DShK

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
DShK
NVA DShK.jpg
Một khẩu DShK được gắn trên giá súng tiêu chuẩn của nó
LoạiSúng máy hạng nặng
Quốc gia chế tạo Liên Xô
 Trung Quốc
Lược sử hoạt động
Phục vụ1939-nay
Sử dụng bởi Liên Xô
 Trung Quốc
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Myanmar
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Cuba
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên

 Iran
 Iraq
 Syria
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Campuchia
Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam
Chiến tranh 6 ngày

Chiến tranh Vùng Vịnh
Chiến tranh Iraq
Lược sử chế tạo
Người thiết kếVasily Alekseyevich Degtyaryov
Georgy Semenovich Shpagin
Năm thiết kế1938 (DShK-38)
1946 (DShK 38/46 hay là DShKM)
Nhà sản xuấtTula Arms Plant Liên Xô
Norinco Trung Quốc
Giá thànhKhoảng 2250 đôla Mỹ
Số lượng chế tạoHơn 2 triệu khẩu
Các biến thểType 54 HMG (Trung Quốc)
MGD-12.7 (Iran)
Thông số
Khối lượng34 kg (74,96 lb) (chỉ tính súng)
157 kg (346,13 lb) tính luôn cả giá đỡ súng
Chiều dài1.625 mm (64 in)
Độ dài nòng1.070 mm (42,1 in)
Kíp chiến đấu3 binh sĩ

Đạn12,7×108mm
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
flapping bolt
Tốc độ bắn600 viên/phút
Vận tốc mũi850 m/s (2,788 ft/s)
Tầm bắn hiệu quảKhoảng 1.300 m
Tầm bắn xa nhấtKhoảng 2.000 m
Chế độ nạpDây đạn 50 viên
Ngắm bắnĐầu ruồi/Hệ thống ngắm phòng không

DShK-38 (Дегтярёва-Шпагина Крупнокалиберный, Degtyaryova-Shpagina Krupnokaliberny, Đại liên Degtyaryov – Shpagin kiểu 1938) là khẩu đại liên nổi tiếng dùng trong cả tác chiến mặt đất lẫn tác chiến phòng không của Liên Xô.Súng này do Liên Xô thiết kế. Súng sử dụng loại đạn 12,7×108mm. Nó được chấp nhận đưa vào sử dụng trong biên chế của Hồng quân Liên Xô suốt từ năm 1939 mãi cho đến khi bị khẩu NSV hiện đại hơn, tiên tiến hơn ra đời và thay thế vai trò của nó trong biên chế của Quân đội Liên Xô vào năm 1972. Mặc dù NSV được đưa vào sử dụng trong biên chế của quân đội Liên Xô từ năm 1972 nhưng phải cho đến khi Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan bùng nổ - tức là gần 8 năm sau khi NSV được chọn thì lính Liên Xô mới nhận ra được vai trò cũng như giá trị thật sự của NSV. Và cũng phải từ năm 1985 trở đi thì DShK mới bắt đầu được rút dần ra khỏi biên chế của quân đội Liên Xô.

Tên của súng là sự kết hợp giữa các chữ cái đầu trong tên của hai người đàn ông đã thiết kế ra súng, đó chính là Vasily Degtyaryov-người đã thiết kế ra nguyên mẫu của khẩu súng máy hạng nặng này - khẩu đại liên DK và Georgi Shpagin - người đã cải tiến cơ chế nạp đạn của khẩu DK để có được khẩu DShK hoàn chỉnh. Đôi khi súng cũng có biệt danh là "Dushika" (ДуШКа).

Lịch sử ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đại chiến thế giới thứ nhất, đặc biệt là từ năm 1925 trở đi thì các chuyên gia quân sự Liên Xô dần nhận ra một điều rằng: lực lượng không quân và thiết giáp của nhiều nước châu Âu (như là Anh, Pháp, Đức,...) và Mỹ đang phát triển rất nhanh chóng, đặc biệt là lực lượng không quân. Những chiếc máy bay làm bằng gỗ và giấy mỏng manh của Thế chiến 1 đang dần được thay thế bằng những chiếc máy bay được làm hoàn toàn bằng kim loại với tầm bay cao hơn, tốc độ bay lớn hơn, trang bị vũ khí mạnh hơn. Đồng thời, khả năng bị bắn hạ bởi súng máy phòng không đối với những chiếc máy bay này cũng ngày một giảm đi đáng kể. Kể từ khi Liên Xô được thành lập từ sau Cách mạng Tháng Mười thì các nước này vốn đã chẳng ưa gì một nước có tư tưởng xã hội chủ nghĩa rộng lớn như Liên Xô. Họ liên minh với quân Bạch vệ với quyết tâm "tiêu diệt" Liên Xô bằng mọi giá trong thời kì Nội chiến Nga nhưng bất thành. Cho đến năm 1929 thì Hồng Quân mới chỉ đưa vào trang bị súng máy PM M1910 (loại này đã có từ thời Thế chiến 1) làm súng máy phòng không tiêu chuẩn, nhưng đạn 7,62mm của khẩu PM M1910 ngày càng khó bắn hạ được những chiếc máy bay chiến đấu.Điều này đã làm phát sinh yêu cầu về một khẩu đại liên mới hơn, uy lực hơn. Nó phải vừa có thể dùng để tác chiến trên mặt đất, lại vừa có thể dùng nó để tác chiến phòng không tầm thấp đã bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ của cả các binh lính lẫn các sĩ quan của Hồng Quân. Vasily Degtyaryov - nhà thiết kế vũ khí nổi tiếng của Hồng Quân Liên Xô khi đó đã được các binh lính và sĩ quan của Hồng Quân yêu cầu rằng: phải thiết kế một khẩu súng máy mới hơn, uy lực hơn để họ có thể dùng nó chống lại xe thiết giáp hạng nhẹ và máy bay của quân thù. Trước đó, nhà thiết kế Vasily Degtyaryov đã trở nên nổi tiếng trong Hồng Quân khi ông chính là "cha đẻ" của khẩu súng máy hạng nhẹ nổi tiếng Degtyaryov DP dùng đạn 7.62mm. Nhà thiết kế Degtyaryov đã thiết kế ra được một khẩu súng máy mới. Ông lấy hình mẫu từ khẩu Degtyarov DP của mình để phát triển ra mẫu súng máy này. Súng này không sử dụng loại đạn 7,62×54 mm trước đó nữa mà chuyển hẳn sang sử dụng loại đạn mới được phát triển. Đó là đạn 12,7x108mm (đạn B-30). Loại đạn mới này có động năng lớn hơn làm cho súng có uy lực mạnh hơn nhiều so với đạn 7,62x54mm của khẩu PM M1910 (hay khẩu Degtyarov DP) rất nhiều.

Nhà thiết kế Degtyaryov đã tự thiết kế ra được mẫu "Degtyaryova Krupnokaliberny" (đại liên DK hay là súng máy cỡ nòng lớn của Degtyaryov) vào năm 1930. Súng máy DK được chấp nhận đưa vào sản xuất với số lượng nhỏ từ năm 1931 đến năm 1935 để trang bị cho các xe bọc thép, xe tăng hạng nhẹ của lực lượng tăng-thiết giáp (của Hồng Quân) và trên cả một số tàu chiến nhỏ của hải quân Liên Xô.Vào năm 1938 thì kĩ sư Georgi Shpagin đã thiết kế cho khẩu đại liên DK của nhà thiết kế Degtyaryov một cơ chế nạp đạn mới. Shpagin đã tiến hành chuyển đổi cơ chế nạp đạn của khẩu DK từ hộp tiếp đạn 30 viên với đủ các nhược điểm như là: ít đạn, nặng nề, tốn thời gian để nạp lại đạn vào súng sang thành dây đạn 50 viên nhẹ nhàng hơn, nhiều đạn hơn, việc nạp lại đạn cũng trở nên đơn giản và dễ dàng hơn hộp tiếp đạn 30 viên trước kia nhiều, thời gian duy trì hỏa lực chế áp của súng cũng tăng lên đáng kể, thời gian nạp lại đạn cho súng cũng giảm đi rất nhiều,... Và thế là, đại liên "Degtyaryova-Shpagina Krupnokaliberny" (Súng máy cỡ nòng lớn của Degtyaryov – Shpagin hay đại liên Degtyaryov-Shpagin) đã được ra đời. Một năm sau đó,vào năm 1939 thì DShK chính thức được đưa vào phục vụ trong biên chế của Hồng quân Liên Xô tại các binh chủng như là: bộ binh, thiết giáp, phòng không và hải quân.

Đôi nét về súng[sửa | sửa mã nguồn]

DShK là khẩu đại liên có cơ chế làm mát nòng súng bằng không khí, hoạt động bằng cơ chế trích khí.Lúc đầu, đại liên DK sử dụng hộp tiếp đạn loại 30 viên trong việc nạp đạn.Chính việc này đã đưa đến một nhược điểm lớn của đại liên DK đó là: việc súng có thể duy trì được hỏa lực chế áp trong khi chiến đấu không được lâu bằng những khẩu đại liên sử dụng cơ chế nạp đạn bằng dây đạn (như khẩu đại liên Browning M2 của Mỹ chẳng hạn) do việc phải thường xuyên nạp lại đạn liên tục cho súng bởi vì: với hộp tiếp đạn 30 viên và tốc độ bắn lên tới 600 phát/phút thì hộp tiếp đạn này sẽ hết sạch chỉ sau vài giây khai hỏa. Cho đến khi Georgi Shpagin cải tiến cơ chế nạp đạn của súng bằng cách ông sử dụng dây đạn trong việc nạp đạn cho súng vào năm 1938 thì nhược điểm này mới được khắc phục. Đại liên DK sử dụng cơ chế nạp đạn bằng dây đạn của Shpagin đã được chấp nhận đưa vào sử dụng trong biên chế của Hồng Quân và từ đó, súng có một cái tên mới là DShK.[1] Súng chỉ có duy nhất một chế độ bắn đó là bắn tự động (trong khi M2 Browning của Mỹ có chế độ bắn bán tự động). Xạ thủ sử dụng một hệ thống trích khí gồm có ba thiết bị chính đó là: một khóa nòng và hai cái chốt ngang xoay quanh một trục khóa thẳng đứng và nó được gắn liền với lá chắn vỏ đạn. Vỏ nòng súng được xẻ rãnh để tăng cường khả năng làm mát cho nòng súng (riêng phiên bản Type 54 HMG-phiên bản DShK bị Norinco của Trung Quốc làm nhái thì lại không có những rãnh làm mát này) và đầu nòng súng được gắn một giảm giật.[1]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, súng có cải tiến chút ít về đạn. Một dây đạn có 50 viên, cứ 5 hoặc 3 viên đạn xuyên thì gài vào 1 viên đạn lửa có tác dụng dẫn đường trong xạ kích ban đêm hoặc trong môi trường ánh sáng yếu.Đạn lửa của khẩu DShK hoạt động nhờ phản ứng cháy giữa MagieNhôm. Đạn lửa giúp cho xạ thủ quan sát được đường đi của viên đạn để kịp thời điều chỉnh đường ngắm. Loại đạn này cũng có tác dụng sát thương như đạn xuyên.[2] Đạn 12.7 mm còn có thể xuyên thép 15mm ở cự ly 500m. Súng nặng khoảng 137 kg (bao gồm cả súng lẫn giá đỡ súng). Biên chế nhân lực chiến đấu thường có một tổ gồm 3 người. Khi di chuyển, một người mang theo khẩu súng, một người mang (hoặc kéo) theo giá đỡ, một người mang theo đạn. Một khẩu DShK hoàn chỉnh còn bao gồm một giá 3 chân (dùng cho phòng không) hoặc giá bánh xe (dùng cho yểm trợ bộ binh), một hệ thống ngắm phòng không và một giảm giật của thiết bị ngắm có thể tháo rời ra được.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

DShK đang chiến đấu với vai trò là vũ khí phòng không trong thế chiến thứ hai

DShK 1938 là một trong những mẫu đại liên tiêu chuẩn của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai và nó được sử dụng trong nhiều vai trò khác nhau. Khi sử dụng làm súng phòng không, nó được gắn trên giá 3 chân và nó cũng được trang bị cho cho xe tải, xe tăngpháo tự hành làm hỏa lực phụ để chống lại những lính chống tăng của đối phương, máy bay ném bom tầm thấp,...Xe tăng IS-2, pháo tự hành ISU-152 đều dùng DShK làm hỏa lực phụ trợ trên tháp pháo, chỗ đài quan sát của chỉ huy chiếc tăng.Đôi khi, súng còn được trang bị trở thành hỏa lực chính của loại xe tăng lội nước hạng nhẹ T-40 và trên các xe bọc thép chở quân họ BTR. Trong suốt thế chiến thứ hai thì Hồng Quân đã sản xuất được khoảng 9.400 khẩu DShK.

Không chỉ được dùng trong tác chiến phòng không, DShK còn được sử dụng cho nhiệm vụ yểm trợ bộ binh khi tác chiến trên mặt đất (hoặc tác chiến từ trên xe tăng). Khi đó, súng sẽ được gắn trên một bộ chân đế có hai bánh xe, hai càng cố định và một tấm chắn bằng thép để bảo vệ cho xạ thủ (khi tác chiến trên mặt đất). Còn khi tác chiến từ trên xe tăng thì súng được gắn trên một loại giá được thiết kế dành riêng cho xe tăng

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1946, phiên bản hiện đại hóa của khẩu DShK-38 là DShK-38/46 hay DShKM đã ra đời. Sau Thế chiến thứ 2, súng không chỉ được sử dụng và sản xuất ở Liên Xô mà còn được sử dụng và sản xuất hết sức rộng rãi tại các nước như: các thành viên của Khối Warszawa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Pakistan, Cuba, Việt Nam,... Một số kiểu xe tăng hiện đại sau Chiến tranh thế giới thứ hai như T-55, T-64, T-72 vẫn sử dụng đại liên DShK làm hỏa lực phòng không cũng như hỏa lực yểm trợ bộ binh tiêu chuẩn mãi cho đến khi đại liên NSV hiện đại hơn ra đời và thay thế cho nó. T-72 chính là mẫu tăng hiện đại đầu tiên trang bị NSV thay cho DShK. Nhiều phiên bản khác nhau của khẩu súng này đã được sản xuất với số lượng lớn tại các nước bên ngoài Liên Xô như là ở: Trung Quốc, Iran, Pakistan,... Hiện nay, Pakistan là quốc gia duy nhất vẫn còn sản xuất phiên bản DShK của Trung Quốc, đại liên Type 54.[1]

Từ năm 1950 trở đi, đại liên DShK bắt đầu được Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc viện trợ cho Quân đội nhân dân Việt Nam và nó nhanh chóng trở thành vũ khí phòng không tầm thấp cũng như vũ khí yểm trợ bộ binh tiêu chuẩn trong các đại đoàn chủ lực và các tiểu đoàn phòng không độc lập của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến là: Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Và cho đến nay, DShK vẫn là súng máy 12,7mm được sử dụng phổ biến nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khẩu đại liên này đã bị quân đội Liên Xô thay thế bằng mẫu súng đại liên mới hơn, hiện đại hơn là NSV từ năm 1972. NSV dùng chung đạn với DShK nhưng nhẹ hơn (NSV nặng khoảng 25 kg khi không có nạp đạn.Còn DShK nặng 34kg khi chưa nạp đạn).Điều này giúp cho bộ binh mang vác NSV dễ dàng hơn. Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991 thì Cục thiết kế Degtyaryov Plant của Nga đã tự phát triển ra mẫu súng máy Kord để nó thay thế luôn cả vai trò của cả hai "người tiền nhiệm" là: DShK và NSV trong biên chế của Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga từ năm 2004. Nhưng cũng như nhiều thứ vũ khí khác của Nga, tuy gần như không còn được Nga sản xuất và không còn biên chế trong Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga nhưng những khẩu DShK vẫn còn rất tốt sau hàng chục năm. Vì vậy, nó vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong chiến đấu ở một số khu vực, đặc biệt là trong những cuộc xung đột vũ trang hay là các cuộc nội chiến ở các nước ở phía Tây châu Á và châu Phi. DShK được đánh giá là một trong những khẩu súng máy được lực lượng du kích ưa thích vì nó uy lực mạnh, không đòi hỏi quá nhiều công chăm sóc, bảo dưỡng như những khẩu súng máy khác,... Năm 2004, tại Al-Amarah, Iraq, nó đã được sử dụng để chống lại lính Anh.[3] Năm 2019, các cuộc chiến ở Iraq, Syria, Afghanistan,... vẫn tiếp tục có sự hiện diện của DShK. Mặc dù ở cái tuổi 80 nhưng khẩu DShK vẫn luôn tự chứng minh về bản thân của mình rằng: "Nó vẫn là một trong những "kẻ hủy diệt" đáng sợ nhất xuất hiện trên chiến trường dù là ở cái tuổi 80 đi chăng nữa!".

Nội chiến Trung QuốcChiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Nội chiến Trung Quốc giai đoạn 1946 - 1949, đại liên DShK do Liên Xô viện trợ cho Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc được sử dụng rộng rãi. Trước năm 1945, Bát lộ quân và Tân tứ quân Trung Quốc sử dụng phổ biến các mẫu đại liên như: Maxim Type 24 (Maxim Type 24 là phiên bản súng máy hạng nặng MG 08 của Đức được Hanyang Arsenal sản xuất từ năm 1935), sau này có thêm cả PM M1910SG-43 Goryunov (do Liên Xô viện trợ) hay là Browning M1919 (do Mỹ viện trợ) làm hỏa lực chủ yếu để yểm trợ cho bộ binh cũng như là hỏa lực phòng không tầm thấp. Năm 1945, sau khi đánh cho đạo quân Quan Đông của Nhật Bản tại Mãn Châu thua tan tác thì Liên Xô đã viện trợ cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược các loại; trong đó có khoảng hơn 3000 khẩu DShK. Từ đó, loại súng máy này được trang bị đến cấp tiểu đoàn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, có tới hơn 100 đại đội hỏa lực đại liên DShK chuyên trách được tổ chức. Ngoài ra, mỗi đại đội bộ binh nặng cũng được trang bị từ 1 đến 2 khẩu súng này. Cùng với chiến thuật biển người, hỏa lực đại liên DShK đã reo rắc nỗi kinh hoàng cho các đơn vị bộ binh, thiết giáp hạng nhẹ và các loại máy bay cánh quạt của Quân đội Trung Hoa dân quốc. Hiện nay, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc đã thay thế nó bằng đại liên W85 hiện đại hơn,nhẹ nhàng hơn do công ty Norinco của Trung Quốc thiết kế và sản xuất hàng loạt để phục vụ cho Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và xuất khẩu. Khẩu W85 cũng sử dụng đạn 12.7x108mm (giống với khẩu DShK)

Trong Chiến tranh Triều Tiên, Chí nguyện quân của Giải phóng quân Nhân dân Trung QuốcQuân đội Nhân dân Triều Tiên đều sử dụng đại liên DShK làm hỏa lực yểm trợ cấp tiểu đoàn cũng như là hỏa lực phòng không tầm thấp đến gần trung bình. Nó và pháo phòng không tự động 61-K 37 mm bẻ gãy nhiều cuộc tấn công của lực lượng máy bay cánh quạt của Không quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953).

Trong Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Đông Dương (1946-1954), từ năm 1950 trở đi, đại liên DShK được sử dụng làm hỏa lực cấp trung đoàn và tiểu đoàn bộ binh độc lập (quân chính quy) của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước năm 1954, số lượng súng máy DShK phục vụ trong biên chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn còn tương đối hạn chế vì nó còn phụ thuộc vào nguồn vũ khí, đạn dược viện trợ từ phía Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc.Mỗi một trung đoàn hoặc tiểu đoàn bộ binh độc lập chỉ sở hữu có khoảng từ 1 đến 3 khẩu súng này nhưng cũng không đủ để trang bị cho toàn bộ lực lượng của QĐNDVN. Cho đến năm 1954 thì trong biên chế của trung đoàn phòng không 367 thuộc Đại đoàn 351 (hỗn hợp công binh - pháo binh) có sáu tiểu đoàn phòng không, mỗi tiểu đoàn có 1 đại đội DShK (12 khẩu) và 3 đại đội cao xạ 37mm (12 khẩu), trang bị tổng cộng 72 khẩu DShK và khoảng 72 khẩu 61-K 37 mm. Trung đoàn đã tham gia vào Chiến dịch Điện Biên Phủ và trong chiến dịch này thì những khẩu DShK đã bắn hạ 13 trên tổng số 62 máy bay của quân viễn chinh Pháp bị phá hủy bởi vũ khí phòng không, đồng thời, DShK cũng gây thiệt hại cho rất nhiều máy bay khác của quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Những khẩu DShK cùng với những khẩu pháo phòng không tự động 61-K 37 mm giúp cho những người lính Việt Minh khống chế gần như toàn bộ bầu trời Điện Biên Phủ, gây ra rất nhiều khó khăn và thiệt hại cho các hoạt động tiếp viện, trinh thám, hay là đánh phá bằng máy bay của quân Pháp.[4]

Trong cuộc chiến tiếp theo-Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) thì số lượng đại liên DShK phục vụ trong biên chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể và đồng thời, Quân chủng Phòng không - Không quân của QĐNDVN cũng ngày một trở nên lớn mạnh, quy củ hơn trước rất nhiều. Mỗi một trung đoàn thường được trang bị khoảng từ 3 đến 4 khẩu súng này. Còn mỗi một tiểu đoàn thì được trang bị ít hơn trung đoàn, thường chỉ có khoảng từ 2 đến 3 khẩu.Từ năm 1972 trở đi, số lượng súng DShK được trang bị đối với cấp trung đoàn được tăng lên thành 5 đến 7 khẩu hoặc được tổ chức riêng biệt thành các đại đội hỏa lực phòng không riêng biệt sử dụng hỗn hợp hai loại súng máy là DShK 12,7 mm và Súng máy hạng nặng KPV cỡ nòng 14,5 mm. Cho đến nay, số lượng đại liên DShK được biên chế trong hỏa lực cấp trung đội trực thuộc các đại đội bộ binh chính quy của QĐNDVN thường có số lượng vào khoảng từ 3 đến 5 khẩu. Vậy nên, nó thường được gọi là súng máy cấp đại đội.

Đối với Binh chủng Tăng - Thiết giáp của QĐNDVN thì DShK được gắn trên các xe bọc thép BTR-40, BTR-50, trên tháp pháo xe tăng T-54/55 do pháo thủ thứ hai hoặc chính chỉ huy xe tăng đó trực tiếp điều khiển.Nó vừa dùng làm hỏa lực yểm trợ tầm gần cho bộ binh, vừa dùng làm hỏa lực phòng không tầm thấp. Đối với các tàu tuần tiễu cỡ nhỏ hoặc xuồng phóng lôi, DShK cũng được gắn trên các giá đỡ, phối hợp với các loại vũ khí khác trên tàu để tạo ra màn hỏa lực dày đặc.

Trong tác chiến phòng không, nhiều đơn vị hỏa lực cấp đại đội đến tiểu đoàn phòng không sử dụng súng máy DShK 12,7 mm kết hợp với các loại súng máy cỡ lớn như ZPU-1, ZPU-2, ZPU-4. Điển hình là cụm tiểu cao 175, (đơn vị cấp tiểu đoàn) thuộc Trung đoàn cao xạ 252 (Sư đoàn phòng không 363 - Hải Phòng). Trong biên chế của tiểu đoàn có một đại đội gồm có 12 khẩu DShK 12,7 mm và 2 đại đội gồm có 18 khẩu ZPU-2 và ZPU-4 đã chiến đấu tốt trong Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, bắn rơi 5 máy bay tiêm kích các loại A-6, A-7, F-4H và một chiếc F-111 rất hiện đại của Không lực Hoa Kỳ.[5]

Đối với các lực lượng dân quân tự vệ trong thời kì Chiến tranh Việt Nam, đại liên DShK cũng được sử dụng rất rộng rãi bởi lực lượng này. Trong hai cuộc chiến tại Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của Không lực Hoa Kỳ (1964-1968 và 12 ngày-đêm cuối năm 1972), đại liên DShK được trang bị cho các trung đội và tiểu đội dân quân tạo dựng màn hỏa lực tầm thấp chống lại các máy bay Mỹ. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 12 năm 1972, ba trung đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động, Nhà máy Cơ khí Lương Yên và Xí nghiệp Gỗ Bạch Đằng phục kích tại cảng Vân Đồn (Hai Bà Trưng - Hà Nội) đã sử dụng 3 khẩu DShK và 2 tổ hợp súng máy phòng không ZPU-1 (14,5 mm) đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F-111A hiện đại của Không lực Hoa Kỳ.[6]

Không chỉ được dùng để bảo vệ miền Bắc, DShK kết hợp với nhiều thứ vũ khí phòng không khác cũng được nhìn thấy chiến đấu tại các binh trạm của QĐNDVN bố trí dọc theo tuyến đường Đường Trường Sơn để chống lại các cuộc càn quét, bắn phá của Không quân Hoa Kỳ cũng như Không lực Việt Nam Cộng hòa ngắm vào con đường này.

Trong Trận Khe Sanh thì những khẩu DShK được bố trí phòng thủ tại các ngọn đồi xung quanh Sân bay Tà Cơn của Quân Giải phóng đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các hoạt động tiếp tế, chi viện của Không quân Mỹ từ Sân bay Tà Cơn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa lẫn Quân đội Mỹ đến mức các chỉ huy cao cấp của Không quân Hoa Kỳ phải đau đầu suy nghĩ ra cách tiếp tế từ trên không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòaQuân đội Mỹ ở dưới đất bằng Chiến dịch Đàn Ngỗng (Operation Gaggle).Đến năm 1971, trong chiến dịch Lam Sơn 719 thì Không quân MỹKhông lực Việt Nam Cộng hòa gặp thiệt hại rất nặng nề vì màn hỏa lực phòng không dày đặc tạo ra từ những vũ khí phòng không của quân Giải phóng ở dưới mặt đất (trong đó có DShK).Họ bị thiệt hại lớn đến mức họ phải thốt lên rằng:"Hạ Lào không phải khu vườn hoa"

DShK được nhiều chuyên gia quân sự Mỹ đánh giá là một trong những thứ vũ khí cực kỳ nguy hiểm đối với các loại trực thăng của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Binh sỹ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thường dùng chiến thuật đón lõng đường bay để săn tìm, phá hủy trực thăng Mỹ. Họ ẩn nấp, ngụy trang dưới hầm hoặc dưới tán cây rậm rạp, đợi trực thăng Mỹ sà thật thấp xuống săn tìm mục tiêu hoặc đổ quân chi viện thì nổ súng để triệt hạ nó. Chỉ cần vài phát đạn 12.7mm bắn trúng trực diện chiếc trực thăng là đủ để triệt hạ nó. Trong số hơn 5.600 trực thăng các loại của Mỹ bị phá hủy ở Việt Nam thì tỷ lệ trực thăng bị hạ lớn nhất là do súng máy DShK gây nên. Có nhiều chiến sĩ của QĐNDVN đã triệt hạ được nhiều máy bay đối phương (đặc biệt là trực thăng) bằng DShK trong Chiến tranh Việt Nam, tiêu biểu như:

  • Trong 3 năm 1970-1972, chiến sĩ Lê Xuân Tưởng (sinh năm 1950 tại thôn Xuân Hồi, xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) đã cùng với đồng đội của anh tiêu diệt tới 37 chiếc máy bay Mỹ bằng DShK, trong đó có 2 chiếc máy bay phản lực F-4 Phantom hiện đại của không quân Mỹ .Đặc biệt, trong trận đánh ngày 02/07/1970 ở căn cứ Dốc Mây, chỉ trong 30 phút, chỉ riêng anh Lê Xuân Tưởng đã bắn hạ tới 5 chiếc máy bay UH-1A của Mỹ[7]
  • Chiến sĩ Tạ Duy Sản (tổ 1B, phường Tân Thịnh, thành phố Hoà Bình) cùng với khẩu DShK đã hạ 4 máy bay Mỹ (trong 3 ngày 15, 16, 17/7/1968, trung đội của anh đóng chốt tại sân bay Khe Sanh đã hạ tới 7 máy bay CH-47, trong đó, chiến sĩ Tạ Duy Sản tự mình bắn hạ 1 chiếc)[8]
  • Lê Hữu Tựu (1944 - 1972), Anh hùng LLVTND; Đại đội phó Đại đội phòng không 3, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 2, quân khu 5. quê xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Ông là xạ thủ súng máy phòng không 12,7 mm, chiến đấu trên 50 trận, bắn rơi 31 máy bay trực thăng Mỹ.
  • Chiến sĩ Nguyễn Văn Nhương (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, quê ở xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) đã cùng DShK tham gia 175 trận đánh trong những năm từ 1968 đến 1972, bắn rơi 13 máy bay các loại (riêng trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, bản thân ông đã bắn rơi 7 máy bay)[9][10]
  • Ngày 30 tháng 7 năm 1970, tại khu vực núi Cô Pung, tây Thừa Thiên-Huế, khẩu đội súng máy 12,7mm thuộc sư đoàn 324, xạ thủ Đặng Thọ Truật đã tổ chức phục kích trực thăng Mỹ đổ quân. Trong khoảng 30 phút, với 125 viên đạn, Đặng Thọ Truật đã bắn rơi tại chỗ 13 trực thăng, bắn bị thương 11 chiếc khác. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đặng Thọ Truật được tặng thưởng 5 danh hiệu “Dũng sĩ diệt máy bay”, 2 danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” cùng nhiều phần thưởng khác. Ngày 10/8/2015, Đặng Thọ Truật được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân[11].
  • Lúc 13h ngày 13/9/1968, Đại đội 18 Trung đoàn 320, với 2 khẩu DShK và 40 viên đạn đã bắn rơi 2 chiếc trực thăng UH-1, trong đó 1 chiếc đang chở ban chỉ huy Mỹ, giết chết thiếu tướng Mỹ Keith Lincoln Ware (Tư lệnh Sư đoàn 1 "Anh Cả Đỏ" của Mỹ)[12]

Hiện nay, DShK trong biên chế QĐNDVN đang dần dần được thay thế bằng loại súng máy 12,7 ly 7 khác tiên tiến hơn là NSV.

Thông số[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khối lượng: 34 kg (chỉ tính riêng phần súng)
  • Chiều dài: 1.625 mm
  • Cỡ nòng: 12,7 mm
  • Độ dài nòng: 1.070 mm
  • Cơ chế hoạt động: Trích khí
  • Cỡ đạn: 12.7x108mm
  • Cơ chế nạp đạn: Dây đạn 50 viên
  • Tốc độ bắn: 600 viên/phút
  • Vận tốc đạn: 850 m/s
  • Tầm bắn hiệu quả: 1300 m
  • Tầm bắn tối đa: đến 2000 m.[13]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • DShK-38: phiên bản DShK nguyên thủy.
  • DShK 38/46:phiên bản DShK 38 được hiện đại hóa vào năm 1946.Súng thường được gọi với cái tên đơn giản hơn: DShKM.
  • Type 54: phiên bản DShKM do công ty Norinco của Trung Quốc sản xuất bất hợp pháp, vẫn còn được Pakistan sản xuất (Dưới sự cho phép của Norinco)
  • MGD-12.7: Phiên bản DShKM của Iran.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

DShK gắn trên xe tại Afghanistan
DShK gắn trên xe tại Romania
DShK gắn trên xe tại Iraq

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Degtyarov - Shpagin DShK / DShKM 12.7 heavy machine gun (USSR)
  2. ^ Chuyện của một "Kiện tướng bắn máy bay" (kỳ 2)
  3. ^ Mills, Dan (2007). “16”. Sniper One. Penguin Group. tr. 192. ISBN 978-0-718-14994-9. They were Dshkes, a Russian-made beast of a thing that fires half-inch calibre rounds and was designed to bring down helicopters. 
  4. ^ Lịch sử Sư đoàn phòng không 367. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 4-31.
  5. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 106.
  6. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 136-137.
  7. ^ “Những trận đánh oanh liệt của 'vua diệt máy bay Mỹ'. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 14 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “TrangChu”. Báo Hòa Bình. Truy cập 14 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Chuyện về Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nhương”. Báo Gia Lai. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015. 
  10. ^ “Ký ức về những trận đánh ác liệt của Anh hùng Nguyễn Văn Nhương”. Báo Gia Lai. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015. 
  11. ^ http://petrotimes.vn/tran-danh-30-phut-ban-roi-13-truc-thang-my-359071.html
  12. ^ http://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/gap-nguoi-ban-trung-tuong-my-keith-lincoln-ware-ky-2-n20090825085742273.htm
  13. ^ Nguyễn Hữu Thăng. Vũ khí xưa và nay. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. Hà Nội. 2002. trang 67.
  14. ^ a ă Miller, David The Illustrated Directory of 20th Century Guns. page 464, ISBN 0-7603-1560-4, url:[1]
  15. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap aq ar as at au av ax ay ăa ăă Jones, Richard D.; Ness, Leland S. biên tập (ngày 27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản 35). Coulsdon: Jane's Information Group. ISBN 9780710628695. 
  16. ^ Gander, Terry J.; Hogg, Ian V. Jane’s Infantry Weapons 1995/1996. Jane’s Information Group; 21 edition (May 1995). ISBN 978-0-7106-1241-0.
  17. ^ a ă â G3 Defence Magazine August 2010
  18. ^ a ă â Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. London: Salamander Books Ltd. ISBN 9781840652451. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]