranh đường phố chống lại các chiến binh Checchen được chuẩn bị tốt, trang bị số lượng lớn các khí tài chống tăng đã dẫn đến thiệt hại đáng kể. Mỗi xe tăng trong quá trình chiến đấu ở đường phố ở Grozny đã bị trúng 6 – 7 phát đạn từ súng hoặc tên lửa chống tăng. Khi đó, hỏa lực gần như được đặt sẵn cũng như được ngắm sẵn vào những chỗ dễ bị tổn thương nhất của xe tăng như thành, đuôi xe, nóc buồng động lực và phía sau tháp pháo. Mặc dù vậy, trong số ít trường hợp, sự khéo léo trong hoạt động của kíp xe cho phép mang tới kết quả tốt. Ví dụ như trong tháng 1 năm 1995, xe tăng T-72B từ lữ đoàn bộ binh cơ giới 131 (“Maikopsky”) đã bị tấn công đồng thời từ một số tổ súng phóng lựu RPG-7. Bằng sự cơ động khéo léo, chiếc T-72 cuối cùng đã tiêu diệt được các chiến binh và rời khỏi trận địa an toàn. Trên thân xe và tháp pháo sau đó đếm được bị trúng 7 phát đạn, nhưng không có phát đạn nào xuyên qua giáp. Năm 1995, một xe T-72 đã bị trúng liền 4 tên lửa AT-4. Mặc dù vậy, các tên lửa chống tăng chỉ làm nổ các phần tử giáp phản ứng nổ, kíp xe và xe tăng vẫn duy trì được khả năng chiến đấu và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trong chiến tranh Checchen lần thứ hai, thiệt hại về tăng thiết giáp của Quân đội Nga ít hơn đáng kể so với lần thứ nhất. Đã có số lượng lớn các sĩ quan có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, sự huấn luyện các kíp xe và tổ chức phối hợp chính xác cùng toàn bộ sự đảm bảo của mọi bên trong các hoạt động chiến đấu. Ví dụ như đại đội tăng thuộc lữ đoàn bộ binh cơ giới độc lập số 205 trong khi giải phóng khu vực Ctaropromưlov thuộc Grozny tháng 12 năm 1999 đến tháng 1 năm 2000. Ví dụ như ở Grozny, hỏa lực địch chỉ làm bị thương một xe tăng của đại đội này và chỉ trong thời gian ngắn nhất nó đã được đưa đến phân đội sửa chữa của lữ đoàn, không ai trong kíp xe bị thương vong. Khoảng thời kỳ từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 8 năm 2000, đại đội T-72 này không thiệt hại bất kỳ một người hay một chiếc xe tăng nào.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sewell, Stephen ‘Cookie’ (1998). “Why Three Tanks?” in Armor vol. 108, no. 4, p. 21. Fort Knox, KY: US Army Armor Center. ISSN 0004-2420. (PDF format)
  • Christopher. F. Foss, Jane's Armour and Artillery 2005-2006. ISBN 978-0-7106-2686-8.
  • Leizin, Uri (2004) "Two myths of one battle: Syrian T-72's in 1982 Lebanon war"(in Russian)
  • Zaloga, Steven J (1993) T-72 Main Battle Tank 1974-93, Osprey Publishing ISBN 1-85532-338-9.
  • Ustyantsev, Sergej Viktorovich; Kolmakov Dmitrij Gennadevich "Boyeviye mashiny Uralvagonzavoda. Tank T-72"
  • A.V. Karpenko (1996) "Obozreniye Bronetankovoj Tekhniki (1905-1995 gg.)" Nevskij Bastion

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

AFV có thể so sánh được[sửa | sửa mã nguồn]

Trình tự thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

T-54 - T-55 - T-62 - T-64 - T-72 - T-80 - T-90 - T-95

Danh sách liên quan[sửa | sửa mã nguồn]