PPSh-41

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
PPSh-41
Пистолет-пулемет системы Шпагина обр. 1941.jpg
Súng tiểu liên PPSh-41 với băng đạn tròn 71 viên
LoạiSúng tiểu liên
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1941 – Nay
Sử dụng bởi Liên Xô
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Miền Bắc Việt Nam viện trợ
 Việt Nam
 Lào
 Belarus
 Kazakhstan
 Ba Lan
 Đông Đức
 Mông Cổ
 Tiệp Khắc
 România
 Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
 Ukraina
 Trung Quốc
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Hàn Quốc
 Mozambique
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Lạnh
Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
Chiến tranh Afghanistan (2001-nay)
Nội chiến Lào
Cách mạng Cuba
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Mùa Đông
Chiến tranh Iraq
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai
Nội chiến Yemen 2015
Chiến tranh tiếp diễn
Lược sử chế tạo
Người thiết kếGeorgy Semenovich Shpagin
Năm thiết kế1940
Giai đoạn sản xuất1941-1947Liên Xô
1949-1958Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
1950-1956Trung Quốc
Số lượng chế tạoKhoảng 6.000.000 khẩu được Liên Xô sản xuất trong thời kỳ Chiến tranh Vệ Quốc (1941-1945). Đấy là còn chưa tính đến số lượng được Liên Xô sản xuất từ năm 1946 đến năm 1947 cùng với số lượng của 2 phiên bản Type 49 (Triều Tiên sản xuất) và Type 50 (Trung Quốc sản xuất).
Các biến thểPPSh-41,MP41(r), MP717(r), SKL-41, Kiểu 49, Kiểu 50, K-50M.
Thông số
Khối lượng3,63kg chưa lắp hộp tiếp đạn.
5,45kg với băng đạn trống 71 viên.
4,3kg với băng đạn cong 35 viên
Chiều dài843mm
Độ dài nòng269mm

Đạn7,62×25mm Tokarev
Cơ cấu hoạt độngBlowback
Tốc độ bắn900-1200 phát/phút
Vận tốc mũi488 m/s
Tầm bắn hiệu quả125 - 200 m[1]
Tầm bắn xa nhất200 - 500m 1000m đường đạn ngoài theo lý thuyết
Chế độ nạpBăng trống 71 viên và băng thẳng 35 viên.
Ngắm bắnTrước: Đầu ngắm có vòng chống va đập.
Sau: Những khẩu đầu tiên có thước ngắm có con trượt chỉnh tầm, định tầm bắn đến 500m. Về sau sử dụng khe ngắm kiểu lật (kiểu chữ "L") định tầm 100 và 200m.

PPSh-41 (Pistolet-Pulemyot Shpagina obrazet 1941 - Súng tiểu liên của Shpangin kiểu năm 1941) là súng tiểu liên được kỹ sư Georgi Shpagin thiết kế. Súng được chấp nhận trang bị năm 1941 và là súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân Xô Viết trong thế chiến thứ hai. Đây chính là phiên bản đơn giản và tối ưu hóa của khẩu súng tiểu liên PPD-34 do thiếu tướng - kỹ sư Vasily Degtyaryov thiết kế năm 1934 (sau đó, nó được cải tiến vào năm 1940 trở thành PPD-40).

PPSh-41 có thiết kế blowback, bắn khi khóa nòng mở cổ điển của súng tiểu liên thời đó. Súng sử dụng đạn 7,62×25mm của súng ngắn Tokarev TT-33. Nó nhanh chóng trở thành súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân khi đó.

PPSh-41 được thiết kế nhằm để có thể đáp ứng được các tiêu chí như là: dễ sử dụng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, độ bền cao,.. mà khẩu PPD-34 chưa có. Khẩu súng này được rất nhiều các chuyên gia vũ khí cũng như các sử gia ghi nhận là khẩu tiểu liên tốt nhất, dễ sản xuất và bền bỉ nhất trong Thế chiến 2. Không một khẩu tiểu liên nào trong Thế Chiến 2 vượt qua được PPSh 41 về số lượng sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Liên Xô đã sản xuất khoảng 6,1 triệu cây PPSh 41 trong suốt Thế Chiến 2. Không chỉ dễ sản xuất mà PPSh 41 còn rất bền bỉ. Một cây súng tiểu liên khác là Sten (của Anh) cũng dễ sản xuất như PPSh-41 nhưng nó lại bị "chê đứng chê ngồi" vì tỉ lệ bị kẹt đạn của nó cứ "đều như cơm bữa", trong khi PPSh-41 thì chiến đấu rất tốt trong mọi điều kiện chiến đấu khác nhau, dù cho đó là mùa đông băng tuyết hay là rừng rậm đầm lầy, cát bụi sa mạc.

Hồng Quân dừng sản xuất loại súng này vào năm 1947 vì vào năm đó thì họ đã lựa chọn Súng trường tự động Kalashnikov (hay gọi tắt là AK 47) của nhà thiết kế Mikhail Timofeyevich Kalashnikov làm súng trường tấn công tiêu chuẩn cho Hồng Quân. Từ sau năm 1948 thì Liên Xô tiến hành bàn giao giấy phép, công nghệ cũng như máy móc chuyên dùng để sản xuất PPSh 41 cho Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Đức, và một số nước XHCN khác (như Nam Tư, Tiệp Khắc, Albania,...) thế nên đã có thêm hàng trăm nghìn khẩu PPSh-41 được sản xuất bên ngoài lãnh thổ Liên Xô.

PPSh-41 được trưng bày trong viện bảo tàng ở Liên Xô.
PPSh-41 được thấy trên tay của một người lính Hồng quân đang áp giải tù binh Đức sau Trận Stalingrad năm 1943.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1934, Liên Xô bắt đầu thiết kế khẩu tiểu liên PPD-34, loại súng tiểu liên này sử dụng loại đạn mới nghiên cứu là 7.62×25mm Tokarev. PPD được chính thức đưa vào sử dụng trong Hồng quân từ năm 1935, nhưng chỉ trang bị một số lượng nhỏ cho lực lượng an ninh, biên phòng và Bộ nội vụ NKVD của Nga. Do vậy, tới năm 1940 thì hầu hết lính bộ binh Liên Xô vẫn chỉ được trang bị khẩu súng trường không tự động lên đạn từng viên bằng tay Mosin Nagant. Một số lính được trang bị súng trường bán tự động SVT-40.

Trong Chiến tranh Liên Xô - Phần Lan, súng tiểu liên Suomi KP-31 của Phần Lan với ưu thế nhỏ gọn, dễ cơ động trong tác chiến, tốc độ bắn cao, lượng đạn bắn ra nhiều như súng máy đã chứng tỏ ưu thế "xung phong" trong những vùng rừng rậm, chiến hào và đô thị, vốn có không gian chật hẹp. Tại những khu vực này, súng trường Mosin-Nagant và súng máy hạng nhẹ DP-28 tỏ ra vô dụng do cồng kềnh và nặng nề. Hơn nữa,súng trường Mosin-Nagant lại có thêm một nhược điểm nữa, đó là tốc độ bắn chậm, chỉ khoảng 15 phát/phút.

Từ thực tế này, lãnh đạo Hồng quân quyết định phải trang bị số lượng lớn súng tiểu liên cho quân đội. PPD-40 nhanh chóng bộc lộ nhược điểm lớn là việc sản xuất số lượng lớn (để trang bị cho toàn bộ quân đội) gặp khó khăn. Vậy nên, PPSh-41 được thiết kế nhằm đáp ứng cho việc thay thế PPD-40.

Dự án thiết kế PPSh-41 được triển khai vào giữa năm 1940 bởi Georgy Semenovich Shpagin. Trước đó, tác giả Shpagin của PPSh-41 đã trở nên nổi tiếng trong Hồng Quân khi là người đã cải tiến cơ chế nạp đạn của khẩu DK (DShK) vào năm 1938. Những nơi đầu tiên sản xuất súng là các nhà máy quân khí ở thủ đô Moskva. Từ tháng 11 năm 1941, khoảng vài trăm khẩu đã được sản xuất thử. Sau đó không lâu, 155.000 khẩu đã được xuất xưởng. Tới mùa xuân năm 1942, trung bình mỗi ngày có khoảng 30.000 khẩu PPSh-41 được xuất xưởng. Khẩu PPSh-41 có thể sản xuất được nhanh chóng và nhiều như thế vì nó có cấu tạo rất là đơn giản. Chỉ cần một nhà kho với một cái bàn đủ rộng, vài con ốc vít, gỗ, thép, một cái máy tiện thủ công chạy bằng tay là đủ để có thể sản xuất khẩu PPSh rồi. Nếu được sản xuất thủ công kiểu này thì mất khoảng độ hơn 7 tiếng để hoàn thiện. Còn nếu sản xuất theo quy mô công nghiệp với máy móc, thiết bị chuyên dụng thì chỉ mất khoảng 6 tiếng để hoàn thiện 1 khẩu.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mọi súng tiểu liên trước và trong thế chiến thứ hai đều đơn giản. Thậm chí nếu so sánh về mức độ phức tạp trong tính toán thiết kế, súng ngắn liên thanh còn đơn giản hơn súng kíp nòng trơn. Hầu hết súng tiểu liên đều hoạt động bằng cơ cấu Blowback - cơ cấu chuyển động đơn giản nhất của các loại súng bộ binh. PPSh-41 cũng vậy.

Ngoài thiết kế đơn giản, dễ chế tạo và dễ sử dụng, những khẩu PPSh-41 không đòi hỏi việc nó phải được trải qua các công đoạn gia công bằng các phương pháp phức tạp,tốn kém cả về thời gian cũng như công sức (như những khẩu súng trường hay súng máy). Hàng nghìn cây PPSh 41 đã được sản xuất với số lượng lớn tại các nhà máy sản xuất vũ khí được sơ tán ra phía sau dãy núi Ural kể từ khi quân Đức Quốc Xã tràn vào xâm lược lãnh thổ Liên Xô. Bản thân nòng của khẩu PPSh-41 cũng có cùng cỡ nòng với khẩu Mosin Nagant (7.62mm),chỉ cần cưa nòng của khẩu Mosin Nagant là sẽ có nòng súng PPSh-41, việc này càng giúp tiết kiệm chi phí sản xuất của súng.

Đạn 7,62x25mm Tokarev có đường đạn và khả năng xuyên tốt hơn nhiều so với đạn 9x19mm, và tốt hơn nhiều so với đạn .45 ACP (11,43x23) của Hoa Kỳ. Đạn là một phiên bản nâng cấp từ đạn súng ngắn 7,63×25mm Mauser. Có thể nói nền móng thành công của 7,62x25mm Tokarev7,63×25mm Mauser. Vỏ đạn cổ thắt, có gờ móc đạn rất thích hợp cho các súng tự động. Đầu đạn dài, được thiết kế kỹ lưỡng cho đường đạn ngoài tốt nhất có thể. Thuốc súng là loại viên định hình bền chắc, áp suất thấp giảm chậm, tương tự như thuốc đạn súng trường chiến đấu 7,92x57 Mauser7,62×54mmR. Có thể nói 7,63×25mm Mauser và 7,62×25mm Tokarev được thiết kế bằng cách rút ngắn chiều dài đạn súng trường làm đạn súng ngắn. Các đạn này chỉ có thể phát huy đầy đủ ưu điểm trên các súng ngắn liên thanh có máy tự động, hơn là bị giới hạn trên các súng ngắn bán tự động Mauser C96TT-33. Đạn cũng ưu việt hơn nhiều so với các đạn quá áp vỏ trụ dùng thuốc bột phổ biến lúc đó như 9x19mm. Một loại đạn nổi tiếng thế giới khác là đạn súng trường tiến công 7,62×39mm cũng được thiết kế theo lý luận rút ngắn đạn súng trường.

Với đạn 7,62×25mm Tokarev, PPSh-41 đạt tầm bắn chính xác tới 200m với nòng dài 269mm. Trong khi đó MP-40 của Đức dùng đạn 9×19mm Parabellum có nòng dài tương đương (251mm) chỉ dừng lại ở mức 100m. Khẩu Thompson của Mỹ dùng đạn .45 ACP với nòng dài 270mm còn kém hơn nữa, chỉ đạt 50m.

Ngoài ưu thế về đạn, PPSh-41 còn có tốc độ bắn từ 900 lên tới 1100 phát/phút tạo ra ưu thế hỏa lực chế áp tầm gần và xung phong. Điều này được củng cố bởi hộp tiếp đạn trống 71 viên làm tăng khả năng duy trì hỏa lực, hạn chế thời gian phải nạp lại đạn. Thời đó, trong biên chế một Tiểu đội chỉ có từ một tới hai súng liên thanh như PPSh-41, còn lại là súng trường chiến đấu Mosin-Nagant, SVT-40 và một súng máy cầm tay Degtyarov DP . Khi xung phong, nhất là trong trường hợp tấn công chiến hào hoặc những địa hình chật hẹp, do súng trường chiến đấu bắn quá chậm, trong khi súng máy hạng trung nặng và có độ giật rất cao, những binh sĩ mang các loại súng này khó có thể phản ứng kịp với các tình huống phát sinh đột ngột thường xảy ra, như là đọ súng ở tầm rất gần. Súng ngắn liên thanh trong giai đoạn chưa xuất hiện súng trường tấn công là một lựa chọn tối ưu, và thực sự chúng được phát minh cho việc xung phong. Thậm chí ngày nay các Súng ngắn liên thanh vẫn chiếm lợi thế khi chiến đấu trong các công trình nhỏ hẹp vì tính năng gọn nhẹ, độ giật thấp.

Tuy nhiên do hạn chế về vật liệu, loại hộp tiếp đạn trống 71 viên khá nặng nên phải dùng thép 0,5mm làm vỏ để giảm trọng lượng. Vỏ hộp tiếp đạn mỏng làm hộp tiếp đạn dễ bị móp bẹp do va chạm, làm kẹt lò xo xoay cần đẩy đạn. Chính lò xo này cũng khá yếu do Liên Xô lúc đó rất khan hiếm vật liệu tốt. Trong khi thiết kế súng,nhà thiết kế Shpagin đã để thừa một viên, hay đúng hơn là sức đàn hồi cao nhất của lò xo có thể đẩy được 71 viên. Sau đó ông khuyến khích binh sĩ không nên nạp đầy 71 viên để lò xo không phải làm việc hết sức, duy trì tuổi thọ. Súng đã nạp đạn bằng băng 71 viên khá là nặng (5,45 kg).Vì vậy loại hộp tiếp đạn 35 viên cho PPSh-41 đã ra đời để khắc phục nhược điểm này, mặc dù chứa được ít đạn hơn nhưng nhẹ và bền chắc hơn, việc thay băng đạn cũng nhanh hơn so với băng 71 viên. Mặt khác, loại hộp tiếp đạn này làm xạ thủ thoải mái hơn, có thể dùng hộp tiếp đạn như tay cầm trước. Tuy nhiên khả năng mang nhiều đạn của loại hộp tiếp đạn 71 viên vẫn được binh sĩ ưa chuộng, do tốc độ bắn của súng khá nhanh để sử dụng băng đạn 35 viên. Các xạ thủ súng liên thanh của Hồng Quân thường lắp sẵn một hộp tiếp đạn loại 71 viên vào súng trước khi xung phong hoặc thâm nhập vào những nơi chật hẹp, khi bắn hết hộp đạn 71 viên này thì họ sẽ chuyển sang dùng lần lượt 3 hoặc 4 hộp tiếp đạn loại 35 viên được đeo sẵn bên người.

Về dáng súng, PPSh-41 vẫn mang đặc điểm từ khẩu MP 18 (của Đức) là báng gỗ liền vỏ súng, có cổ báng súng làm vị trí tay cầm sau, khiến cho tư thế ngắm không được thoải mái, chưa áp dụng thiết kế hiện đại như khẩu MP-40 (của Đức Quốc Xã) hay khẩu Thompson (của Hoa Kỳ). Tuy nhiên, thay vì phải có vị trí cầm trước ở phía trước cửa lắp hộp tiếp đạn như súng Thompson để xạ thủ có thể giữ súng thoải mái, chắc chắn, có tư thế tốt để tận dụng ưu thế đường đạn, xạ thủ phải giữ tay ở vị trí sau hộp tiếp đạn, gần cổ báng súng, hoặc giữ băng đạn. Mặc dù nòng súng có lồng thép bọc ngoài đề phòng khả năng xạ thủ bị bỏng do tiếp xúc với nòng súng, nhưng không thể dùng bộ phận này thay ốp lót tay cầm trước vì không có chức năng cách nhiệt. Thực ra việc bố trí vị trí cầm trước đối với PPSh-41 là bất khả thi vì hộp tiếp đạn trống khá to làm tư thế nâng súng bị vướng. Các súng tiểu liên thời kỳ đầu có máy súng rất dài. Các mẫu súng phổ biến là PPSh-41, MP-40 và Thompson M1A1 có tỷ lệ chiều dài thân súng (hộp chứa khóa nòng của súng) - nòng súng vào khoảng 1:1. Do đó khẩu súng khá dài. PPSh-41 không có thiết kế đẩy cụm cò và vị trí cầm sau về gần cửa lắp hộp tiếp đạn (kéo theo báng được đẩy về trước để duy trì chiều dài báng vừa phải) để rút ngắn chiều dài toàn bộ khẩu súng như Thompson , nên khoảng cách giữa vị trí cầm trước (nếu có) và đế báng súng tì vào vai khá xa nhau, tương đương với khoảng cách của súng trường. Khoảng cách như vậy chỉ thích hợp cho súng trường cần kiểm soát tốt góc hướng để ngắm xa, nhưng sẽ làm mất ưu thế linh hoạt quan trọng nhất khi chiến đấu tầm gần và rất gần.

Thompson M1928 và M1A1 được Hoa Kỳ chấp nhận trang bị làm Súng tiểu liên chủ lực của Quân đội Mỹ và họ đem viện trợ với số lượng khá lớn cho Liên Xô trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai. Súng Thompson có dáng súng rất thành công khi hỗ trợ cả linh hoạt tầm gần và kiểm soát góc tầm trung, thích hợp cho khả năng bắn chính xác tới 200m nếu dùng đạn 7,62x25mm Tokarev. Nhưng khổ nỗi :khẩu Thompson dùng đạn .45 ACP, đầu đạn nặng và sơ tốc đạn thấp, đường đạn kém, nên chỉ thích hợp với chiến đấu ở tầm rất gần. Súng không có tốc độ bắn cao như PPSh-41 và không lắp được hộp tiếp đạn 50 viên như ở phiên bản M1928 Thompson. Với trọng lượng 4,9 kg(khi chưa nạp đạn)và chỉ có hộp tiếp đạn 30 viên, súng kém hơn cả PPSh-41 và MP-40 về tỉ lệ trọng lượng - tính năng chiến đấu. Liên Xô chưa từng trang bị một cách rộng rãi cho binh sĩ số súng đạn được Mỹ viện trợ.

Súng tiểu liên MP-40 tiêu chuẩn của quân Đức Quốc Xã có dáng súng thuần súng ngắn liên thanh. Súng cũng có báng và tay cầm sau tách rời nhau. Vị trí cầm trước chính là hộp tiếp đạn. Kiểu cầm súng này cộng với báng gập bằng thép làm súng rất gọn, rất có lợi thế chiến đấu tầm gần, nhất là xoay trở trong các địa hình chật hẹp. Với tầm bắn chính xác tới 100m, xạ thủ không cần phải quan tâm tới tư thế bắn cần kiểm soát hướng đối với mục tiêu ở cự li xa hơn. Đây là khẩu súng tiểu liên thành công nhất thời đó trong phương diện thiết kế dáng súng, tận dụng tốt đường đạn và đáp ứng được yêu cầu kỹ chiến thuật cơ bản của Súng tiểu liên. Dù vậy, lịch sử cũng ghi nhận rất nhiều trường hợp binh sĩ Đức bỏ khẩu MP-40 của mình để làm bạn với PPSh-41 chiến lợi phẩm. Thậm chí một số lượng kha khá PPSh-41 phiên bản dùng đạn 9x19mm do quân Đức cải tiến đã xuất xưởng và được sử dụng ở Mặt trận phía đông. Thiếu tướng - kỹ sư Alexei Sudayev của Liên Xô đã sử dụng dáng súng ưu thế của MP-40 vào thiết kế của ông và cho ra đời khẩu PPS-43, một phiên bản gọn nhẹ, đơn giản và rẻ tiền hơn PPSh-41.

PPSh-41 được công nhận là một trong những khẩu súng tiểu liên tốt nhất Chiến tranh thế giới thứ hai, và là biểu tượng của lính Hồng quân trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kiểu 50: Phiên bản PPSh-41 do Trung Quốc làm nhái bất hợp pháp. Súng chỉ có thể sử dụng được hộp tiếp đạn thẳng (băng thẳng) loại 35 viên.[6]
  • Kiểu 49:Phiên bản PPSh-41 do Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sản xuất dưới sự cho phép của Liên Xô trong Chiến tranh Triều Tiên. Type 49 chỉ có thể sử dụng được hộp tiếp đạn tròn (trống đạn) loại 71 viên[6]
  • K-50M: Phiên bản PPSh-41 được Quân đội nhân dân Việt Nam cải tiến trực tiếp từ những khẩu PPSh-41(của Liên Xô) và Type 50(của Trung Quốc) được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ với số lượng lớn cho QĐNDVN trong Chiến tranh Việt Nam. Có phần nòng ngắn hơn và có đầu ruồi trước theo kiểu của khẩu MAT-49.[7] Ngoài ra còn có chuôi cầm phía sau và báng gấp.[8] Khẩu này nhẹ hơn 500g so với PPSh-41 bản gốc.[9] Phiên bản K-50M của Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng hộp tiếp đạn 35 viên.[8]
  • MP41(r): Phiên bản PPSh-41 bắn đạn 9×19mm Parabellum. của Đức
  • MP717(r):PPSh-41 bị người Đức tịch thu nhưng không có sự chuyển đổi cỡ đạn mà cùng sử dụng như khẩu MP-41
  • SKL-41: Một phiên bản thể thao xuất hiện ở thị trường Đức từ năm 2008. Chỉ có chế độ bắn bán tự động, dùng đạn 9x19mm.
  • PPS-50; Một phiên bản thể thao bán tự động được sản xuất tại Ý, sử dụng cỡ đạn .22LR.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Edwards, Paul M (2006). The Korean War. Westport, CT: Greenwood Press. tr. 77. ISBN 0-313-33248-7. 
  2. ^ a ă â Jones, Richard D.; Ness, Leland S. biên tập (ngày 27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản 35). Coulsdon: Jane's Information Group. ISBN 9780710628695. 
  3. ^ The Bay of Pigs: Cuba 1961 by Alejandro Quesada, ISBN 978-1-84603-323-0, p. 62 url: [1]
  4. ^ “7.62mm Submachine Gun PPSh41”. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ a ă Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Salamander Books Ltd. ISBN 1-84065-245-4.
  6. ^ a ă â US Department of Defense, North Korea Country Handbook 1997, Appendix A: Equipment Recognition, PPSH 1943 SUBMACHINEGUN (TYPE-50 CHINA/MODEL-49 DPRK), p. A-79.
  7. ^ “PPSh41 Sub Machine Gun”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ a ă “Modern Firearms' K-50M Submachine Gun”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “VC Weapons”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]