Bước tới nội dung

SVT-40

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
SVT-40
Súng trường SVT-40
LoạiSúng trường, súng trường chiến đấu, súng trường tự động, súng bắn tỉa, súng cầm tay
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1940–Nay
Sử dụng bởiXem phần Các quốc gia sử dụng
 Liên Xô
 Nga
 Trung Quốc
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Belarus
 Cuba
 Kazakhstan
 Afghanistan
 Bulgaria
 Ukraina
 Lào
 Đông Đức
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Gruzia
 Israel
TrậnChiến tranh Thế giới thứ hai
Chiến tranh Trung-Nhật
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Lào
Nội chiến Trung Quốc
Cách mạng Cuba
Chiến tranh Lạnh
Và nhiều cuộc chiến khác
Lược sử chế tạo
Người thiết kếFedor Vasilievich TokarevSergei Gavrilovich Simonov
Năm thiết kế1940
Nhà sản xuấtNhiều hãng của Liên Xô
Giai đoạn sản xuất1940-1945
Số lượng chế tạoHơn 1.600.000 khẩu
Các biến thểSVT-38, AVT-40
Thông số
Khối lượng3,85 kg
Chiều dài1226,82mm (48,3 in)

Đạn7.62×54mmR
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Tốc độ bắn85–97 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng840 m/giây
Tầm bắn hiệu quả800 mét
Tầm bắn xa nhất3000 m
Chế độ nạpBăng đạn 10 viên có thể tháo rời
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc ống ngắm PU

SVT-40, hoặc là Tokarev SVT-40, tên đầy đủ tiếng NgaСамозарядная Винтовка Токарева, Образец 1940 года (phiên âm: Samozaryadnaya Vintovka Tokareva, Obrazets 1940 goda, dịch sang tiếng Việt: Súng trường bán tự động Tokarev, mẫu năm 1940) là một loại súng trường bán tự động được thiết kế bởi Fedor TokarevSergei Gavrilovich Simonov, hai nhà thiết kế vũ khí của đất nước Liên Xô. Nó được sử dụng rất nhiều trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cùng nhiều cuộc chiến khác sau đó.

Việc sử dụng cỡ đạn 7,62x54mmR cho SVT-40 có sức mạnh rất tốt, với sức công phá vượt trội, tầm bắn xa. Sơ tốc đạn lên tới 840 mét/giây, có khả năng hạ gục mục tiêu ở khoảng cách 500 mét một cách dễ dàng, tầm bắn hiệu quả lên tới 1.000 mét khi sử dụng kèm với ống ngắm quang học. SVT-40 có độ bền và tính chính xác cao, lại là súng bán tự động nên tốc độ bắn cũng nhanh hơn hẳn các súng trường bắn phát một vào thời kỳ đó. Sử dụng trích khí ngắn với hộp đạn có thể tháo rời gồm 10 viên, khẩu súng trường bán tự động này có thể đạt tốc độ bắn tối đa lên tới 85 - 97 phát/phút (theo lý thuyết) hoặc 40 - 50 viên/phút (ngắm bắn trong thực tế), nghĩa là nhanh gấp 4 lần so với loại súng trường Mosin-Nagant phổ biến của Hồng quân Liên Xô trước đó.

Hồng Quân Xô Viết dự định sẽ sản xuất cả mấy triệu khẩu để thay thế cho súng trường bắn phát một Mosin-Nagant. Tuy nhiên, việc Đức Quốc xã tấn công Liên Xô vào năm 1941 khiến việc sản xuất SVT-40 bị chậm lại hẳn do các nhà máy phải ưu tiên sản xuất các loại súng khác. Tổng cộng đã có 1,6 triệu khẩu được sản xuất, bao gồm cả 50.000 khẩu thuộc phiên bản bắn tỉa.

Bằng chứng cho độ ưu việt của khẩu SVT-40 so với các loại vũ khí bộ binh cùng thời khác đó là nó rất được binh sĩ quân đội Đức Quốc xã ưa thích và xem là một chiến lợi phẩm quý giá. Thậm chí quân Đức còn sao chép thiết kế trích khí, hộp đạn tháo rời của SVT-40 để sản xuất ra 400.000 khẩu súng trường Gewehr 43.

Lyudmila Mikhailovna Pavlichenko - xạ thủ bắn tỉa thành công nhất trong lịch sử với 309 lần tiêu diệt kẻ địch, chuyên sử dụng 1 khẩu SVT-40 có kính ngắm.

Tuy nhiên phiên bản bắn tỉa của SVT-40 tỏ ra kém hơn phiên bản bắn tỉa của súng Mosin-Nagant. Xạ thủ bắn tỉa thường phải căn chỉnh khá lâu trước khi bắn nên khả năng bắn bán tự động của SVT-40 ít khi có ích với họ, trong khi súng lại thiếu chính xác và dễ kẹt hơn so với Mosin-Nagant. Cứ mỗi viên đạn đầu tiên (viên đạn đầu tiên được bắn ra sau khi thay hộp tiếp đạn) ở khoảng cách 100 mét bị lệch lên phía trên một khoảng 10-25mm so với điểm rơi trung bình của các viên đạn còn lại. Độ lệch này là không đáng kể với bộ binh chiến đấu thông thường, nhưng với xạ thủ bắn tỉa chuyên bắn mục tiêu ở vài trăm mét thì đó là một độ lệch khá lớn. Tới năm 1941, hiện tượng này vẫn xuất hiện trên các súng sản xuất hàng loạt. Năm 1942, Liên Xô quyết địch ngưng sản xuất SVT-40 với kính ngắm PU, thay vào đó tiếp tục sản xuất Mosin-Nagant M91/30 và thay kính ngắm PE bằng kính ngắm PU.

Súng này cũng được Liên Xô cung cấp cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam chống lại Quân đội Mỹ, Việt Nam Cộng hòa và đồng minh. Số lượng vào Việt Nam của nó không nhiều bằng K44CKC, và nó cũng không được dùng nhiều như hai khẩu súng trường kia.

Các quốc gia sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]