T-72

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
T-72
T-72
T-72 tại Bảo tàng Tăng Worthington, Canada.
Loại Tăng chiến đấu chủ lực
Quốc gia chế tạo  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ 1973 - nay
Sử dụng bởi

Xem Các quốc gia sử dụng

 Liên Xô
 Nga
 Cuba
 Israel
 Ba Lan
 Iran
 Iraq
 Syria
 Serbia
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Kazakhstan
 Ấn Độ
 Belarus
 Algérie
 România
 Ukraina
 Nam Phi
 Maroc
 Cộng hòa Séc
 Tiệp Khắc
 Việt Nam
Cuộc chiến tranh Xem Lịch sử chiến đấu
Lược sử chế tạo
Giá thành 280.000 rúp (T-72B, thời giá 1986)
Giai đoạn sản xuất 1971 - nay
Số lượng chế tạo 25.000+
Các biến thể Xem Các phiên bản
Thông số
Khối lượng 41 tấn
41,5 tấn đối với T-72M [1]
41,5 tấn (không có ERA) đối với T-72M1[2]
44,5 tấn đối với T-72B[2]
44,5 tấn đối với T-72S[3]
Chiều dài 6.9 m
6.67 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72A[3]
6.95 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72M1, T-72B và T-72S[3][2]
Chiều rộng 3.6 m
3.59 m (3.37 m không có tấm giáp chắn sườn) đối với T-72A, T-72M1, T-72B và T-72S[3][2]
Chiều cao 2.2 m
2.19 m đối với T-72A[3]
2.23 m đối với T-72M1 và T-72B[2]
2.22 m đối với T-72S[3]
Kíp chiến đấu 3 (chỉ huy, lái xe và pháo thủ)

Phương tiện bọc thép T-72Ural (nguyên bản đầu tiên), T-72M và T-72M1 (các phiên bản xuất khẩu): Giáp thép thông thường
T-72A, T-72B (các phiên bản dành cho quân đội Liên Xô): Giáp Composite; đèn hồng ngoại và ống phóng lựu đạn khói có giáp bảo vệ;
T-72B3 (phiên bản hiện đại hóa của Nga): Giáp Composite thế hệ 3; thép có độ cứng cao, tungsten và plastic cùng với ceramic
Độ dày quy đổi ra thép tiêu chuẩn:
380 mm (15 in) trước tháp pháo (T-72Ural và T-72M)
420 mm (16,6 in) trước tháp pháo (T-72M1)
500 mm (19,7 in) trước tháp pháo (T-72A)[2]
520 mm (20,5 in) trước tháp pháo (T-72B)[2]
Vũ khí
chính
Pháo nòng trơn 125 mm 2A46M
T-72A, T-72B, T-72S và T-72BM có thể phóng tên lửa AT-11 "Svir" qua nòng pháo
Vũ khí
phụ
Súng máy đồng trục hạng nhẹ PKMT 7.62 mm (2.000 viên đạn)[2]
súng máy phòng không hạng nặng 12.7 mm DShK 1938/46 hoặc NSVT (300 viên đạn) phía trên vị trí chỉ huy[2]
Động cơ Các loại động cơ 12-xylanh:
V-46-6 đối với T-72 "Ural"
V-84 làm lạnh bằng khí đối với T-72B và T-72S[3]
V-92S2 đối với T-72B2/B3
V-92S2F đối với T-72B3M
780 hp (582 kW) với T-72 "Urał"
840 hp (626 kW) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
1.000 hp (746 kW) với T-72B2/B3
1.130 hp (840 kW) với T-72B3M
Công suất/trọng lượng 19 hp/tấn (14,2 kW/tấn) với T-72 "Urał"
20,5 hp/tấn (15.3 kW/tấn) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
22,1 hp/tấn (16.7 kW/tấn) với T-72B2/B3
24,9 hp/tấn (18.6 kW/tấn) với T-72B3M
Hệ thống treo thanh xoắn
Khoảng sáng gầm 490 mm[2]
Sức chứa nhiên liệu 1200 lít (317 gal)[2]
Tầm hoạt động 450 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 600 km
460 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 700 km cho T-72A, T-72M1 và T-72S[3][2]
500 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 900 km cho T-72B[3][2]
Tốc độ 60 km/h (37 mph) trên đường tốt[3][2]
45 km/h trên đường đất[3]

T-72 là xe tăng chiến đấu chủ lực của Liên Xô, được sản xuất vào năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. Mặc dù có hình dạng rất giống T-64, T-72 thực ra được phát triển từ T-62 và có trang bị thêm những chi tiết kỹ thuật từ T-64.[4] Mặc dù vậy, T-72 không đơn thuần là một mẫu cải tiến mà là một kiểu mới hoàn toàn và vượt trội so với người tiền nhiệm của mình.

T-72 nhanh chóng trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên Xô những năm 1970 và là niềm tự hào của Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết: ngay lúc nó ra đời, những mẫu tăng cùng thời như M60A3 PattonLeopard I trở thành "đồ bỏ". Tuy nhiên, thời gian "tại vị" của nó không dài. Từ cuối thập niên 1980 trở đi, các phiên bản đời đầu của nó đã trở nên lạc hậu so với các loại như T-80U, M1 Abrams, Leopard 2, Challenger... Dù vậy, các phiên bản hiện đại hóa của T-72 như "T-72BM Rogatka", T-72B3 và vẫn được đánh giá là một trong những loại xe tăng hiện đại trên thế giới. Một phiên bản hiện đại hóa của T-72 chính là T-90, loại xe tăng hiện đại bậc nhất thế giới trong thập niên 2010.

Hiện nay, T-72 vẫn còn được sử dụng tương đối rộng rãi ở trên 40 quốc gia với nhiều phiên bản từ cũ tới mới, thậm chí vẫn được xem là đối thủ đáng gờm của các xe tăng hiện đại. Bản thân nước Nga vẫn đang sử dụng hàng ngàn xe tăng T-72 và vẫn đang nâng cấp chúng để tiếp tục phục vụ trong quân đội của mình.

T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: Chiến tranh Lebanon 1982, Chiến tranh Chechen 1 và 2, Chiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh.

Thông số[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng T-72 của Nga
  • Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT)
  • Nước SX chính: Liên Xô và Nga
  • Nặng:
41 tấn với T-72
41,5 tấn với T-72M
44,5 tấn với T-72B
44,5 tấn với T-72S
  • Dài: 6,9m
  • Rộng: 3,6m
  • Cao: 2,2m
  • Tổ lái: 3 người
  • Giáp: Composite thế hệ 3, bao gồm thép tôi, vonfram, plastic và gốm
  • Vũ khí:
  • Súng chính:
125mm loại 2A46M nòng trơn
T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo
1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh
1 đại liên đồng trục 7,62mm
  • Động cơ:
V-46-6 12-cylinder diesel 780 mã lực với T-72 "Ural"
V-84 12-cylinder diesel 840 mã lực làm mát bằng không khí với T-72B và T-72S
V-92S2 12-cylinder diesel 1.000 mã lực với T-72B2/B3
V-92S2F 12-cylinder diesel 1.130 mã lực với T-72B3M
  • Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72, 20,5 mã lực/tấn với T-72B, 24,9 mã lực/tấn với T-72B3M
  • Tầm hoạt động: 450 km tới 460 km, 600 km tới 900 km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản
  • Tốc độ: 60 km/h trên đường nhưạ và 45 km/h trên đường gồ ghề

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc T-64 sản xuất cuối thập niên 1960 là loại tăng hiện đại nhất Liên Xô và thế giới thời đó. Tuy nhiên, chi phí sản xuất, bảo trì quá cao cùng với các trục trặc kỹ thuật ban đầu liên quan đến động cơ, xích xe tăng và pháo tăng khiến cho T-64 chỉ được sản xuất hạn chế và chỉ trang bị cho các đơn vị tinh nhuệ của Hồng quân Liên Xô, cũng không được phép xuất khẩu cho các nước đồng minh.

Yêu cầu lúc đó là phải chế tạo ra một mẫu tăng mới đơn giản, rẻ tiền, kinh tế, không dùng quá nhiều linh kiện kỹ thuật cao để có thể trang bị rộng rãi cho Hồng quân cùng quân đội các nước đồng minh, nhưng sức mạnh của nó phải gần bằng T-64 và vượt trội hơn T-62. Và thế là, "Obyekt 172" do Leonid Karchev chế tạo ra đời. Mẫu thử nghiệm "Obyekt 172M" được Valeri Venidikov hoàn thiện. Nhà máy xe tăng Uralvagonzavod đảm trách sản xuất. Sau đó vào năm 1971, nhà máy Chelyabinsk cũng lập tức đình chỉ sản xuất các mẫu T-55T-62 để tập trung vào T-72.

Thế là, trong khi T-64 chỉ được sản xuất hạn chế trong nội bộ Liên Xô, T-72 nhanh chóng trở thành loại tăng chủ lực phổ biến của Hồng quân Xô Viết và của quân đội nhiều nước trên thế giới, kể cả một số nước tư bản lớn. Theo tính toán của Liên Xô, T-72 là một thiết kế rất hiệu quả dựa trên tiêu chí tính năng - giá thành. Sức chiến đấu của T-72B chỉ kém hơn T-80U khoảng 10%, trong khi giá thành lại rẻ chỉ bằng 1/3 (theo thời giá năm 1986, T-72B có giá 280.000 rúp, trong khi T-80U có giá tới 824.000 rúp)[5]

Nhiều nước khác cũng tham gia sản xuất T-72 hoặc các mẫu tăng giống như T-72, có nước sản xuất công khai hợp pháp, có nước sản xuất "chui". Đã có hơn 25.000 xe tăng T-72 thuộc mọi phiên bản được sản xuất trên thế giới. Có điều, tiền nào của nấy, xe tăng T-64 và các hậu duệ của nó là T-80, T-84 có chất lượng cao hơn T-72. Tuy nhiên, các bản nâng cấp của T-72, nhất là sau năm 1985 trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều: nó đã vượt qua T-64 và đạt sức mạnh gần bằng T-80 (trong khi giá thành vẫn rẻ).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé của các dòng tăng T-55,T-62, T-64 với cách bố trí bố cục quy ước. Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64. T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển. Hệ thống nhìn đêm của xạ thủ gắn bên phải súng chính. Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng không có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm. Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.[cần dẫn nguồn]

Tính năng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực[4], đến năm 1985 được trang bị động cơ V-84 840 mã lực, hiện nay được trang bị động cơ 1000 mã lực giống T-90[3]. Động cơ của T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái chứ không như ở mẫu T-62. Mặc dù có khoang động cơ lớn hơn T-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn (41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ thấp hơn T-64: 60 km/h trên đường nhưạ và 45 km/h trên đường gồ ghề. Mẫu T-72B còn được tăng cường động cơ V-12 piston làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng ba loại nhiên liệu: Diesel, Benzen, Kerosene. 2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe. Mặc dù T-72 không kín nước, nó có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút.[4] Nếu xe tăng chết máy giữa lòng sông, nó sẽ chìm do giảm áp suất hoặc cần 6 giây để tái khởi động.

Mặc dù to hơn T-64, T-72 vẫn bị cho là "mi-nhon" hơn các xe tăng Phương Tây. T-72BM nặng nhất nhưng cũng không quá 48 tấn, còn M1 Abrams bản nhẹ nhất là 61 tấn. Một số trục đường rất nhỏ tại Liên Xô chỉ thiết kế riêng cho T-72 di chuyển, xe tăng Tây phương đi không được vì quá lớn. Tuy nhiên, để đánh đổi lấy trọng lượng nhẹ và giáp dày, khoang lái của T-72 trở nên chật hẹp tù túng, khiến cho tổ lái nhiều khi bị căng thẳng thần kinh và mau mệt mỏi.

Giáp trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Giáp trụ của T-72 thay đổi tùy theo phiên bản, các phiên bản cao cấp có giáp dày gấp đôi những phiên bản cấp thấp. Nhưng nhìn chung, T-72 có hệ thống giáp bảo vệ tốt hơn nhiều so với T-62 nhờ sử dụng giáp dày hơn, phẩm chất tốt hơn và thưà hưởng những đặc tính tốt từ T-64[4].

Phiên bản xuất khẩu T-72M với giáp thép thông thường
Phiên bản T-72A có giáp composite ở mặt trước tháp pháo
Phiên bản T-72B1 được gắn giáp phản ứng nổ thế hệ 1 (loại Kontakt-1)
Phiên bản T-72B năm 1989 được gắn giáp phản ứng nổ thế hệ 2 Kontakt-5
Phiên bản T-72B3M được gắn giáp phản ứng nổ thế hệ 3 (loại Relikt)

Nguyên mẫu T-72 (T-72 Ural) và các phiên bản giá rẻ cho xuất khẩu (T-72M, T-72M1) dùng giáp thép đúc liền khối. Giáp trước của T-72 Ural, T-72M được đánh giá là đủ sức chịu được các loại đạn APFSDS cỡ 105mm vào giữa thập niên 1970 trên xe tăng phương Tây.

Đến các phiên bản T-72 cao cấp trang bị cho quân đội Liên Xô như T-72A (năm 1979) và T-72B (năm 1985), khả năng phòng thủ của T-72 được tăng lên một cách đáng kể nhờ việc tăng cường độ dày các chi tiết giáp, đặc biệt là giáp trước tháp pháo, cũng như sự tiếp nhận giáp phức hợp và với việc độn thêm các vật liệu phi kim mới. T-72A/B sử dụng giáp composite và trang bị thêm váy bảo vệ hông. Do sự tăng lên rõ rệt của gò đầu tháp pháo T-72A/B nên trong quân đội Mỹ, nó được gọi bằng tên lóng không chính thức là “Dolly Patton” do gợi đến tượng bán thân của các nữ diễn viên Mỹ.

Mặt trước của T-72A được cấu tạo bởi 3 lớp (thép, thép thủy tinh, thép). Trong đó, lớp thép ngoài và trong cùng dày 80mm và 20mm. Còn lớp thép thủy tinh (gồm hỗn hợp sứ + nhựa cây hoặc vật liệu nhựa có độ bền cao) được kẹp ở giữa dày 104 mm. Mặt giáp trước của xe nghiêng 22 độ làm tăng thêm độ dày của vỏ và tăng khả năng chống đạn xuyên giáp. Xe tăng cấu tạo bằng vật liệu composite có khả năng chống đạn cao hơn 20-25% và trọng lượng nhẹ hơn 14-18% so với xe tăng thông thường. Ngoài ra hai bên sườn xe tăng T-72A còn được thiết kế tấm quây nhằm bảo vệ thân xe. Phần trong thân xe được lắp đặt tấm lót bằng nhựa thấm chì nhằm bảo vệ trong trường hợp xe trúng đạn. Phía dưới mũi xe có thể lắp đặt xẻng ủi đất để đào hố ẩn nấp khi cần. Khi xẻng thu lại sẽ trở thành một lớp giáp nữa cho đầu xe.

Phiên bản T-72B tiếp tục được tăng cường thêm vỏ giáp so với T-72A (hai bên má tháp pháo được tăng cường thêm vật liệu composite, giáp trước thân xe được hàn thêm tấm thép dày 20mm nghiêng 68 độ).

Giáp trước tháp pháo trên mẫu T-72 Ural, T-72M và T-72M1 (phiên bản xuất khẩu của T-72) là thép đúc liền khối, dày tương đương 380mm thép cán tiêu chuẩn. Theo báo cáo của cơ quan nghiên cứu đạn đạo gửi do tình báo Mỹ vào năm 1977, đạn xuyên giáp động năng (APFSDS) kiểu M735 cỡ 105mm (ra đời năm 1976) chỉ có thể xuyên được mặt trước T-72 Ural nếu may mắn bắn trúng những điểm yếu nhỏ ở mặt trước xe (xác suất vào khoảng 22%)[6] Thử nghiệm của Đức năm 1991 với một chiếc T-72M1 cho thấy mặt trước tháp pháo của T-72M1 vẫn có thể chịu được đạn APFSDS cỡ 105mm kiểu mới (chế tạo cuối thập niên 1980)[7] Nhìn chung, vào thập niên 1980, mặt trước của T-72 phiên bản xuất khẩu có thể chống đỡ được các đạn APFSDS cỡ 105mm của xe tăng M60 PattonLeopard 1 (đối thủ phương Tây cùng thời của T-72) từ khoảng cách 2.000m[4], hoặc chịu được đạn nổ lõm (HEAT) cỡ 105mm từ mọi cự ly. Thậm chí, năm 2003, một chiếc T-72M1 của Iraq được báo cáo là đã chịu được một phát đạn nổ lõm cỡ 120mm trên xe tăng M1 Abrams của Mỹ bắn vào mặt trước tháp pháo[8]

Các phiên bản T-72A/B (các phiên bản cao cấp chỉ được dành riêng cho quân đội Liên Xô) thì được trang bị thêm giáp composite, đạt độ dày tương đương 500 - 550mm thép cán tiêu chuẩn ở mặt trước tháp pháo, có thể chịu được mọi loại đạn cỡ 105mm ngay cả ở cự ly gần.

Các mẫu T-72 ở đầu thập niên 1980 trở đi được trang bị thêm giáp phản ứng nổ (ERA) thế hệ 1 tên là Kontakt-1, đến năm 1986 thì T-72 được trang bị giáp phản ứng nổ (ERA) thế hệ 2 tên là Kontakt-5. Kontakt-5 có khả năng giảm 50% sức xuyên phá của đạn nổ lõm và giảm 25% độ xuyên phá của đạn xuyên giáp động năng. Phiên bản T-72B khi được gắn Kontakt-5 sẽ đạt độ dày bảo vệ tương đương 780 - 800mm thép cán tiêu chuẩn ở mặt trước tháp pháo khi chống đạn APFSDS hoặc đạt gần 1.200mm thép khi chống đạn nổ lõm. Trong suốt 20 năm (1985-2005), các chỉ số này là không thể xuyên phá bởi các loại đạn pháo cỡ 120mm của M1 Abrams, Leopard 2 hoặc Leclerc (các loại xe tăng chủ lực của phương Tây giai đoạn 1990-2020). Phải tới khoảng năm 2010, khi công nghệ phát triển hơn thì đạn pháo APFSDS cỡ 120mm của xe tăng NATO mới có thể xuyên được lớp giáp này, nhưng cũng chỉ ở cự ly gần hơn 1.500 mét.

Không chỉ thân xe mà nóc xe của T-72 cũng được tăng cường đáng kể, độ dày đạt 65-70mm thép cán tiêu chuẩn (gấp đôi độ dày nóc xe của các xe phương Tây cùng thời như M1 Abrams, Leopard 2...) nhằm mục đích chống lại đạn xuyên cỡ 30mm của máy bay săn tăng như A-10 Thunderbolt, giúp tăng khả năng sống sót nếu gặp phải không quân địch.

Năm 1991, Tây Đức đã đem 1 chiếc T-72M1 của quân đội Đông Đức ra thử nghiệm độ bền của giáp xe trước hỏa lực pháo 105mm (khi đó là cỡ pháo tiêu chuẩn trên xe tăng NATO như M60 Patton, Leopard 1...), kết quả như sau[9]:

  • Đạn xuyên động năng DM33 chỉ có thể xuyên thủng mặt trước tháp pháo ở cự ly dưới 1.500 mét.
  • Đạn nổ lõm cỡ 105mm DM12 chỉ có thể xuyên thủng phần hông tháp pháo, trong khi giáp trước tháp pháo thì không thể xuyên thủng.

Cần lưu ý là chiếc T-72 thử nghiệm chỉ là phiên bản T-72M1 dành cho xuất khẩu, có vỏ giáp mỏng hơn so với T-72A, T-72B nội địa của Liên Xô và cũng không được trang bị giáp phản ứng nổ. Thử nghiệm này khiến Đức và phương Tây rất ngạc nhiên, buộc họ phải tăng tốc nghiên cứu ra các loại đạn xuyên giáp kiểu mới để có thể đánh bại T-72. Quân đội NATO cũng loại bỏ pháo 105mm bởi nó đã tỏ ra vô dụng, thay vào đó là cỡ pháo 120mm mạnh hơn.

Tháng 5/1996, quân đội Mỹ cũng đã đem một số chiếc T-72A có trang bị giáp phản ứng nổ Kontakt-5 ra bắn thử. Kết quả là đạn pháo cỡ 120mm loại M829A1 (loại đạn xuyên giáp hiện đại có lõi uranium nghèo trang bị cho xe tăng M1A2 của Mỹ khi đó) đã không thể xuyên thủng giáp trước của chiếc T-72A được đem ra thử nghiệm. Quân đội Mỹ cũng đã thử nghiệm pháo 30mm GAU-8 Avenger (của máy bay săn tăng A-10 Thunderbolt II), pháo 30mm loại M320 (của máy bay trực thăng AH-64 Apache) bắn vào nóc xe của T-72A, và bắn một loạt các tên lửa chống tăng tiêu chuẩn của NATO vào mặt trước T-72A - tất cả đều có cùng một kết quả: không thể xuyên thủng giáp của T-72A. Thử nghiệm này cho thấy khả năng bảo vệ cao của giáp phản ứng nổ Kontakt-5, khi được trang bị loại giáp này thì ngay cả một xe tăng T-72A (phiên bản ra đời năm 1979) cũng có thể chống lại hỏa lực trên xe tăng hiện đại của phương Tây.

Phát ngôn viên Quân đội Hoa Kỳ đã phát biểu sau buổi thử nghiệm: "Những ảo tưởng rằng xe tăng Xô Viết là yếu kém, được duy trì bởi sự thất bại của phiên bản T-72 hạ cấp (T-72M) mà Liên Xô xuất khẩu cho Iraq trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, cuối cùng đã chấm dứt. Kết quả của các thử nghiệm cho thấy rằng nếu một cuộc đối đầu NATO/Khối Warsaw đã nổ ra ở châu Âu, kỹ thuật Liên Xô là ngang ngửa (hoặc thậm chí vượt trội) trong lĩnh vực tăng thiết giáp"[10]

Năm 2006, Nga cho ra mắt loại giáp phản ứng nổ thế hệ 3 tên là Relikt, trang bị cho T-72B nâng cấp (T-72BM Rogatka). So với Kontakt-5, Relikt có hiệu quả gấp đôi khi chống đạn xuyên giáp động năng, tức là có thể giảm 50% sức xuyên phá của đạn xuyên giáp động năng. Nếu trang bị loại giáp phản ứng nổ này, T-72B có thể đạt độ bảo vệ ~1.050mm thép chống đạn xuyên giáp động năng, mức độ này là rất khó xuyên phá với pháo cỡ 120mm trên xe tăng phương Tây, kể cả khi sử dụng các loại đạn APFSDS mới nhất.

Bên cạnh hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, T-72 còn được trang bị hệ thống chống phóng xạ (trừ các phiên bản xuất khẩu), hệ thống bảo vệ NBC (bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học). T-72 có thiết bị tạo màn khói ngụy trang giống như các mẫu T-55, T-62, các ống phóng lựu đạn khói được lắp ở 2 bên hông tháp pháo.[4]

Tuy nhiên, giống như phần lớn xe tăng Liên Xô, hòm đạn của T-72 đặt ở khoang chính và không cách biệt với tổ lái. Vì vậy, khi khoang chính bị trúng đạn, các đám cháy trong xe có thể làm hòm đạn bị nổ tung và các mảnh đạn sẽ văng vào tổ lái gây thương vong, có khi hòm đạn nổ làm cả tháp pháo bị hất tung lên không trung.

Độ dày lớp giáp của T-72 quy đổi ra lớp thép tiêu chuẩn được ghi trong bảng dưới:

Phiên bản Mặt trước tháp pháo (chống đạn xuyên động năng APFSDS) Mặt trước tháp pháo (chống đạn nổ lõm HEAT) Mặt trước thân xe (chống đạn xuyên động năng APFSDS) Mặt trước thân xe (chống đạn nổ lõm HEAT)
T-72 'Ural'[11] 1973[12][13] 380 mm (15 in) 450 mm (18 in) 335 mm (13,2 in) 410 mm (16 in)
T-72A (1979-1985)[14][15]/1988 450–500 mm (18–20 in) 500–560 mm (20–22 in) 360–420 mm (14–17 in) 490–500 mm (19–20 in)
T-72M 1980[13] 380 mm (15 in) 410 mm (16 in) 335 mm (13,2 in) 450 mm (18 in)
T-72M1[11] 380 mm (15 in) 490 mm (19 in) 400 mm (16 in) 490 mm (19 in)
T-72B + Kontakt 1[11][16] 1985 540 mm (21 in) 900–950 mm (35–37 in)[17] 480–530 mm (19–21 in) 900 mm (35 in)
T-72B + Kontakt 5[16][18] 1988[19] 770–800 mm (30–31 in) 1.180 mm (46 in) 690 mm (27 in) 940 mm (37 in)
T-72B + Relikt 1.100 mm (43 in) Ít nhất 1.300 mm (51 in) 960–1.060 mm (38–42 in) Ít nhất 1.100 mm (43 in)

Hệ thống bảo vệ chủ động[sửa | sửa mã nguồn]

Một số phiên bản T-72 trong thập niên 1980 đã được trang bị hệ thống bảo vệ chủ động (APS - Active Protection Systems) tên gọi Drozd. Drozd là hệ thống APS cho xe tăng làm việc tin cậy và được trang bị thực tế đầu tiên trên thế giới. Hệ thống được thiết kế vào khoảng 1977-1978 bởi nhóm thiết kế do A. Shipunov của KBP dẫn đầu. Hệ thống cải tiến tốt hơn Drozd-M (1030М Дрозд) và sau đó là Drozd-2 ra đời năm 1983, sau đó hệ thống này được trang bị cho cả các xe đời cũ như T-54, T-62, T-64. Drozd-2 tăng cường bảo vệ 4 mặt và góc cao, bắn ra chùm đạn hình dẹt tăng chiều cao, từ đó, các Drozd-M được gọi là Drozd-1. Hệ thống gồm radar 24,5 GHz, khi phát hiện đạn chống tăng với tốc độ 70 m/s-700 m/s bắn vào xe ở cự ly 7 mét, hệ thống tự động kích hoạt đạn chùm đặt trong các ống cố định 107mm, đạn này phóng ra và phát nổ, tạo chùm mảnh văng để phá hủy quả đạn chống tăng trước khi nó kịp lao vào xe. Trong chiến tranh ở Apganistan, Drozd đã thể hiện tốt vai trò bảo vệ khi 80% số đạn RPG-7 bắn về phía T-72 đã bị hệ thống này phá hủy trước khi nó kịp gây hư hại cho xe. Nhờ hệ thống này, thiệt hại của T-72 do bị du kích Afganistan phục kích được hạn chế đáng kể.

Mô phỏng nguyên lý hoạt động của ARENA

Đến đầu thập niên 1990, phiên bản hiện đại hóa T-72BU (chính là T-90) đã được trang bị hệ thống phòng thủ chủ động ARENA-E (hệ thống này được phát triển để thay thế Drozd). Arena-E được thiết kế để lắp đặt trên nhiều phương tiện chiến đấu khác nhau, có khả năng bảo vệ xe tăng trước tên lửa chống tăng, đạn chống tăng các loại với góc bảo vệ đạt tới gần 300 độ xung quanh xe (trừ hướng phía sau có bộ binh). Hệ thống gồm một radar sóng mm lắp trên nóc tháp pháo, máy tính điều khiển và 26 hộp phóng đạn đánh chặn lắp xung quanh tháp pháo. Nguyên lý hoạt động của hệ thống như sau: radar sẽ quét xung quanh xe, nếu phát hiện tên lửa/rocket phóng về phía xe tăng, thông số mục tiêu (vị trí, vận tốc, hướng bay) sẽ được cảm biến thu nhận rồi truyền về cho máy tính điều khiển, máy tính sẽ kích hoạt vũ khí đánh chặn (gồm 26 khối nổ chứa trong các hộp lắp xung quanh xe), hộp đạn sẽ tung ra 1 quả đạn nổ cách xe tăng khoảng 7-10 mét, phóng ra hàng nghìn mảnh nhỏ để phá hủy tên lửa hay đầu đạn của vũ khí chống tăng. Với các mục tiêu có tốc độ bay từ 50–70 m/s thường được coi là không nguy hiểm với xe tăng nên máy tính của hệ thống Arena không ra lệnh đánh chặn, chỉ những mục tiêu có vận tốc trên 70 m/s, thiết bị phóng đạn mới được kích hoạt. ARENA cung cấp khả năng bảo vệ hữu hiệu trước đạn chống tăng có tốc độ bay đạt tới 700m/giây và thời gian phản ứng là khoảng 0,07 giây. Sau khi đánh chặn, chỉ từ 0,2-0,4 giây sau, xe đã có khả năng đánh chặn tiếp 1 quả đạn khác.

Phiên bản xuất khẩu của ARENA là ARENA-E, có giá khoảng 300.000 USD/hệ thống (thời giá năm 2000). Do giá khá cao nên ARENA-E không được gắn kèm T-90, khách hàng muốn trang bị thì phải chi thêm tiền để mua, do đó ít khi thấy T-72 các phiên bản xuất khẩu được gắn ARENA-E. Năm 2017, Nga tiếp tục cải tiến và cho ra mắt phiên bản hiện đại hóa là ARENA-M, có khả năng đánh chặn được nâng cao hơn[20]

2 đèn hồng ngoại của Shtora-1 gắn 2 bên tháp pháo của T-90

Các phiên bản hiện đại hóa sâu của T-72 (T-72BM Rogatka, T-72B3 và T-90) còn có thể được trang bị hệ thống đo ngăn chặn quang điện tử học TShU-1-7 Shtora-1 (tiếng Nga: Штора-1, có nghĩa là "Bức màn chắn") sản xuất bởi Elektromashina. Shtora được thiết kể để phá hoại sự chỉ định mục tiêu bằng laser và thiết bị đo xa của Tên lửa điều khiển chống tăng đang bay đến. Shtora-1 là một thiết bị gây nhiễu âm điện quang (electro-optical), khi hoạt động nó sẽ làm nhiễu quá trình điều khiển đường ngắm bán tự động (semiautomatic command to line of sight - SACLOS) của hệ thống định hướng của tên lửa chống tăng có điều khiển, làm nhiễu máy dò laser và máy chỉ thị mục tiêu của kẻ địch. Shtora-1 có trường quan sát tới 360 độ theo chiều ngang và từ -5 đến +25 độ theo chiều dọc, nó có 12 ống phóng đạn tạo màn khói, cả hệ thống cân nặng 400 kg. Có thể nói Shtora-1 là một hệ thống tiêu diệt mềm hay hệ thống trả đũa, có tác dụng "lái" cho tên lửa của địch bay chệch hướng hoặc khiến xạ thủ ngắm bắn bị "mù" trong một thời gian. Trong Triển lãm quốc phòng quốc tế (IDEX) được tổ chức tại Abu Dhabi năm 1995, hệ thống này lắp đặt vào một xe tăng trưng bày của Nga.[21]

Nguyên lý hoạt động của hệ thống Shtora-1 như sau: Hai đèn hồng ngoại OTShU-7-1, mỗi chiếc ở một bên của tháp pháo, liên tục phát ánh sáng hồng ngoại công suất lớn để làm giả tín hiệu hồng ngoại, khiến hệ thống điều khiển bắn của tên lửa chống tăng nhầm lẫn giữa tín hiệu tên lửa và Shtora, làm nó đưa ra chỉ dẫn sai cho tên lửa dẫn tới việc tên lửa bay chệch hướng. Ngoài ra, khi các cảm biến của hệ thống phát hiện xe tăng đã bị chiếu tia hồng ngoại hoặc laser định vị thì máy tính sẽ tính toán xác định các thông số về hướng chiếu của tia laser, và sau đó sẽ phát lệnh phóng các quả đạn khói về phía đó. Đạn khói nổ sẽ tạo thành màn khói chỉ trong chưa đầy 3 giây kéo dài khoảng 20 giây, phạm vi của màn khói cách xe khoảng 70 mét để che kín xe tăng. Khi gặp màn khói này, tín hiệu điều khiển bằng laser sẽ bị nhiễu và tên lửa sẽ mất điều khiển, nó chỉ còn bay theo quán tính. Trong khi đó, xe tăng tiếp tục cơ động và di chuyển tới vị trí khác, khiến tên lửa trượt mục tiêu.[21]

Khi sử dụng cả Shtora-1ARENA-E, T-72 sẽ có khả năng tạo thế phòng thủ 4 lớp: lớp đầu tiên là Shtora-1 gây nhiễu; nếu gây nhiễu không thành công thì lớp phòng thủ thứ 2 là ARENA sẽ đánh chặn quả đạn; nếu việc đánh chặn thất bại thì lớp phòng thủ thứ 3 là giáp phản ứng nổ sẽ làm giảm sức công phá của quả đạn trước khi nó tác động đến lớp phòng thủ thứ 4 là vỏ giáp chính của xe tăng. Khả năng sống sót của xe tăng sẽ tăng lên nhiều lần nhờ sự phối hợp này.

Hệ thống điều khiển hỏa lực[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu phương Tây (nhất là vào thời chiến tranh Lạnh) thường chỉ trích xe tăng T-72 có hệ thống ngắm bắn chất lượng thấp. Điều này một phần là do tuyên truyền chính trị, một phần khác là bởi các phát bắn thiếu chính xác của tổ lái các nước ở châu Á, châu Phi (do các nước này huấn luyện tổ lái sơ sài, áp dụng chiến thuật kém). Một nguyên nhân khác là những mẫu T-72 mà phương Tây thu được thời đó đều chỉ là những phiên bản xuất khẩu bị cắt giảm tính năng (T-72M hoặc T-72M1). Sau thời chiến tranh Lạnh, khi các thông số của T-72 được công bố rộng rãi, có thể thấy hệ thống ngắm bắn trên T-72 đã được thiết kế tốt, phù hợp cho những chiến thuật được thiết kế và có một số điểm ưu việt hơn so với các xe tăng phương Tây vào thập niên 1970, và vẫn có khả năng nâng cấp rất tốt sau khi các thiết kế mới hơn ra đời.

Tất nhiên, hệ thống ngắm bắn trên T-72 thời đó không hiện đại bằng dòng xe cao cấp T-80, nhưng điều đó là đương nhiên với dòng xe tăng giá rẻ như T-72. Cũng như Liên Xô, quân đội các cường quốc thời đó duy trì 2 dòng vũ khí khác nhau: dòng cao cấp (giá đắt) để sản xuất số lượng nhỏ, và dòng thấp cấp (giá rẻ) để sản xuất số lượng lớn. Hoa Kỳ thời đó cũng trang bị 2 dòng xe tăng: các hệ thống tốt nhất được dành cho dòng xe tăng cao cấp M1 Abrams, trong khi dòng xe tăng M60 chỉ được trang bị các hệ thống kém hơn.

Xe tăng dự án 172 (Object 172), mẫu thử nghiệm đầu tiên của T-72
Phiên bản xuất khẩu T-72M1 trong quân đội Phần Lan
Phiên bản T-72A năm 1979
Phiên bản xuất khẩu T-72S được phủ lớp giáp phản ứng nổ thế hệ 1 (loại Kontakt-1)
Phiên bản T-72B3 năm 2016

T-72 được trang bị vũ khí và đạn dược giống như T-64[4], nhưng hệ thống điều khiển hoả lực kém hơn T-64. Để giảm chi phí chế tạo (T-72 là dòng xe tăng giá rẻ sản xuất đại trà), các phiên bản T-72 thập niên 1980 không có hệ thống điều khiển bắn tự động như dòng xe tăng "cao cấp" T-64/T-80. Hệ thống ngắm bắn 1A40-1 tuy đơn giản và đáng tin cậy nhưng không có các tính năng hiện đại như hệ thống điều khiển hỏa lực 1A45 "Irtysh" sử dụng trên T-80U/UD. Đến đầu thập niên 1990, các phiên bản nâng cấp của T-72 là T-72BU và T-90 mới được trang bị hệ thống điều khiển bắn tự động.

Pháo thủ được cung cấp một bản sao của bảng điều khiển chính của người chỉ huy. Bên cạnh việc có thể khởi động hệ thống điều khiển hỏa lực, điều khiển hệ thống thông gió, bật hệ thống chiếu sáng, pháo thủ có thể hoàn toàn kiểm soát hầu hết các thiết bị điện trong xe tăng thay cho người chỉ huy nếu cần thiết. Điều này có nghĩa rằng T-72 về mặt lý thuyết có thể được vận hành chỉ với tổ lái 2 người (nếu người thứ 3 bị thương vong trong chiến đấu).

Phiên bản T-72 đời đầu (năm 1974) được trang bị hệ thống kính tiềm vọng TKN-3M dành cho chỉ huy. TKN-3M có độ phóng đại 5x cố định trong kênh ngày và 3x trong kênh đêm, nó sử dụng công nghệ khuyếch đại ánh sáng thế hệ thứ 1, với khả năng nhìn ban đêm ở hai chế độ: thụ động hoặc chủ động (đi kèm đèn hồng ngoại L-2 "Luna" công suất 600 W). Đây là cải tiến đáng kể so với hệ thống nhìn đêm trên T-55T-62 (chỉ có chế độ chủ động bằng đèn hồng ngoại). Ưu điểm nổi bật nhất của kính nhìn đêm chế độ thụ động là không cần dùng đèn hồng ngoại nên không phát ra tín hiệu hồng ngoại, giúp xe tăng không bị lộ vị trí. Công nghệ nhìn đêm thụ động là một tính năng mới, khá hiện đại ở xe tăng thập niên 1970. Trong chế độ hoạt động thụ động, với điều kiện đêm tối không trăng và có ánh sao (độ sáng 0,005 lux), một chiếc xe tăng địch có thể được xác định rõ ở cự ly 400 mét (cự ly này có thể tăng thêm vào buổi đêm có ánh trăng).

Phiên bản T-72B (năm 1985) được trang bị hệ thống nhìn đêm TKN-3MK sử dụng công nghệ khuyếch đại ánh sáng thế hệ thứ 2. Cự ly quan sát đã tăng lên so với TKN-3M, một chiếc xe tăng địch có thể được xác định rõ ở cự ly 500 mét trong buổi đêm có độ sáng 0,005 lux. Hệ thống này nói chung vẫn kém hơn đáng kể so với các hệ thống nhìn đêm trang bị cho loại xe tăng cao cấp và đắt tiền T-80, nhưng bù lại thì giá thành cũng rẻ hơn nhiều, đây là điều cần thiết để duy trì mức giá rẻ của T-72.

Thiết bị nhìn đêm của T-72 gắn bên phải súng chính thay vì bên trái như T-64. Tuy nhiên, ở mẫu T-72 đầu tiên, nó vẫn nằm bên trái. Thiết bị ngắm 1K13-49 có thể dùng cho hai chức năng: nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lửa chống tăng qua nòng.

Đối với pháo thủ, phiên bản T-72 đời đầu (năm 1974) được trang bị hệ thống xác định khoảng cách cho pháo thủ bằng hình ảnh quang học lập thể TPD-2-49 (được trang bị cho T-64A vào năm 1967). Nó có độ chính xác ± 200 mét ở khoảng cách 4 km, hoặc ± 30 mét ở phạm vi 1 km. So với xe tăng NATO cùng thời kỳ, TPD-2-49 có tính năng ít nhất là ngang bằng so với thiết bị tương tự trên xe tăng Leopard 1 của Đức, và vượt trội so với hệ thống M17 trên xe M60A1 của Mỹ.

Phiên bản nâng cấp T-72 Model 1976 đã thay thế TPD-2-49 bằng hệ thống TPD-K1 xác định tầm bắn bằng laser, tích hợp với máy tính đạn đạo có thể tính toán đường đạn dựa trên nhiệt độ môi trường xung quanh, nhiệt độ nòng pháo, áp suất khí quyển. Hệ thống này có sai số tối đa 10 mét ở khoảng cách 3 km, hoặc 15 mét ở khoảng cách 4 km. Nó giúp tăng đáng kể khả năng bắn trúng mục tiêu di chuyển ở khoảng cách trên 2.000 mét hoặc xa hơn. Hệ thống TPD-K1 ra đời năm 1974, là thiết bị rất tiên tiến ở thời bấy giờ và vượt trội so với xe tăng phương Tây. Phải tới năm 1978, xe tăng M60A3 của Mỹ mới có hệ thống xác định tầm bắn bằng laser AN/VVG-2. Các xe tăng Leopard 1 của Đức đã không có máy đo xa bằng laser cho đến khi những năm 1980, và các xe tăng của Anh phải đến năm 1988 mới có thiết bị này.

TPD-K1 phát triển để trở thành hệ thống kiểm soát hỏa lực 1A40, nó bắt đầu được dùng trên phiên bản T-72A (từ năm 1982). Hệ thống 1A40 bao gồm kính nhìn đêm kiểu TPN-3-49 và hệ thống điều khiển tên lửa 9K112 Kobra. Nhược điểm của 1A40 là thiếu tính tự động hóa, nên một số thao tác vẫn phải thực hiện thủ công. Ở thời điểm giữa thập niên 1980, hệ thống này đã lạc hậu hơn so với các hệ thống kiểm soát hỏa lực tự động hóa toàn diện trang bị trên T-80 (T-72 không được trang bị để tiết kiệm chi phí chế tạo)

Hệ thống 1A40 được cải tiến tiếp thành 1A40-1 trên T-72B kể từ năm 1985, so với 1A40 thì nó khác ở chỗ có kính ngắm cải tiến TPD-K1M và máy đo xa laser cải tiến.

Đối với pháo thủ, T-72 các phiên bản đời đầu cũng như các phiên bản xuất khẩu (ngoại trừ T-72S) được trang bị kính ngắm đêm TPN-1-49-23 (hệ thống này từng được trang bị cho T-64B vào năm 1976). TPN-1-49-23 có thể được sử dụng trong chế độ khuyếch đại ánh sáng thụ động hoặc ở chế độ chủ động, nhờ ánh sáng phát ra từ đèn chiếu hồng ngoại L-2AG "Luna-2". Cự ly phát hiện xe tăng trong buổi đêm có độ sáng 0,005 lux là 800 - 1.300 mét với đèn hồng ngoại chủ động hoặc 500 - 800 mét với chế độ thụ động (có thể đạt 1.000 mét vào đêm trăng, và khoảng hơn 1.300 m trong buổi tối chạng vạng). Các phiên bản nâng cấp T-72A, T-72B thì được trang bị kính ngắm đêm tiên tiến hơn là TPN-3-49, cự ly phát hiện xe tăng trong buổi đêm có độ sáng 0,005 lux tăng lên 800 mét (với chế độ thụ động) hoặc 1.300 mét (với đèn hồng ngoại chủ động). Nhìn chung, cự ly phát hiện mục tiêu ban đêm của T-72A, T-72B kém hơn xe tăng T-80U (đạt 1.500 - 1.700 mét ở chế độ thụ động), M60A3 của Mỹ (đạt 1.300 mét ở chế độ thụ động), nhưng cao hơn so với xe tăng Chieftain MK-3 của Anh.

Các phiên bản T-72 hạ cấp (bị cắt giảm tính năng) dành cho xuất khẩu như T-72M, T-72M1 thường không có hệ thống thiết bị xác định tầm bắn bằng laser, cũng thường chỉ được kính ngắm ban đêm kiểu cũ, tức là không có cải tiến gì nhiều so với T-62 đời đầu, và thậm chí còn kém hơn so với phiên bản T-62M của quân đội Liên Xô. Vì vậy, khả năng tác chiến ban đêm và bắn trúng mục tiêu ở cự ly xa của T-72M, T-72M1 sẽ kém hơn nhiều so với T-72A, T-72B (các phiên bản cao cấp dành cho quân đội Liên Xô). Về sau, một số nước đã tự nâng cấp, mua bổ sung các thiết bị này để nâng cao khả năng chiến đấu cho T-72 của nước mình.

Các phiên bản T-72 hiện đại hóa vào đầu thế kỷ 21 thường loại bỏ các hệ thống ngắm bắn, nhìn đêm đã cũ để thay bằng các thiết bị mới (nguồn cung có thể đến từ nhiều nước khác nhau, tính năng cũng khác nhau), ví dụ như Agava-2 của Nga, SAGEM-produced ALIS của Pháp, các thiết bị này có thể dùng để dẫn bắn tên lửa chống tăng vào ban đêm.[4] Ví dụ như phiên bản T-72B3 của Nga (năm 2010) và một số phiên bản T-72 xuất khẩu được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực SOSNA-U, nó sử dụng máy tạo ảnh nhiệt thế hệ thứ 2 Catherine-FC do Pháp thiết kế, máy tính đạn đạo và con quay hồi chuyển kiểu mới. Trong điều kiện địa hình bằng phẳng, SOSNA-U có thể được xác định mục tiêu xe tăng ở khoảng cách 5 km vào ban ngày, và lên tới 3,3 km vào ban đêm thông qua thiết bị ảnh nhiệt.

Năm 2016, quân đội Nga cũng giới thiệu hệ thống nhìn đêm nội địa là "IRBIS-K" do hãng Krasnogorsky Zavod sản xuất, nó có cự ly phát hiện xe tăng đối phương là khoảng 3.240 - 4.000 mét, nó sẽ thay thế SOSNA-U trong những xe T-72B3M của quân đội Nga (để không bị phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu).

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo nòng trơn 125 ly 2A46-M1 trưng bày tại bảo tàng nhà máy xe tăng Motovilikha.

Vũ khí chính của các phiên bản T-72 đều là pháo nòng trơn 125 ly, tuy nhiên khẩu pháo này được cải tiến liên tục. Các phiên bản đầu được trang bị loại pháo 2A26-M2 (tên khác là D-81T), trong khi các phiên bản sau (T-72A model 1979) được trang bị loại pháo 2A46 (tên khác là D-81TM). So với D-81T, loại 2A46 có khả năng bắn chính xác hơn (do được bọc ốp cách nhiệt làm giảm độ cong nòng) và tuổi thọ nòng pháo cao hơn (800 phát so với 600 phát bắn sử dụng liều phóng tối đa), đồng thời có thể dễ dàng tháo gỡ khỏi tháp pháo để sửa chữa ngay cả trong điều kiện chiến trường. Kể từ năm 1981, T-72A được trang bị kiểu pháo mới 2A46M, nó có độ chính xác tăng thêm 50% so với 2A46, áp suất buồng đốt tăng từ 450 Bar lên 510 Bar để bắn được đạn APFSDS kiểu mới. Phiên bản T-72B thì trang bị loại 2A46-M1, T-72S là 2A46-M4. Đến phiên bản T-72B3 thì sử dụng pháo 2A46-M5, có tuổi thọ nòng được nâng cao thêm nữa (đạt 1.200 phát bắn), áp suất buồng đốt tăng lên 608 Bar để bắn được đạn APFSDS kiểu mới, độ tản mát của đạn giảm 15-20%, và độ chính xác khi bắn trong lúc di chuyển đã tăng 1,7 lần[22]

Các khẩu pháo 2A26-M2 chỉ có thể chịu được 160 đến 170 phát đạn APFSDS trước khi trở nên không an toàn để bắn. Pháo 2A46-M2 trên T-72B có thể bắn được 220 đạn APFSDS hiện đại (có động năng cao), khẩu pháo 2A46-M5 thì có thể chịu được tới 500 phát bắn với loại đạn này[23].

Khẩu pháo có thể nâng lên +14 độ hoặc hạ thấp -6 độ khi hướng về trước. Bởi tháp pháo nhỏ và thấp nên góc hạ nòng của T-72 thường thấp hơn so với xe tăng phương Tây (xe tăng phương Tây có thể hạ nòng khoảng 8-10 độ). Phương Tây cho rằng đây là nhược điểm, bởi xe tăng sẽ không tận dụng được chiến thuật "Hull-Down" (nấp thân xe sau mô đất dốc, chỉ để hở một phần tháp pháo) khi phòng thủ. Tuy nhiên, các nhà thiết kế Liên Xô không xem đây là một nhược điểm, mà thực sự đó là đặc điểm đáng giá để giúp thu nhỏ tháp pháo. Bởi phương thức tác chiến chủ yếu của xe tăng không phải là phòng ngự mà là cơ động tấn công, tháp pháo nhỏ sẽ giúp giảm đáng kể xác suất trúng đạn khi tác chiến vận động. Nhiệm vụ ẩn nấp phòng ngự là của lực lượng pháo tự hành chống tăng chứ không phải của xe tăng. Ngoài ra, nếu bắt buộc phải bố trí phòng thủ (vốn ít khi diễn ra) thì T-72 vẫn hoàn toàn có thể dùng lưỡi ủi đất (gắn trước thân xe) để tự đào hố ẩn nấp kiểu "Hull-Down" chỉ trong mấy phút.

Bố trí bên trong của T-72

Trong thiết kế của T-72 có áp dụng giải pháp đột phá của T-64 là hệ thống nạp đạn tự động, giúp làm giảm số thành viên trong tổ lái từ 4 người của T-62 xuống còn 3 người, đồng thời giúp giảm kích thước tháp pháo (điều này giúp xe khó bị trúng đạn hơn cũng như làm giảm bớt khối lượng xe tăng). Dù mang pháo mạnh, giáp dày hơn hơn nhưng tháp pháo của T-72 lại nhỏ hơn T-62, điều này rất có lợi trong chiến đấu (xe khó bị trúng đạn và dễ ẩn nấp hơn).

T-72 không dùng thiết bị nạp đạn hiện đại (nhưng phức tạp và đắt) của T-64T-80 (T-72 dùng hệ thống nạp ngang, còn T-64 dùng hệ thống phát động dọc). Tốc độ nạp vẫn tốt (6,5-8 giây/viên, tùy vị trí ổ quay) nhưng độ tin cậy thấp hơn, dễ có trục trặc nếu bảo dưỡng kém. Thiết bị tự nạp sẽ đẩy nòng súng lên cao 3 độ nhằm ấn đuôi nòng xuống để nạp đạn, nhưng không ảnh hưởng đến tầm ngắm độc lập của pháo thủ. Nói chung việc nạp đạn cũng không gây nhiều phiền hà, và vỏ đạn cũng dễ cầm hơn.

Pháo chính của các phiên bản T-72 là giống nhau về cỡ nòng, nhưng sức mạnh hỏa lực giữa các phiên bản thì rất khác nhau tùy theo hệ thống điều khiển hỏa lực và loại đạn sử dụng. ở thời điểm cuối thập niên 1980, những phiên bản của T-72 có thể chia làm ba nhóm:

  • Các xe T-72 phiên bản cấp thấp dành cho xuất khẩu và bị cắt giảm tính năng để tránh bị lộ công nghệ (T-72M, T-72M1): Các phiên bản này thường chỉ được trang bị loại đạn 3BM9 lõi bằng thép cứng chế tạo năm 1962, có thể bắn xuyên 290mm thép ở cự ly 2.000 mét (đủ sức bắn xuyên giáp trước các loại xe tăng phương Tây thập niên 1970 như M60 Patton, Leopard 1...). Hệ thống điều khiển hỏa lực cũng bị cắt giảm, chỉ ở mức tối thiểu (chỉ có kính ngắm đêm thế hệ đầu, không có máy tính đạn đạo, máy đo xa laser).
  • Các xe T-72 phiên bản trung cấp dành cho những nước đồng minh thân cận ở Đông Âu (như Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc...) thì có thể được trang bị loại đạn tiên tiến hơn (lõi bằng thép-niken-tungsten) như 3BM22 chế tạo năm 1976 (có thể bắn xuyên 430mm thép ở cự ly 2.000 mét), hoặc 3BM26 chế tạo năm 1983 (có thể bắn xuyên 450mm thép ở cự ly 2.000 mét), đủ sức bắn hạ các loại xe tăng phương Tây ở thập niên 1980 như M1A1, Leopard 2A1).
  • Các xe T-72 phiên bản cao cấp dành cho quân đội Liên Xô (T-72A, T-72B) thì được trang bị hai loại đạn cao cấp: loại 3BM32 lõi bằng uranium nghèo (chế tạo năm 1985) có thể bắn xuyên 560mm thép ở cự ly 2.000 mét, hoặc loại 3BM42 lõi bằng tungsten (chế tạo năm 1986) có thể bắn xuyên 500mm thép ở cự ly 2.000 mét[24], đủ sức bắn xuyên giáp trước các loại xe tăng hiện đại nhất của phương Tây ở đầu thập niên 1990 như M1A1 HA/HC, Leopard 2A4. Hệ thống điều khiển hỏa lực khá hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ (có kính ngắm đêm dùng bộ khuyếch đại ánh sáng thế hệ 3, máy tính đạn đạo, máy đo xa laser))

Sau này, Nga tiếp tục cải tiến và cho ra đời những loại đạn 125mm mới. Đạn xuyên giáp động năng kiểu mới 3BM-69 (lõi bằng uranium nghèo) hoặc 3BM-70 (lõi bằng tungsten) chế tạo năm 2005 có thể xuyên thủng 800 - 900mm thép cán tiêu chuẩn ở cự ly 2.000m[25], có khả năng chọc thủng giáp trước của các loại xe tăng hiện đại nhất của phương Tây ở thập niên 2010 như M1A2, Leopard 2A7... từ khoảng cách 1.500 tới 3.000 mét.

Tên lửa 9M119

Các phiên bản T-72 chất lượng cao dành riêng cho quân đội Liên Xô (T-72B trở về sau) còn có khả năng phóng tên lửa chống tăng 9M119 Svir qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu từ cự ly xa. Hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại kết hợp với 9M119 Svir cho phép T-72B có thể tấn công và tiêu diệt các loại xe cơ giới và máy bay trực thăng trước khi những thứ này kịp tấn công lại T-72B. Nó có thể vừa di chuyển với vận tốc 30 km/h vừa có thể tiêu diệt xe tăng địch từ cự ly tới 5–6 km với độ chính xác đạt trên 90%, kể cả khi xe tăng địch đang di chuyển với vận tốc 70 km/h (trong khi xe tăng dùng đạn pháo thông thường rất khó có thể bắn trúng mục tiêu di động ở khoảng cách trên 2.500 mét)[26][27]). Trong một cuộc thử nghiệm cấp Nhà nước năm 1999, 24 tên lửa 9M119 đã được bắn vào các mục tiêu trong cự ly 4–5 km và tất cả chúng đều trúng mục tiêu (tất cả những phát bắn tên lửa được thực hiện bởi các kíp lái thiếu kinh nghiệm). Trong cuộc triển lãm ở Abu Dhabi, một xạ thủ có kinh nghiệm đã bắn 52 tên lửa ở khoảng cách 5 km và tất cả các tên lửa đều trúng mục tiêu[28][29]

Trong tương lai, theo thông báo tại Russian Expo Arms-2008 của ông Sergei Maev, lãnh đạo Rosoboronexport, T-72 cải tiến sẽ còn được trang bị hỏa lực mạnh hơn với loại tên lửa cải tiến có tầm bắn đạt 6–7 km[30].

Ngoài ra, T-72 có thể trang bị thêm đạn xuyên giáp BK-27 HEAT (đạn nổ mạnh chống tăng), loại đạn mới phát triển gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA. Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đối phó với giáp cảm ứng, đạn MP nổ văng mảnh thì dùng để sát thương bộ binh. Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng). Tầm bắn tối đa của pháo là 9,1 km, của tên lửa là 5–6 km.[4]

Súng máy 12,7mm gắn trên nóc xe T-72 có thể điều khiển từ bên trong xe

Ngoài ra, hệ thống kích nổ Ainet cũng được lắp đặt trên T-72 cải tiến (T-72B2/B3), để cho phép kích nổ loại đạn ghém HE-FRAG sau khi nó bay được một đoạn đường nhất định, quãng đường này quyết định bởi hệ thống đo khoảng cách bằng laser do pháo thủ sử dụng. Hệ thống này giúp làm tăng khả năng chống bộ binh và chống trực thăng của T-72.[31]

Trang bị vũ khí thứ hai gồm một đại liên đồng trục 7,62 ly PKT và một đại liên NSV 12,7 ly để đối phó với các mục tiêu trên không và trên bộ (vào cuối thập niên 1990, NSV được thay thế bằng đại liên Kord). Đại liên phòng không được điều khiển từ xa ở trong xe, vì vậy có thể được xạ thủ ngắm bắn khi đang ngồi phía trong xe tăng mà không cần phải nhô người ra ngoài tháp pháo, giúp giảm khả năng thương vong cho xạ thủ. Súng có tốc độ bắn 650-750 viên/phút, tầm bắn xa nhất 2 km, tầm bắn hiệu quả là 1600 mét và có khả năng tấn công các mục tiêu trên không có tốc độ bay từ 100 – 300 m/s. Trên xe tăng có trang bị chừng 300 viên đạn 12,7mm cho đại liên phòng không. Đại liên đồng trục PKT hoặc PKMT cỡ 7,62 ly có khối lượng 10,5 kg, còn số đạn dược của nó là khoảng 2.000 viên (8 băng đạn với 250 viên/băng, mỗi băng đạn nặng chừng 9,5 kg). Ngoài ra T-90 còn được trang bị súng ngắn và 10 quả lựu đạn F-1 đặt ở phía trong khoang xe để tổ lái sử dụng trong trường hợp phải rời khỏi xe tăng và ra ngoài[30].[21].

Các dự án hiện đại hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối thập niên 1980, phương Tây cho ra đời các loại xe tăng mới như Leopard-2A4 của Đức, M1A1HA của Mỹ... Để duy trì ưu thế kỹ thuật, Liên Xô đề ra 2 dự án hiện đại hóa chiếc T-72B và được tiến hành song song, bao gồm:

  • Object 187 (Dự án 187, còn gọi là T-72BI): Đây là phiên bản bản hiện đại hóa toàn diện của T-72B. Xe tăng được trang bị khẩu pháo mới 125mm 2A66, có thể bắn được đạn mạnh hơn loại 2A46M của T-72B. Động cơ được thay mới bằng loại 1200 mã lực, mạnh hơn đáng kể so với động cơ 840 mã lực của T-72B. Đặc biệt, T-72BI tập trung vào việc tăng mức độ của vỏ giáp lên mức cực cao, bằng cách sử dụng tháp pháo hàn kiểu mới, dùng nhiều hơn lớp giáp composite và giáp gốm mật độ cao cho tháp pháo và mặt trước thân, cùng bộ giáp giáp phản ứng nổ kiểu mới thế hệ thứ 3 (nguyên mẫu của loại giáp Relikt trên T-90MS sau này), và hệ thống bảo vệ chủ động Shtora-1. Trọng lượng xe tăng vào khoảng 50 tấn. Độ dày của vỏ giáp trước tương đương 900 - 950mm thép cán tiêu chuẩn, cùng với giáp phản ứng nổ thế hệ 3 sẽ làm tăng chỉ số này thêm ít nhất là 50%. Mức bảo vệ này thậm chí vượt qua tất cả các xe tăng hiện đại trên thế giới vào thập niên 2010 (cho tới khi T-14 Armata ra đời), hoàn toàn đủ sức chống lại mọi loại đạn pháo cỡ 120mm trên xe tăng phương Tây.
  • Object 188 (Dự án 188, còn gọi là T-72BU): Đây là phiên bản bản cải tiến ít tham vọng hơn so với T-72BI. Về cơ bản, nó là T-72B được cải tiến các thiết bị điện tử, điều khiển hỏa lực... bằng các công nghệ trên xe tăng T-80U. Động cơ và pháo chính vẫn giữ nguyên.

Đến năm 1991, đã có 6 mẫu thử của T-72BI được chế tạo, các thử nghiệm cho thấy nó có tiềm năng rất lớn. Nếu được sản xuất, đây chắc chắn sẽ là loại xe tăng hiện đại nhất thế giới, không có đối thủ ngang tầm từ phương Tây. Tuy nhiên, việc Liên Xô tan rã khiến kinh phí quốc phòng bị cắt giảm, và chương trình T-72BI bị đình chỉ. Quân đội Nga quyết định lựa chọn T-72BU là dự án được tiếp tục do nó đòi hỏi ít kinh phí hơn. Về sau, dự án này đã phát triển thành loại xe tăng T-90.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

So với nhiều đồng sự của Liên Xô, T-72 có rất rất nhiều phiên bản. Và, như đã nói, ngoài Liên Xô, một số quốc gia khác như Tiệp Khắc, Ấn Độ, Ba LanNam Tư cũ cũng tham gia sản xuất T-72 theo kiểu riêng của mình[4]. Nhiều phiên bản "nhái" T-72 được chế tạo có hoặc không có giấy phép trong quân đội nhiều quốc gia, các nước có mua T-72 cũng tự nâng cấp chúng theo khả năng của mình, từ đó sinh ra vô số phiên bản T-72 khác nhau: Iraq có T-72 Sư tử Babylon, Nam Tư có M-84, Ấn Độ có Ajeya, Nam Phi có gói nâng cấp T-72 Tiger và Syria có T-72 Adra, Pakistan có Al-Khalid...

- Năm 1994, Slovakia đã phối hợp với Pháp cải tiến phiên bản T-72M1 thành phiên bản T-72M1A và T-72M2 với hệ thống điều khiển hoả lực mới EFCS3-72, thay trọng liên phòng không 12,7mm bằng pháo 20mm hoặc 30mm.[cần dẫn nguồn]

- Israel cũng đã trang bị hệ thống dẫn đường định vị toàn cầu GPS cho xe tăng T-72, nâng công suất động cơ lên 1000 sức ngựa, có thiết bị ảnh nổi bằng la-de TKN-3B và có các súng phóng lựu đạn khói ngụy trang.[cần dẫn nguồn]

- Nga đã cung cấp cho Ấn Độ bản thiết kế nâng cấp cho loại xe tăng T-72M1 đạt tính năng hiện đại như của xe tăng T-72S.[cần dẫn nguồn]

Liên Xô-Nga[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 Ural phiên bản đầu tiên, ra đời năm 1973
  • T-72 Ural (1973): Nguyên mẫu T-72. Dùng giáp thép đơn khối và động cơ 780 mã lực.
    • T-72K: Mẫu T-72 dùng cho chỉ huy. Trang bị thêm radio R-130M. Các phiên bản chỉ huy đại đội được trang bị hai radio R-123M/R-173 bổ sung và cũng mang theo cột ăng ten 10 m. Các phiên bản chỉ huy tiểu đoàn và trung đoàn được trang bị hai radio R-123M/R-173 bổ sung và R-130M sử dụng ăngten 10 m khi được dựng lên. Trong mã NATO, T-72K được đại diện bởi ba tên gọi khác nhau: T-72K1, T-72K2 và T-72K3, đại diện cho 3 phiên bản chỉ huy của đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn.
    • T-72E (Ob'yekt 172M-E, Ob'yekt 172M-E1): Mẫu T-72 Ural dùng để xuất khẩu, trang bị pháo 125 mm D-81T với 44 viên đạn. Nó được bán cho Iraq và Syria và cũng được chế tạo ở Ba Lan. Có thể trang bị thêm nòng 155mm của Anh, Pháp.
    • T-72 Ural cải tiến (1980): bộ phận nhìn đêm bên phải nòng súng, bỏ thiết bị đo xa TPD-2-49 và thêm các núm cao su bảo vệ.
  • T-72 "Ural-1" (Ob'yekt 172M1) (1976): pháo mới 2A46, giáp tháp pháo được thiết kế mới.
  • T-72V ("V" là vzryvnoi - "nổ"): nâng cấp không chính thức cho xe tăng T-72 Ural và T-72 Ural-1 bằng cách trang bị giáp phản ứng nổ Kontakt-1 cho thân xe và tháp pháo.
T-72A, ra đời năm 1979
  • T-72A (Ob'yekt 176) (1979): Mẫu cải tiến của T-72 Ural. Hệ thống đo xa quang học TKD-2-49 bị thay bằng hệ thống đo xa TPD-K1 dùng tia laser, thêm váy bảo vệ bánh xe, cải tiến giáp bảo vệ thùng nhiên liệu. Dùng giáp composite bảo vệ phía trước và nóc xe, về sau được trang bị thêm ở toàn tháp pháo (1986), giáp cảm ứng, giáp chắn bùn, và nội thất có thay đổi. Khả năng phòng thủ của xe tăng được tăng cường đồng thời với sự lắp ở đằng trước tháp pháo 12 thiết bị phóng của hệ thống bắn lựu đạn khói 902A “Tucha” và sử dụng hệ thống bảo vệ chống bom napal “Soda”. Kính ngắm bắn đêm chủ động được thay thế bởi kính ngắm đêm thụ - chủ động TPN-3-49. Tầm bắn đêm với kính ngắm này và đèn chiếu hồng ngoại L-4 “Luna-4” tăng lên đến 1.300 mét, trong chế độ thụ động là 800 mét. Năm 1984, T-72A có thêm lớp giáp chống radar. Các mẫu sau năm 1990 dùng động cơ V2S2 mạnh 840 mã lực. Sức mạnh hỏa lực được tăng cường bằng việc lắp pháo mới 2A46, khác với pháo D-81TM ở khả năng bắn chính xác và tuổi thọ nòng pháo cao hơn, có thể tháo lắp rất nhanh chóng trong điều kiện chiến trường mà không cần phải gỡ cả tháp pháo. T-72A có thể bắn tên lửa chống tăng có điều khiển qua nòng pháo AT-8 Songster vào ban ngày tại chỗ hoặc dừng ngắn. Tầm bắn tối đa của tên lửa có điều khiển là 4000 mét.
    • T-72A obr.1979g: Là T-72A được hàn thêm vào giáp trước thân xe 1 lớp thép cứng có độ dày 17mm.
    • T-72AV ("V" là vzryvnoi - "nổ"): nâng cấp khả năng bảo vệ cho xe tăng T-72A bằng cách trang bị giáp phản ứng nổ Kontakt-1 cho thân xe và tháp pháo.
    • T-72AK: Mẫu T-72A dành cho chỉ huy, cơ số đạn giảm còn 36 viên để lấy chỗ cho các thiết bị chỉ huy.
    • T-72M (Ob'yekt 172M-E2, Ob'yekt 172M-E3, Ob'yekt 172M-E4): Mẫu T-72A bị cắt giảm tính năng để dành cho xuất khẩu. Giáp mỏng hơn so với T-72A (không có giáp composite), các thiết bị điều khiển hỏa lực và sức cơ động chỉ tương đương T-72 Ural. Được sản xuất ở Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc.
    • T-72M1 (Ob'yekt 172M-E5, Ob'yekt 172M-E6): Mẫu T-72A obr.1979g bị cắt giảm tính năng để dành cho xuất khẩu. Nó được trang bị thêm 7 + 5 ống phóng lựu đạn khói trên mặt trước tháp pháo. Phiên bản này cũng được chế tạo ở Ba Lan và Tiệp Khắc.
T-72B của Nga với giáp ERA Kontakt-1
  • T-72B (1985): Phiên bản cải tiến sâu rộng. Giáp dày hơn và dùng giáp composite nhiều hơn ở nóc xe, phía trước xe và hông tháp pháo. Hệ thống điều khiển bắn kiểu mới 1A40-1, 9K120 cho phép bắn tên lửa chống tăng qua nòng pháo (loại 9M119 "Svir", mã NATO: AT-11 Sniper, có thể hạ mục tiêu ở xa 5 km), pháo 2A46M mới, hệ thống nhìn 1K13-49, hệ thống ổn định, động cơ V-84, giáp phản ứng nổ ERA. Hệ thống ống phóng đạn khói mù dời sang bên trái tháp pháo để có chỗ lắp giáp ERA.
    • T-72BA ERA: trang bị 227 viên gạch ERA "Kontakt-1" cho thân xe và tháp pháo. Chúng thường được gọi không chính xác là T-72BV.
    • T-72B1 (Ob'yekt 184-1): Phiên bản T-72B bị cắt giảm tính năng để giảm giá thành chế tạo (không có khả năng bắn tên lửa chống tăng qua nòng pháo và sử dụng lại một số thiết bị của T-72A).
    • T-72S "Shilden" (T-72M1M1, Ob'yekt 172M-E8): Mẫu T-72B xuất khẩu. Chỉ có 155 miếng gạch ERA loại Kontakt-1, hệ thống NBC đơn giản và không có lớp chống sóng radar.
    • T-72BK (Ob'yekt 184K): Phiên bản xe chỉ huy của T-72B, có nhiều ăng-ten radio và một cột phát sóng dưới cột tháp pháo phía sau.
    • T-72B obr.1989g: T-72B trang bị giáp phản ứng nổ Kontakt-5 tiên tiến, bổ sung giáp composite ở hai bên tháp pháo. Thường được gọi là T-72BM hoặc T-72B (M) nhưng tên gọi này là không chính xác.
    • T-72BU (Ob'yekt 188): Ra mắt năm 1989, đó chính là T-90 phiên bản đầu.
T-72BA
    • T-72BA (Ob'yekt 184A/A1): Tên gọi này được sử dụng để chỉ một số chiếc T-72B được tân trang và nâng cấp một số thành phần cốt lõi tại Uralvagonzavod vào giai đoạn giữa 1998-2005. Có sự thay đổi đáng kể giữa các xe T-72BA, tuy nhiên, có một số tính năng phổ biến cho tất cả các mẫu T-72BA được nâng cấp: khung phía trước được gia cố chống lại mìn, chỗ ngồi của lái xe được nối với nóc xe thay vì được cố định xuống sàn, và người lái có hệ thống lái mới cũng như kính nhìn đêm TVN-5 mới. Những xe tăng này được trang bị động cơ V-84MS sử dụng hệ thống ống xả được nâng cấp (được sử dụng trên T-90A). Việc nâng cấp cũng bao gồm sự tích hợp của một cảm biến gió DWE-BS để đưa thông tin vào hệ thống điều khiển hỏa lực 1A40. Những xe được nâng cấp sau năm 2000 đã nhận được hệ thống kiểm soát hỏa lực 1A40-01M cải tiến, sử dụng một máy tính đạn đạo kỹ thuật số TBV. Các xe tăng cũng có thể bắn tên lửa chống tăng dẫn hướng bằng laser 9M119M Refleks thông qua việc sử dụng kính ngắm 1K13-19. Các xe tăng T-72BA được sản xuất năm 2005 có hệ thống kiểm soát hỏa lực 1A40-M2. Súng chính 2A46M nhận được một hệ thống ổn định 2E42-4 cải thiện đáng kể độ chính xác khi bắn trong lúc di chuyển. Khoảng 750 xe tăng đã được nâng cấp lên tiêu chuẩn T-72BA
T-72B2của Nga năm 2010
T-72B3 trang bị hệ thống điều kiển bắn Sosna-U, năm 2014.
T-72B3 năm 2016
    • T-72B2 Rogatka obr.2006g (Ob'yekt 184M): Phiên bản thử nghiệm, ra mắt năm mẫu 2006, một số tài liệu còn gọi là T-72BM Rogatka, cải tiến từ T-72B. Áp dụng nhiều công nghệ của T-90: Pháo chính 2A46-M5, hệ thống điều khiển bắn mới, kính hồng ngoại, động cơ V92S2 1.000 mã lực, mang giáp phản ứng nổ "Relikt" thế hệ 3 (mạnh gấp đôi giáp ERA Kontakt-5). Xe được trang bị hệ thống ngụy trang "Nakidka" để làm giảm khả năng bị đối phương phát hiện. Nakidka gồm các tấm phủ làm bằng vải quét vật liệu hấp thụ radar (RAM), cũng như làm giảm các tín hiệu hồng ngoại, ảnh nhiệt mà xe tăng phát ra (Theo NII Stali (Viện nghiên cứu khoa học thép), Nakidka làm giảm 30% khả năng bị phát hiện bởi ống nhòm quang học, giảm 2-3 lần khả năng bị phát hiện bởi thiết bị quan sát hồng ngoại, giảm 6 lần tín hiệu radar, và giảm tín hiệu ảnh nhiệt xuống mức gần bằng môi trường xung quanh). Bộ nạp đạn tự động cũng được sửa đổi thích hợp để chứa các loại đạn chống tăng APFSDS có thanh xuyên dài hơn (lên tới 730 mm) và mạnh hơn: Svinets-1 (sử dụng lõi xuyên uranium nghèo) và Svinets-2 (sử dụng lõi xuyên vonfram), được đưa vào hoạt động năm 2002 và có khả năng xuyên thủng tương ứng là 740–800mm và 660–740mm thép RHA ở cự ly 2.000 mét.
    • T-72B3 (Ob'yekt 184-M3): Ra mắt năm 2010, phiên bản sản xuất hàng loạt sau khi đã chỉnh sửa từ T-72B2. Về cơ bản là giống T-72B2, nhưng bị cắt giảm bớt một số thiết bị mới để giảm chi phí nâng cấp, ví dụ như vẫn sử dụng giáp phản ứng nổ Kontakt-5, chỉ huy xe tăng vẫn giữ lại kính tiềm vọng TKN-3MK cũ với phạm vi quan sát chỉ vài trăm mét vào ban đêm (nhưng được tăng cường với một màn hình hiển thị ảnh nhiệt từ kính ngắm của xạ thủ). Một số chi tiết ở hệ thống điều khiển hỏa lực cũng được sửa đổi, bao gồm hệ thống Sosna-U - sử dụng camera ảnh nhiệt Catherine-FC do Belarus sản xuất theo giấy phép của hãng Thales (Pháp), có thể nhận dạng một mục tiêu xe tăng ở cự ly lên tới 10.500 mét vào ban ngày và 3.300 mét vào ban đêm, trong mọi điều kiện thời tiết. Nga sản xuất T-72B3 với mục đích chính là duy trì hoạt động của các đơn vị xe tăng T-72B cho tới khi chúng được thay thế bằng dòng xe tăng thế hệ tiếp theo T-14 Armata. Do ưu thế giá thành, quân đội Nga chỉ đặt mua mấy trăm T-90 trong khi đã nâng cấp 1.000 chiếc T-72 theo phiên bản này.
    • T-72B3M (2016): Ra mắt năm 2016, cải tiến từ T-72B3 gồm: thay thế giáp phản ứng nổ Kontakt-5 bằng loại giáp phản ứng nổ Relikt, trưởng xe được trang bị hệ thống ảnh nhiệt mới. Thiết bị thông tin vô tuyến, camera nhìn toàn cảnh mới. Tăng cường bảo vệ chống lại mìn, hệ thống chữa cháy mới. Nâng cấp đáng chú ý nhất là thiết bị quan sát PK PAN cho trưởng xe, được cho là có thông số kỹ thuật tương tự với Sosna-U nhưng sử dụng toàn bộ các linh kiện do Nga sản xuất. Hiệu suất cơ động của xe tăng cũng được cải thiện với động cơ V-92S2F mạnh mẽ hơn với công suất 1.130 mã lực (830 kW) cùng với hệ thống truyền động cải tiến. Mức giá để nâng cấp T-72 lên chuẩn T-72B3M vào khoảng 250.000 USD/xe (thời giá 2016)[32], chỉ bằng 1/12 giá một chiếc T-90 mới trong khi khả năng chiến đấu thì gần tương đương. Bộ Quốc phòng Nga đã có kế hoạch nâng cấp hàng ngàn xe tăng T-72 lên chuẩn T-72B3M.
  • BMPT: Phương tiện chiến đấu hỗ trợ tăng. BMPT được thiết kế trên cơ sở của xe tăng T-72. Xe được thiết kế để hỗ trợ và hộ tống xe tăng. Vỏ giáp gồm thép-composite-phản ứng nổ. Các thông số chính của BMPT: khối lượng chiến đấu 47 tấn, tổ lái: 5 người, động cơ diesel V-92S2 1000HP, vận tốc tối đa: 65 km/h, hành trình 550 km. Vũ khí gồm: 2 pháo tự động 2A42 30mm với 850 viên, súng máy PKTM 7.62mm, 2000 viên, 2 súng phóng lựu AH-17D 2x30mm, 600 viên, 4 ống phóng tên lửa 9M120 Ataka-T. Ngoài ra xe còn được bảo vệ bởi hệ thống bảo vệ chủ động và thụ động[cần dẫn nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajeya phiên bản MK2
T-72 Ajeya của Ấn Độ
  • Ajeya MK1 - Phiên bản Ấn Độ của T-72M. Giống như đối với T-90S, bên cạnh nhập khẩu các xe tăng từ Liên Xô, Ấn Độ cũng cố gắng tự chế tạo một đội ngũ T-72 cho riêng mình và đặt cái tên là Ajeya. 900 xe tăng T-72 Ajeya MK1 được chế tạo tại một nhà máy nằm tại vùng Avadi và đến năm 1993 chúng được nâng cấp lên chuẩn T-72M1 của Liên Xô cũ.[33]
  • Ajeya MK2 - Phiên bản Ấn Độ của T-72M1, còn được gọi là Xe tăng chiến đấu Ajeya cải tiến (Combat Improved Ajeya). Vì tập trung sức lực vào mẫu tăng thuần nội địa Arjun nên trong suốt một thời gian dài các xe tăng T-72 Ấn Độ không được nâng cấp. Tuy nhiên, sau đó kế hoạch về Arjun bị đình trệ vì quá nhiều khó khăn phát sinh và kết quả là Ấn Độ tiến hành Chiến dịch Rhino nhằm tái trang bị và nâng cấp cho 1500 xe tăng T-72M1, và các xe tăng này trở thành Ajeya MK2. Chương trình nâng cấp bao gồm việc bổ sung hệ thống điều khiển bắn/thiết bị nhìn hồng ngoại SKO-1T DRAWA-T của Ba Lan, cung cấp bởi hãng PCO/Cenzi (hệ thống này lấy từ xe tăng PT-91 Twardy); giáp phản ứng DRDO; hệ thống định hướng dành cho Tamam của Israel; Litef của Đức hay RDI của Nam Phi; hệ thống đèn báo nguy sản xuất trong nước; radio kiểu mới chế tạo bởi Tadidran hay GES Marconi và hệ thống bảo vệ NBC cải tiến. Ajeya MK2 còn trang bị động cơ S-1000 công suất 1000 mã lực (750 kW) chế tạo bởi hãng PZL-Wola của Ba Lan (động cơ này cũng được trang bị cho PT-91 Twardy). Nó cũng được trang bị một fire detection and suppression systems và thiết bị cảnh báo bằng laser ở hai bên tháp pháo. Các nguồn tin Ấn Độ cho rằng có khoảng 1800-2000 T-72M1 được nâng cấp toàn diện, số còn lại sẽ chỉ được nâng cấp một phần.[33]
  • Tank EX - Phiên bản thử nghiệm của Ấn Độ, kết hợp giữa tháp pháo của xe tăng Arjun với thân của T-72

Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Saddam Hussein, Iraq đã tự chế tạo phiên bản T-72 của mình với tên gọi Sư tử Babylon, dựa theo mẫu T-72M mua được từ Đông Âu, kết hợp với một số linh kiện điện tử nhập của Trung Quốc. Phiên bản này cũng sử dụng pháo 125mm, nhưng thiếu các thiết bị nhìn đêm, máy đo xa và máy tính đường đạn. Phiên bản T-72 này được đánh giá là yếu hơn so với T-72M nguyên bản (chưa nói tới các phiên bản T-72 cao cấp dành riêng cho quân đội Liên Xô), tuy vậy nó vẫn trội hơn nếu so với những chiếc xe tăng M48 Patton, M60 của nước đối thủ là Iran. Theo nguồn Nga, khoảng 100 chiếc Sư tử Babylon đã được chế tạo trước khi dây chuyền chấm dứt hoạt động do Iraq bị cấm vận vũ khí.[cần dẫn nguồn]

Đầu thập niên 2010, theo Nhật báo tin tức quốc phòng Mĩ đưa tin, Iraq đang lên kế hoạch cải tiến hơn 2.000 xe tăng T-72 vừa mua từ các nước Đông Âu. Tập đoàn Defense Solutions of Exton, Pa của Mĩ sẽ đảm nhận việc tháo khung và tiến hành lắp đặt các thiết bị mới cho số xe tăng này. Tim Ringgold - Tổng giám đốc Defense Solutions of Exton, Pa nói: "Chúng tôi sẽ tiếp nhận tất cả những chiếc xe tăng theo hợp đồng sau đó sẽ tháo toàn bị "nội thất" bên trong và thay thế chúng bằng những trang bị hiện đại. Sau khi hoàn thành số tăng chiến trường có từ thời kỳ Liên Xô này sẽ có khả năng chiến đấu trong cả điều kiện ban đêm và ban ngày" – Ông Tim Ringgold nói thêm.[cần dẫn nguồn]

Tổng giám đốc Defense Solutions of Exton, Pa cho biết ông hy vọng sẽ nhận được hợp đồng yêu cầu chính thức từ phía các quan chức của chính quyền Iraq về thương vụ quy mô lớn này trong tuần tới. Phiên bản xe tăng T-72 mới này sẽ là đối thủ đầy hứa hẹn với T-72BM của Quân đội Nga.[cần dẫn nguồn]

Pakistan[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Khalid là sản phẩm hợp tác giữa Pakistan và Trung Quốc. Nó cũng có cơ chế nạp đạn tự động. Trang bị giáp liên hợp và phản ứng nổ. Hệ thống ngắm bắn có nguồn gốc phương Tây, hoàn toàn vi tính hóa. Al Khalid có bộ nguồn phụ trợ, cung cấp điện khi động cơ không hoạt động. Nó có hệ thống cảnh báo laser tiên tiến.[cần dẫn nguồn]

Al Khalid cũng được trang bị pháo 125mm, cơ số đạn 39 viên. Thân và tháp pháo đều dùng hàn, không sử dụng đinh rivet. Xe được bảo vệ khỏi phóng xạ và sinh hóa, cùng với hệ thống dập lửa. Ngoài ra, nó có hệ thống bảo vệ chủ động bằng laser, dùng tia laser để làm 'lóa' cảm biến nhiệt của tên lửa, cũng như làm tổn thương mắt của đối phương nếu chiếu vào thiết bị quang học. Khung gầm của nó cũng gần như giống với T-72. Động cơ Diesel 1200 mã lực.[cần dẫn nguồn]

Xe nặng 48 tấn, tổ lái 3 người, tốc độ tối đa 65 km/h, tầm hoạt động 450–600 km. Vượt dốc 40%, chướng ngại vật cao 0.8m, hào rộng 3m, lội nước 1.2m, 5m nếu có trang bị ống thông khí.

Hợp đồng mua thiết bị xe tăng do Islamabad ký với Ukraina có tổng trị giá 100 triệu USD. Theo đó, Pakistan sẽ nhập 285 động cơ và hệ thống truyền động để nâng cấp các xe tăng al-Khalid hiện thời, trong khoảng thời gian 3 năm. Xe tăng al-Khalid được Trung Quốc và Ukraina hợp tác sản xuất và bán cho quân đội Pakistan. Theo hãng tin ITAR-TASS, loại động cơ mới trên có công suất 1.200 mã lực. Nó sẽ cho phép al-Khalid di chuyển với vận tốc tối đa 65 km/h. Trong khi đó, Giám đốc trung tâm nghiên cứu quốc phòng Ukraina Valentin Badrak tiết lộ, nước ông chỉ cung cấp máy móc và thùng chứa nhiên liệu cho xe tăng al-Khalid của Pakistan. Ông cũng khẳng định hợp đồng này không hề làm thay đổi cán cân quân sự hiện nay tại khu vực Nam Á. Giữa những năm 1990, Ukraina đã bán 320 xe tăng T-80UD (T-84), do Liên Xô cũ thiết kế, cho Islamabad. Hành động đó khiến Ấn Độ phải xem xét việc mua xe tăng T-90 của Nga để lấy lại cân bằng quân sự.[cần dẫn nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Type-96 là loại cuối cùng trong chương trình xe tăng thế hệ hai của TQ. Phiên bản thử nghiệm mang tên Type-85. Xe được trang bị pháo nòng trơn 125mm, cơ chế nạp đạn tự động, cả hai đều copy từ T-72 của Nga. Tốc độ bắn tối đa 8 viên/phút, tổng số đạn 41 viên. Nó có khả năng phóng tên lửa chống tăng từ nòng súng, ví dụ như AT-11 của Nga mà TQ có bản quyền để sản xuất, nhưng chỉ dùng được khi xe tăng đứng yên, có 1 súng máy PK 12,7mm và 1 súng máy đồng trục 7,62mm. Nặng 42,5 tấn. Type-96 bắt đầu được đưa vào trong biên chế từ năm 1997, khoảng 1.500-2.000 chiếc đã được sản xuất. Nó có thể dùng để chống trực thăng. Tầm bắn 4–5 km. Các thông số về khả năng cơ động gần giống Al-Khalid.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc T-72 bị phá hủy.

Chiến tranh Liban 1982[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên T-72 được sử dụng trong chiến trận vào năm 1982 để chống lại cuộc xâm chiếm quân sự của Israel vào Liban. Ở thời điểm này, quân đội Syria có khoảng 150 xe tăng T-72 Ural mua của Liên Xô năm 1979 (những chiếc tăng này được Syria gọi là loại T-79, trong đó 79 thể hiện năm nhận hàng). Trong số 150 xe tăng này, Syria chỉ huy động một số lượng nhỏ để chiến đấu chống lại Israel, còn phần lớn được trang bị cho các đơn vị dự bị chiến lược nên không tham chiến.

T-72 Ural chỉ là phiên bản đời đầu của T-72, xe không có giáp composite, không có thiết bị đo xa laser và chỉ có kính nhìn đêm đời đầu, cũng không được trang bị loại đạn xuyên giáp kiểu mới, tên lửa chống tăng bắn qua nòng pháo AT-11 Sniper và hệ thống bảo vệ Drozd. Tuy nhiên, các xe tăng T-72 Ural của Syria vẫn chứng minh sự vượt trội của mình trước kỹ thuật thiết giáp phương Tây mà Israel trang bị (gồm chủ yếu là các loại M48 PattonM60 của Mỹ, và loại Magach do Israel cải tiến dựa trên M48 và M60). Sự thể hiện nằm ở khả năng cơ động lớn, sự phòng thủ cao và hỏa lực mạnh của các xe tăng T-72. Pháo 105mm trên xe tăng Centurion, M60 và Magach, loại pháo tăng chủ yếu của phương Tây thời điểm đó, đã không thể xuyên được giáp trước của T-72 Ural kể cả từ cự ly gần. Trên các tấm giáp đầu của một vài T-72 đã đếm được khoảng 10 vết lõm từ đạn xuyên giáp của địch. Mặc dù vậy, các phát đạn không xuyên qua được vỏ giáp, xe tăng vẫn duy trì được khả năng chiến đấu và không bị loại khỏi vòng chiến. Ngược lại, đạn pháo 125mm trên T-72 đủ khả năng bắn xuyên giáp trước xe tăng địch ở tầm xa 1.500 mét hoặc thậm chí xa hơn, kể cả với loại xe tăng Magach được trang bị giáp phản ứng nổ Blazer. Theo lời từ một sĩ quan Liên Xô làm cố vấn trong quân đội Syria, sau khi bị trúng đạn 125mm từ cự ly khoảng 1.200 mét, tháp pháo của xe tăng Israel đã bị vỡ tung từ đốc pháo. Theo tài liệu của Syria, các xe T-72 của họ đã tiêu diệt 33 xe tăng địch mà không chịu tổn thất nào (11 xe T-72 bị mất trong cuộc chiến đều là do bị bộ binh Israel trang bị tên lửa chống tăng TOW phục kích trên núi bắn vào nóc xe)[34]

Sau cuộc chiến, Syria đã tặng cho Liên Xô 1 chiếc xe tăng Magach tịch thu được của Israel để Liên Xô nghiên cứu các công nghệ trên xe tăng phương Tây. Đổi lại, Liên Xô đã ưu ái xuất khẩu 300 chiếc T-72A cho Syria. Đây là phiên bản T-72 cao cấp dành riêng cho quân đội Liên Xô, và ngay cả các nước trong Khối hiệp ước Warsaw khi đó cũng chỉ được mua những chiếc T-72M1, một phiên bản “hạ cấp” của T-72A. Tại Syria, những chiếc tăng này được biết đến là loại T-82, trong đó 82 thể hiện năm nhận hàng.

Sau cuộc chiến, Tổng thống Syria Hafez al-Assad đã ca ngợi T-72 là "xe tăng tốt nhất trên thế giới", nhấn mạnh rằng không có chiếc T-72 nào bị xe tăng Israel phá hủy trong cuộc chiến[35]

Chiến tranh Iran-Iraq (1980-1988)[sửa | sửa mã nguồn]

T-72M của Iraq năm 2006

T-72 tiếp tục tham gia trong Chiến tranh Iran-Iraq (1980-1988). Trong suốt cuộc chiến, Iraq đã mua tổng cộng 1.038 chiếc T-72M và T-72M1 (các phiên bản xuất khẩu bị cắt giảm tính năng của T-72), chủ yếu là từ Ba Lan[36].

  • Năm 1981, T-72 của Iraq lần đầu tiên tham chiến. Một tiểu đoàn T-72 đã giao chiến với 1 tiểu đoàn xe tăng Chieftain của Iran (Chieftain là loại xe tăng hiện đại nhất của Anh khi đó, được Iran nhập khẩu để trang bị cho các đơn vị tinh nhuệ). Kết quả là toàn bộ tiểu đoàn tăng của Iran bị tiêu diệt, trong khi quân Iraq không chịu tổn thất nào[37].
  • Năm 1988, Bộ chỉ huy quân đội Iraq đã quyết định tấn công mạnh trong khu vực bán đảo Fao. Quân Iraq tiến hành mũi công kích chính vào phía tây cửa sông Shatt – al – Arab với mục đích giải tỏa đường thủy tới bến cảng Basra. Chỉ huy quân đội Iraq đã quyết định tấn công trong thời gian 4-5 ngày. Các hoạt động chiến sự diễn bắt đầu vào buổi sáng 17 tháng 4 năm 1988 bằng cuộc tấn công theo hai hướng với sự tham gia của 200.000 quân. Hướng tấn công chính bằng lực lượng xe tăng Vệ binh cộng hòa trang bị các xe tăng T-72 và T-72M, từ tuyến Al Zubari – Umm Kasr tới đông nam. Buổi sáng, cuộc tấn công quy mô lớn của xe tăng bắt đầu, dẫn đầu là T-72, đã khai hỏa với cường độ cao và dội bão đạn vào đối phương. Đối thủ duy nhất của T-72 khi đó chỉ có thể là xe tăng chủ lực "Chieftain" do Anh chế tạo, được trang bị pháo nòng rãnh xoắn 120mm. Cuộc đối đầu giữa T-72 và "Chieftain" đã dẫn đến thiệt hại cho cả hai phía, song T-72 vẫn tỏ ra trội hơn so với Chieftain. M60, M48 Patton và các xe tăng khác của Iran thì không phải là nguy cơ đe dọa lớn đối với T-72M – giáp đầu xe chịu được sức công phá của pháo tăng 105mm trên hai loại xe này. Trong điều kiện vượt trội gần như hoàn toàn về xe tăng, quân đội Iraq đã chiến thắng sau 32 giờ.

Cả hai bên, Iraq và Iran, đều ghi nhận T-72 là xe tăng đáng sợ nhất trong cuộc chiến[38][39]. Pháo 105mm trên xe tăng Iran cũng như tên lửa chống tăng BGM-71 TOW đều không thể bắn thủng giáp trước của T-72[40][41] Không chỉ vượt trội về tính năng, T-72 cũng thể hiện khả năng hoạt động tốt tại khí hậu sa mạc nhiều bụi cát, trong khi xe tăng Anh, Mỹ thường bị trục trặc khi hoạt động ở đây. Một viên chức cao cấp Iran, Afzali, trong tháng 6 năm 1981, đã ca ngợi các xe tăng T-72 "có khả năng cơ động và hỏa lực vượt trội xe tăng Chieftain của Anh", và "không có bất cứ thông số nào của Chieftain có thể so sánh được với T-72. Iran không có các phương tiện hữu hiệu để chống lại T-72".[42]

Trong suốt Chiến tranh Iran-Iraq, khoảng 60 chiếc T-72 bị phá hủy, đối lại chúng đã phá hủy hàng trăm xe tăng của Iran. Sau thành công của T-72, Iraq tìm cách tự sản xuất loại xe tăng này dựa trên việc copy phiên bản T-72M cùng với những công nghệ mua từ Trung Quốc, loại xe tăng này có tên là Sư tử Babylon[36]

Chiến tranh Vùng Vịnh (1991)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian chiến dịch "Bão táp sa mạc" năm 1991, T-72M có mặt trong quân đội Iraq chống lại liên quân do Mỹ chỉ huy. Lực lượng T-72M khá đông đảo của Iraq (khoảng 900 chiếc) đã bị xe tăng M1 Abrams và trực thăng AH-64 Apache của Mĩ đánh thiệt hại nặng. Khoảng 250 chiếc T-72M đã bị phá hủy (mặc dù nguyên do chủ yếu là sự yếu kém của binh lính Iraq, việc bị không kích dữ dội và các mẫu T-72M của Iraq là phiên bản xuất khẩu đã bị cắt giảm rất nhiều tính năng so với T-72 dành cho quân đội Liên Xô).

Các xe tăng T-72M của Iraq là phiên bản xuất khẩu bị cắt giảm tính năng, nó thua kém hoàn toàn cả về hỏa lực và vỏ giáp so với các phiên bản T-72A và T-72B của quân đội Liên Xô:

  • T-72M của Iraq vẫn sử dụng loại đạn xuyên giáp cũ 3BM9 vốn đã bị Liên Xô loại bỏ từ năm 1973, sức xuyên phá của loại đạn này chỉ bằng một nửa so với đạn 3BM42 kiểu mới của T-72B Liên Xô[24],
  • T-72M không có khả năng bắn tên lửa chống tăng như T-72B, giáp trước của T-72M cũng chỉ dày bằng 1/2 so với T-72B có trang bị ERA loại Kontakt-5[43]).
  • T-72M của Iraq bị lược bỏ thiết bị đo xa bằng laser và một số hệ thống điều khiển hỏa lực kiểu mới khác, nên khả năng bắn chính xác của nó không hơn gì nhiều so với T-62 đời đầu, và thậm chí còn kém hơn so với các xe tăng thập niên 1950 nhưng được nâng cấp (T-55AM, T-62M) của quân đội Liên Xô.

Một loạt các thông số kỹ thuật quan trọng của T-72M phần nào đó so sánh được với M1 và M1IP, hai phiên bản đầu tiên của M1 Abrams vẫn còn được trang bị pháo chính 105mm, nhưng với M1A1HA (phiên bản tăng cường giáp và trang bị pháo 120mm mới nhất của Mỹ khi đó, ra đời năm 1990), T-72M không có chỉ số kỹ thuật nào so sánh được. Các biến thể sau cùng của M1 Abrams có thiết kế giáp đầu xe khá tốt, có các loại đạn xuyên giáp dưới cỡ nòng mạnh với lõi đạn bằng uranium nghèo, các khí tài quan sát, thông tin liên lạc hiện đại, đồng thời hệ thống điều khiển vũ khí được tăng cường khả năng tự động hóa. Trong các phiên bản T-72 thời đó, chỉ có T-72B dành riêng cho quân đội Liên Xô là có thể sánh được với M1A1HA.

Ngoài ra, những chiếc T-72M của Iraq thường đã trải qua 10 năm chiến tranh với Iran trong điều kiện sa mạc khắc nghiệt, nhiều linh kiện trong xe đã bị hao mòn, độ tin cậy không còn như xe mới (đặc biệt là nòng pháo đã bị mài mòn đáng kể do bắn quá nhiều lần trong các trận đánh với Iran, khiến độ chính xác bị sụt giảm nghiêm trọng), nhưng do lệnh cấm vận nên Iraq không thể nhập khẩu linh kiện thay thế[23] Cùng với đó, địa hình Iraq phần lớn là sa mạc trống trải, nên T-72M của Iraq rất khó có thể ngụy trang để bất ngờ tập kích đối phương. Máy bay của không quân Mỹ thường phát hiện và dội bom phá nát đội hình chiến đấu của xe tăng Iraq, gây thiệt hại nặng trước khi họ kịp giao chiến với xe tăng Mỹ. Với một loạt những khó khăn cả chủ quan lẫn khách quan như vậy, không có gì bất ngờ khi T-72M của Iraq thất bại trong phần lớn những trận đối đầu với xe tăng của Mỹ.

Chiến tranh Chechen[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Chechen lần thứ nhất, T-72 của quân đội Nga không gặp phải đối thủ thiết giáp đáng kể, phần lớn nguy hiểm mà chúng gặp phải là từ vũ khí chống tăng của bộ binh. Do Liên Xô vừa tan rã nên quân đội Nga khi đó gặp khủng hoảng về nhân sự và tài chính, họ phải sử dụng các xe tăng chưa chuẩn bị sẵn sàng cho chiến đấu (không có giáp phản ứng nổ, một số linh kiện bị hư hỏng, tổ lái chưa được huấn luyện kỹ…), các phân đội không có sự phối hợp tốt giữa xe tăng và lính bộ binh cơ giới trong điều kiện chiến tranh đường phố. Trong khi đó, các chiến binh Checchen được chuẩn bị tốt, nhiều người từng là cựu binh trong quân đội Liên Xô nên có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, lại được trang bị số lượng lớn các khí tài chống tăng vác vai. Mỗi xe tăng trong quá trình chiến đấu ở đường phố ở Grozny đã bị trúng 6 – 7 phát đạn từ súng RPG-7 hoặc tên lửa chống tăng. Hỏa lực chống tăng được ngắm sẵn vào những chỗ dễ bị tổn thương nhất của xe tăng như 2 bên hông xe, đuôi xe, nóc buồng động lực và phía sau tháp pháo. Trong 1 tháng chiến đấu, trong số 200 xe tăng ban đầu, đã có 62 xe tăng các loại của quân Nga bị phá hủy (một vài nguồn thống kê thiệt hại bao gồm: 15 chiếc T-72B và 5 chiếc T-72A, 17 chiếc T-80B hoặc T-80BV, còn lại là T-62). Đáng chú ý, trong số 62 xe tăng bị mất, chỉ có 1 xe bị phá hủy do trúng đạn vào khu vực có giáp phản ứng nổ, trong khi có những xe tăng bị trúng nhiều phát đạn nhưng vẫn sống sót do có giáp phản ứng nổ bảo vệ. Điều này cho thấy thiệt hại của quân Nga là do sự chuẩn bị không kỹ lưỡng và chiến thuật vụng về, chứ không phải do thiết kế xe tăng. Nó cũng cho thấy tầm quan trọng của giáp phản ứng nổ đối với xe tăng trong tác chiến đô thị.[44]

Trong một số trường hợp, sự khéo léo trong hoạt động của kíp xe cho phép mang tới kết quả tốt. Ví dụ như trong tháng 1 năm 1995, xe tăng T-72B từ lữ đoàn bộ binh cơ giới 131 ("Maikopsky") đã bị tấn công đồng thời từ một số tổ súng phóng lựu RPG-7. Bằng sự cơ động khéo léo, chiếc T-72 cuối cùng đã tiêu diệt được các chiến binh và rời khỏi trận địa an toàn. Trên thân xe và tháp pháo sau đó đếm được bị trúng 7 phát đạn, nhưng không có phát đạn nào xuyên qua giáp. Năm 1995, một xe T-72 đã bị trúng liền 4 quả tên lửa AT-4 Spigot. Mặc dù vậy, các tên lửa chống tăng chỉ làm nổ các phần tử giáp phản ứng nổ, kíp xe và xe tăng vẫn duy trì được khả năng chiến đấu và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trong chiến tranh Checchen lần thứ hai, thiệt hại về tăng thiết giáp của Quân đội Nga ít hơn đáng kể so với lần thứ nhất. Đã có số lượng lớn các sĩ quan có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, sự huấn luyện các kíp xe và tổ chức phối hợp chính xác, cùng sự đảm bảo về kỹ thuật trong các hoạt động chiến đấu (xe được trang bị đầy đủ giáp phản ứng nổ). Ví dụ như đại đội tăng thuộc lữ đoàn bộ binh cơ giới độc lập số 205 trong khi giải phóng khu vực Ctaropromulov thuộc Grozny tháng 12 năm 1999 đến tháng 1 năm 2000. Ví dụ như ở Grozny, hỏa lực địch chỉ làm bị thương một xe tăng của đại đội này và chỉ trong thời gian ngắn nhất nó đã được đưa đến phân đội sửa chữa của lữ đoàn, không ai trong kíp xe bị thương vong. Khoảng thời kỳ từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 8 năm 2000, đại đội T-72 này không thiệt hại bất kỳ một người hay một chiếc xe tăng nào.

Lớp giáp phản ứng nổ của T-72 đã bảo vệ nó an toàn trước hầu hết các phát bắn trúng từ vũ khí chống tăng của bộ binh địch, kể cả khi xe bị trúng đạn vào hông (là nơi có vỏ giáp mỏng hơn phía trước). Tính từ năm 1997 tới 2003, quân Chechen chỉ phá hủy được 3 chiếc T-72, trong đó duy nhất 1 chiếc bị phá hủy trong chiến tranh Checchen lần thứ hai[45][46]

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia hiện đang sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia sử dụng T-72
T-72 Hungaria.
T-72 MBT và BMP-1 IFV tân trang thuộc Sư đoàn cơ giới số 9 Iraq ở Taji, Iraq.
  •  Algérie - 500
  •  Angola - 22 T-72M1 mua từ Belarus năm 1999.[33]
  •  Armenia - 160 [3]
  •  Azerbaijan - 180 T-72A và T-72B năm 2003[3]
  •  Belarus - 1.465 T-72B[47][48]
  •  Bulgaria - 430 T-72M và T-72A năm 2003 [3]
  •  Croatia - 3 (xem thêm M-84)
  •  Cuba - Khoảng 50 [3]
  •  Cộng hòa Séc - 543 chiếc hưởng từ Tiệp Khắc năm 1993. 179 chiếc tăng chiến đấu chủ lực T-72 đang trong biên chế kể từ 1 tháng 1 năm 2008. Trước đó có 181 chiếc T-72 trong biên chế.[49]
  •  Ethiopia - 50 chiếc từ Yemen
  • Gruzia Gruzia - 230+ (Т-72B1, Т-72M và phiên bản Т-72A Ukraina)
  •  Hungary - 180 T-72, T-72M và T-72A [3]
  • Ấn Độ Ấn Độ - 1.700 T-72M và T-72M1 [50]
  •  Iran - 480 T-72M1 và T-72S từ năm 2002 (200 chiếc vào năm 1995 và 120 năm 2000) [51]
  •  Iraq - 1000 chiếc gồm các kiểu T-72, T-72M, T-72M1, Lion of Babylon và Saddam đã hoạt động trong quân đội Iraq năm 1990. 375 chiếc T-72, T-72M, T-72M1, Lion of Babylon và Saddam hoạt động trong quân đội Iraq năm 2003. Chỉ có 77 chiếc T-72M1 đang hoạt động năm 2007 trong quân đội Iraq mới[52]
  •  Kazakhstan - 650
  •  Kyrgyzstan - 210
  •  Libya - 150 năm 2003 [3]
  •  Malaysia
  • Maroc Maroc - 200
  •  Macedonia - 30 T-72A và 1 T-72AK từ Ukraina
  •  Myanmar - 139 T-72S
  •  CHDCND Triều Tiên - Chắc chắn 1 chiếc T-72S đã được bán cho Bắc Triều Tiên vào đầu thập niên 1990.[53]
  •  Ba Lan - 586 T-72M1 (2005 - 644, 2006 - 596)[54] and 135 T-72M1Z[55] (T-72M1 nâng cấp thành tiêu chuẩn PT-91) (Còn 98 chiếc PT-91 đang hoạt động) Kế hoạch cho T-72M1 nghỉ hưu năm 2010.
  •  Nga - 2255 đang hoạt động và 8000 chiếc đang được lưu kho [56][57]
  •  România - 30 T-72 và 3 hoặc 5 TR-125 (đang được rút dần khỏi hoạt động)
  •  Serbia - 65 T-72M
  •  Slovakia - 272 T-72M và T-72M1 [3]
  • Cộng hòa Nam Phi Nam Phi - [33]
  •  Syria - 1.600 [58]
  •  Tajikistan - 44 (33 năm 2000) [59]
  •  Turkmenistan - 702 [60]
  •  Ukraina - 1.180[61]
  •  Hoa Kỳ (display, tests)
  •  Uzbekistan - 70 [62]
  •  Yemen - 39 năm 2003 [3]
Flag of the Republic of Abkhazia.svg

Abkhazia

Các quốc gia sử dụng trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 và BMP-2 thuộc Đông Đức (cũ)
T-72M1 của Syria bị Israel chiếm, trưng bày tại Bảo tàng Yad la-Shiryon.
  • Flag of Chechen Republic of Ichkeria.svg
    Cộng Hòa Chechen Ichkeria - Sử dụng vài chục chiếc, mua từ Liên Xô, Nga và chiếm được trong và sau Chiến tranh Chechen lần thứ nhất.
  • Tiệp Khắc Tiệp Khắc - Khoảng 1.700 chiếc T-72/T-72M/T-72M1 được sản xuất từ 1981 đến 1990. Quân đội Tiệp Khắc có 815 T-72 năm 1991. Tất cả chuyển cho các nước cộng hòa độc lập.
  • Cộng hòa Dân chủ Đức Đông Đức - 35 T-72 (từ Liên Xô), 219 T-72 (từ Ba Lan và Tiệp Khắc), 31 T-72M (từ Liên Xô), 162 T-72M (từ Ba LanTiệp Khắc) và 136 T-72M1. 775 T-72 được trang bị thêm giáp vỏ. Ngừng hoạt động khi Đức hợp nhất.[63]
  • Phần Lan Phần Lan - Khoảng 160-170 T-72M1. Trong đó có khoảng 70 T-72M1 (một lữ đoàn bọc giáp) được mua từ Liên Xô và chuyển giao năm 1984, 1985-1988 và 1990. 97 chiếc T-72M1 nữa (bao gồm một số nhỏ thuộc phiên bản chỉ huy T-72M1K và T-72M1K1) được mua từ Đức năm 1992-1994. Tất cả hiện đã ngừng hoạt động, và được bán cho Cộng hòa Séc.[64]
  •  Israel - Chiếm được một số chiếc T-72M1 của Syria, nhưng không giống như T-54/T-55 và T-62, chúng không được sử dụng. Một trong số đó được trưng bày tại bảo tàng Yad la-Shiryon.
  •  Serbia và Montenegro - Chuyển cho các nước cộng hòa.
  •  Liên Xô - Chuyển cho các nước cộng hòa và các đồng minh của Liên Xô.
  • Flag of Germany.svg Tây Đức/ Đức - 549 chiếc được chuyển từ quân đội Đông Đức, tất cả đều bị loại bỏ, bán cho các quốc gia khác hoặc trưng bày tại viện bảo tàng.
  • Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Nam Tư - 90 T-72M và 3 T-72MK chế tạo tại Tiệp KhắcLiên Xô; chuyển cho các nước cộng hòa. (xem thêm M-84)
  •  Nam Tư - Chuyển cho các nước cộng hòa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "War Technology"
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l "Gary's Combat Vehicle Reference Guide"
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p "Militarium.net"
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g http://www.fas.org/man/dod-101/sys/land/row/t72tank.htm
  5. ^ https://books.google.com.vn/books?id=orOdCwAAQBAJ&pg=PA39&lpg=PA39&dq=TPN-1-49-23+range&source=bl&ots=vq6F46cwUM&sig=BCWs9j8FDWerqUa1L-zOYJsB4eo&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwj20Zapt5jcAhUafd4KHTINAN0Q6AEISzAL#v=onepage&q=TPN-1-49-23%20range&f=false
  6. ^ https://thesovietarmourblog.blogspot.com/2017/12/t-72-part-2-protection-good-indication.html#ural
  7. ^ https://thesovietarmourblog.blogspot.com/2017/12/t-72-part-2-protection-good-indication.html#t_72a
  8. ^ Conroy & Martz, p. 9
  9. ^ http://www.angelfire.com/mi4/armania/armor/armour/t72/T72M1.html
  10. ^ "IMPENETRABLE RUSSIAN TANK ARMOUR STANDS UP TO EXAMINATION" By Richard M. Ogorkiewicz. Jane's International Defence Review 7/2007, pg. 15
  11. ^ a ă â T-72 Ural vs M1 Abrams by Steven J. Zaloga ISBN 978-1-84603-407-7 Osprey Publishing 10/08/2009, p. 27
  12. ^ “ВООРУЖЕНИЯ, ВОЕННАЯ ТЕХНИКА, ВОЕННО”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  13. ^ a ă http://armor.kiev.ua/Tanks/Modern/T72/T72_90.php
  14. ^ С. Устьянцев, Д. Колмаков. Т-72. — Нижний Тагил: Уралвагонзавод / Медиа-Принт, 2004. — С. 167. — (Боевые машины Уралвагонзавода № 1). — 5000 экз. — ISBN 5-98485-003-6.
  15. ^ http://waronline.org/mideast/general-info/armament/t-72/characteristics.php#main-versions-comparison
  16. ^ a ă “Т-72Б "Рогатка". Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  17. ^ S. Zaloga, M. Jerchel, S. Sewell T-72 Main Battle Tank 1974—1993. — London: Osprey Publishing, 1993. — С. 39. — 48 с. — (New Vanguard № 6). — ISBN 1-85532-338-9.
  18. ^ “Vasiliy Fofanov's Modern Russian Armour Page”. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  19. ^ “ОСНОВНОЙ БОЕВОЙ ТАНК T”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  20. ^ https://viettimes.vn/nga-phat-trien-he-thong-phong-thu-tich-cuc-aps-arenam-cho-xe-tang-t72-t90-106383.html
  21. ^ a ă â “T-90”. globalsecurity.org. 
  22. ^ http://fofanov.armor.kiev.ua/Tanks/ARM/2a46.html
  23. ^ a ă https://thesovietarmourblog.blogspot.com/2015/05/t-72-soviet-progeny.html
  24. ^ a ă http://fofanov.armor.kiev.ua/Tanks/ARM/apfsds/ammo.html
  25. ^ http://dziennikzbrojny.pl/artykuly/art,5,19,9828,wojska-ladowe,czolgi,pokonac-pancerz-czesc-iii-dane-amunicji-apfsds-t
  26. ^ .P.Suvorov (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Moskva: Technique - Youth East horizon. tr. 44. 
  27. ^ P.Suvorov (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Moskva: Technique - Youth East horizon. tr. 19. 
  28. ^ “T-90”. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  29. ^ “ÈÑÏÛÒÀÍÈßÒÀÍÊÀ Ò-90”. 
  30. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hhs
  31. ^ “125mm APERS And Special Rounds”. Fofanov.armor.kiev.ua. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010. 
  32. ^ https://petrotimes.vn/nga-nang-cap-nhung-gi-cho-xe-tang-chien-dau-t-72b3m-398126.html
  33. ^ a ă â b "JED The Military Equipment Directory"
  34. ^ V.Ilin và M.Nikolski. "Liban-82. Israel có chiến thắng hay không?" Số 1 tạp chí Vũ khí và kỹ thuật năm 1997
  35. ^ Suvorov, "Chỉ huy xe tăng". T-72: Hôm qua, hôm nay and ngày mai, trang 52.
  36. ^ a ă http://btvt.narod.ru/2/iraqarmy2.htm
  37. ^ “Fire in the Hills: Iranian and Iraqi Battles of Autumn 1982 By Tom Cooper & Farzad Bishop,2003”. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  38. ^ Interview - Iranian Tank Commander,McCaul ED, Apr-2004, Military History, Vol. 21 No. 1
  39. ^ "Saddam’s Generals: Perspectives of the Iran-Iraq War", Youssef Aboul-Enein
  40. ^ “Fire in the Hills: Iranian and Iraqi Battles of Autumn 1982 By Tom Cooper & Farzad Bishop,2003”. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  41. ^ "Vse tanki SSSR. Samaya polnaya enciklopedia", Michail Baryatincky, 2004, pp.274(Russian:"Все танки СССР. Самая полная энциклопедия", Михаил Барятинский, 2004, стр.274)
  42. ^ http://army.lv/ru/Zabitaya-voyna-irano-irakskiy-konflikt/2640/4272
  43. ^ http://vnreview.vn/tin-tuc-khoa-hoc-cong-nghe/-/view_content/content/1553428/sieu-tang-t-14-armata-cua-nga-va-giac-ngu-dai-cua-nguoi-my
  44. ^ Mr. Lester W. Grau (tháng 1 năm 1997). “Russian-Manufactured Armored Vehicle Vulnerability in Urban Combat: The Chechnya Experience, Note 10”. Foreign Military Studies Office, Fort Leavenworth, KS. 
  45. ^ “Рейды чеченских боевиков”. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  46. ^ Фаличев О Армия ХХI века/ Интервью с главнокомандующим сухопутными войсками РФ Н. Кормильцевым // Военно-промышленный курьер. — 2003. — № 9.
  47. ^ Belarus Army Equipment
  48. ^ The BS-Fusion Security System stopped the current process
  49. ^ "Czech Ministry of Defense"
  50. ^ Army Equipment
  51. ^ Iranian Ground Forces Equipment
  52. ^ Shapir, Yiftah S., Middle East Military Balance, Tel Aviv University, 6, 7 [1]
  53. ^ Czołg T-72 - Militaria - Wojska lądowe - Konflikty Zbrojne
  54. ^ MILITARIUM - Wojsko Polskie - Uzbrojenie
  55. ^ Nowa Technika Wosjkowa
  56. ^ T-72 MBT | Russian Arms, Military Technology, Analysis of Russia's Military Forces
  57. ^ Russian Army Equipment
  58. ^ Syria - Army Equipment
  59. ^ Tajik-Army Equipment
  60. ^ Turkmen-Army Equipment
  61. ^ Ground Forces Equipment - Ukraine
  62. ^ Uzbek-Army Equipment
  63. ^ Deutsche Militärfahrzeuge, page 559
  64. ^ M.O.T. - "Till skrotpris"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sewell, Stephen ‘Cookie’ (1998). "Why Three Tanks?" in Armor vol. 108, no. 4, p. 21. Fort Knox, KY: US Army Armor Center. ISSN 0004-2420. (PDF format)
  • Christopher. F. Foss, Jane's Armour and Artillery 2005-2006. ISBN 978-0-7106-2686-8.
  • Leizin, Uri (2004) "Two myths of one battle: Syrian T-72's in 1982 Lebanon war"(in Russian)
  • Zaloga, Steven J (1993) T-72 Main Battle Tank 1974-93, Osprey Publishing ISBN 1-85532-338-9.
  • Ustyantsev, Sergej Viktorovich; Kolmakov Dmitrij Gennadevich "Boyeviye mashiny Uralvagonzavoda. Tank T-72"
  • A.V. Karpenko (1996) "Obozreniye Bronetankovoj Tekhniki (1905-1995 gg.)" Nevskij Bastion

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

AFV có thể so sánh được[sửa | sửa mã nguồn]

Trình tự thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

T-54 - T-55 - T-62 - T-64 - T-72 - T-80 - T-90 - T-95

Danh sách liên quan[sửa | sửa mã nguồn]