CKC

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Súng CKC * Chiều dài súng: 1,21 m dài hơn cả M16 * Chiều dài nòng: 0,521 m * Trọng lượng: 3,85 kg * Cỡ đạn: 7,62x39 mm * Tốc độ đạn ra khỏi nòng: 735 m/s * Hệ thống nạp đạn: nạp đạn từng viên * Tầm bắn hiệu quả: 200 đến 400m * Tầm hoạt động tối đa (lý thuyết): 1.000m (1 km)

CKC (viết tắt của "Самозарядный карабин системы Симонова" trong tiếng Nga, nghĩa là Súng trường nạp đạn tự động cơ cấu Simonov),hay còn được gọi là CKC (cách gọi CKC là cách gọi chủ yếu ở Việt Nam, dựa theo tên viết tắt của súng trong hệ chữ viết Kirin) là loại súng trường bắn đạn cỡ 7,62x39 mm (chung cỡ đạn với súng AK-47RPD). CKC được Sergei Gavrilovich Simonov (1894 - 1986), người Liên Xô, thiết kế ra và được thử nghiệm ở mặt trận trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, sau này được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam. Hiện nay, súng CKC vẫn được sử dụng trong quân đội nhiều nước. Tại Việt Nam, súng bắt đầu được viện trợ từ năm 1960 và hiện nay vẫn được trang bị cho dân quân tự vệ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trước chiến tranh thế giới thứ II, quân đội nhiều nước nhận ra rằng các mẫu súng trường hiện có (như Mosin-Nagant, Lee-Enfield hay Gewehr 98), dù đã được hiện đại hóa bằng cách cắt ngắn nòng so với phiên bản trước đó nhưng vẫn quá dài và nặng nề khi sử dụng. Tầm bắn của những loại súng này là cực kì thừa thãi - lên tới 1000 - 2000m (tương đương với các khẩu trung liênđại liên thời bấy giờ), quá nhiều cho hỏa lực đại trà của bộ binh trong khi hầu hết những trận đánh xảy ra với tầm thị lực của người lính từ 100 - 300m. Chỉ có những xạ thủ bắn tỉa mới có thể tận dụng hết khả năng của những khẩu súng trường như thế này.

Giải pháp của người Mỹ đưa ra là khẩu M1 Carbine, sử dụng đạn.30 Carbine, thiết kế theo trường phái "kéo dài súng ngắn" với thuốc đạn viên tròn và đầu đạn không có hiệu ứng con quay "mũi chống trên không khí". Khẩu súng thất bại và trở thành vũ khí cá nhân cho các lực lượng tuyến sau với giá thành đắt đỏ. Người Đức tạo ra khẩu MP-43 (về sau đổi tên thành StG-44) với đạn 7,92x33mm Kurz có mũi đạn chóp nhọn giống đạn súng trường dùng thuốc đạn súng ngắn - tuy không đóng góp gì nhiều cho kết cục của cuộc thế chiến nhưng lại rất nổi tiếng vì những tính năng ưu việt của nó khi ra đời. Súng không bắn điểm xạ bằng cách cầm vào phần nằm trước băng đạn như ốp lót tay của AK-47 hay M-16 được, vì đó là chỗ tản nhiệt cho nòng.

Liên Xô đề ra giải pháp gần giống với Đức: họ cắt ngắn đạn 7,62x54mmR trở thành đạn 7,62x41mm (và sau đó là M43 7,62x39mm cực kì nổi tiếng), nhưng vẫn giữ nguyên loại thuốc đạn trụ cứng của súng trường. Ý tưởng này đã có từ lâu trong quân đội Nga Hoàng với khẩu Fedorov Avtomat, tuy nhiên việc sử dụng súng bị ngưng do thiếu nguồn cung đạn 6,5x50mm từ Nhật Bản. Và ngay trong năm 1943, một cuộc thiết kế súng trường carbine tiêu chuẩn cho Hồng Quân Xô Viết được tiến hành để sử dụng loại đạn M43 mới này.

CKC-M, phiên bản hiện đại hóa với hộp đạn 30 viên của AK-47

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Simonov tiến hành tinh chỉnh lại khẩu AVS-36 trước đó của mình: thay đổi loại nòng và kích cỡ các chi tiết trong hộp khóa nòng, thêm khả năng thay đổi chế độ bắn phát một hoặc bán tự động. Ông cũng sử dụng hộp đạn gắn cứng với các kẹp đạn thay cho hộp tiếp đạn trên thiết kế AVS-36 trước đó (tuy nhiên, trớ trêu thay là các phiên bản sau cùng của CKC sử dụng hộp tiếp đạn thay cho kẹp đạn). Súng chiến thắng trước thiết kế của Mikhail Kalashnikov, thử nghiệm trên chiến trường trong năm 1945 với phát xít Đức; sau đó sản xuất đại trà từ năm 1949 tới khi bị thay thế hoàn toàn vào năm 1954

Lịch sử tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiến sĩ du kích Việt Nam với khẩu CKC trong tay.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

SKS sử dụng cơ chế trích khí ngắn (gần giống với súng trường chống tăng PTRS-41 và AVS-36 của cùng nhà thiết kế Simonov). Thoạt đầu, viên đạn đầu tiên được khai hỏa bằng cơ cấu cò súng. Một lượng khí thuốc súng được trích ra và đẩy vào ống trích khí, tạo lực đẩy lùi cụm cơ cấu móc đạn. Cụm cơ cấu này lùi về sau và ngay lập tức đẩy vỏ đạn cũ ra ngoài, nén lò xo phía sau lại rồi bật trở lại nhờ lực đàn hồi và móc viên đạn tiếp theo vào bệ khóa nòng, sẵn sàng cho phát bắn kế.

Các phiên bản đầu tiên của Liên Xô sử dụng một cơ cấu lò xo phía sau búa kim hỏa; tuy nhiên hầu hết các phiên bản của súng lại loại bỏ cơ cấu này. Điều này trở nên cực kì nguy hiểm: nếu không may để búa kim hỏa đột ngột rơi tự do vào viên đạn đã được nạp sẵn, súng có thể bị cướp cò. Do đó, súng cần được bảo dưỡng định kỳ một cách cẩn thận, đặc biệt trước và sau khi niêm cất lâu không sử dụng để tránh tình trạng súng cướp cò.

Nòng súng thường được mạ crôm để tránh rỉ sét, mặc dù việc mạ nòng có thể làm giảm độ chuẩn xác của viên đạn bắn ra. Nòng súng cũng dài hơn khẩu AK-47 nên có sơ tốc đầu nòng lớn hơn và tầm bắn lẫn độ tản mát đều tốt hơn AK; nhờ đó, SKS vẫn được giữ lại trong bộ xung hỏa lực AK-47 - SKS - RPD cho mục đích điểm xạ tầm xa. Súng chỉ bị loại bỏ sau khi RPK đi vào phiên chế của Quân đội Xô Viết.

Tất cả các biến thể quân sự được trang bị một lưỡi lê (riêng phiên bản Type 56 của Trung Quốc sử dụng một lưỡi lê 3 cạnh dài hơn lưỡi lê cơ bản của Liên Xô); một số phiên bản như của Nam Tư còn trang bị cả súng phóng lựu cá nhân ở dưới ốp lót nòng.

Băng đạn 10 viên ban đầu của súng sử dụng các kẹp đạn để tiếp đạn. Hộp tiếp đạn gắn cứng của súng có thẻ mở từ phía dưới để lấy đạn cũ ra khỏi súng. Các phiên bản sau này sử dụng chung hộp tiếp đạn với khẩu AK-47. Báng súng cũng chứa 1 bộ dụng cụ bão dưỡng cơ bản cho súng.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương tiện liên quan tới SKS tại Wikimedia Commons
  • Giáo trình giáo dục quốc phòng dùng cho sinh viên các trường đại học cao đẳng, tập II, Bộ Giáo dục.