Chiến tranh Xô–Afghanistan (1979–1989)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Afghanistan
Một phần của Chiến tranh AfghanistanChiến tranh Lạnh
Evstafiev-Soviet-soldier-Afghanistan.jpg
Một người lính Liên Xô đang canh gác tại Afghanistan năm 1988.
Ảnh của Mikhail Evstafiev.
.
Thời gian 24/12/1979 – 15/2/1989
(9 năm, 1 tháng, 3 tuần và 1 ngày)
Địa điểm Afghanistan
Nguyên nhân bùng nổ Hiệp ước hữu nghị giữa AfghanistanLiên bang Xô viết.
Kết quả Liên Xô thất bại trong việc dập tắt cuộc nổi dậy của Mujahideen
Tham chiến
Hỗ trợ không tham chiến: Sunni Mujahideen:

 Pakistan[4]
Chiến binh nước ngoài:


Shia Mujahedeen:

Hỗ trợ bởi:


Phe Mao xít:

Chỉ huy và lãnh đạo

Mulavi Dawood Hành quyết (AMFFF)


Lực lượng
Lực lượng Liên Xô:
  • 115,000 đỉnh điểm[15]

Lực lượng Afghan:

Mujahideen:

200,000–250,000[17][18][19]

Thương vong và tổn thất
Lực lượng Liên Xô:
Lực lượng Afghan:
  • 18,000 thiệt mạng[22]
Mujahideen:
  • 75,000–90,000 thiệt mạng
  • 75,000+ bị thương (ước tính)[23]
Pakistan:
  • 300+ thiệt mạng
  • 1 F-16 máy bay chiến đấu bị bắn rơi[24]
Iran:
  • 2 AH-1J trực thăng bị bắn hạ
  • không rõ thiệt mạng[25]
Dân thường (Afghan):
  • 850,000–1,500,000 thiệt mạng[26][27]
  • 5 triệu tị nạn ngoài Afghanistan
  • 2 triệu người di tản
  • Khoảng 3 triệu Afghans bị thương (chủ yếu là dân thường)[28]
.


Lịch sử Afghanistan



Lịch sử khu vực từ cổ xưa


Lịch sử buổi đầu Hồi giáo chinh phục và cai trị


Sự nổi lên của nền cai trị Pashtun


Afghanistan hiện đại

Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan là cuộc xung đột kéo dài mười năm giữa các lực lượng quân sự Liên Xô ủng hộ chính phủ Cộng hòa Dân chủ Afghanistan của Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan (PDPA) Mác xít chống lại lực lượng Mujahideen Afghanistan chiến đấu để lật đổ chính quyền theo chủ nghĩa cộng sản. Liên bang Xô viết ủng hộ chính phủ trong khi phe đối lập nhận được sự ủng hộ từ nhiều phía gồm Hoa Kỳ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo khác trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Lạnh. Cuộc xung đột, xảy ra đồng thời với Cách mạng Iran năm 1979Chiến tranh Iran-Iraq, cũng ảnh hưởng tới sự trỗi dậy của lực lượng Mujahideen tại Trung Á.

Tập đoàn quân số 40 Liên Xô bắt đầu triển khai tại Afghanistan ngày 25 tháng 12 năm 1979. Vào giữa thập niên 1980 quân số quân đội Liên Xô tăng lên tới 108.800 lính và chiến tranh lan ra khắp lãnh thổ Afghanistan. Cái giá về quân sự cũng như về ngoại giao chẳng bao lâu là quá cao cho Liên Xô. Vào giữa năm 1987, Liên Xô dưới sự lãnh đạo của nhà cải tổ Mikhail Gorbachev tuyên bố là sẽ rút quân. Việc rút quân bắt đầu ngày 15 tháng 5 năm 1988, và chấm dứt ngày 15 tháng 2 năm 1989.

Chỉ riêng thường dân,ước tính từ 850.000 đến 1,5 triệu người đã bị chết trong cuộc chiến[27][29] và hàng triệu người Afghan đã chạy ra khỏi nước tị nạn, hầu hết tới PakistanIran.

Cuộc chiến tranh được xem như là một phần của cuộc chiến tranh lạnh.  Vì đó là một cuộc chiến tranh dai dẳng nó thỉnh thoảng được ví là cuộc " chiến tranh Việt Nam của Liên Xô" hay "cái bẫy gấu" bởi báo chí Phương Tây,[30][31][32] Cuộc chiến đã có những tác động rất lớn đối với Liên bang Xô viết và thường được nhắc đến như là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng ngày nay được gọi là Afghanistan từng là một quốc gia đa số Hồi giáo từ năm 882. Những vùng núi nonsa mạc hầu như không thể vượt qua đã để lại ảnh hưởng trong sự đa dạng sắc tộcngôn ngữ tại nước này. Người Pashtunnhóm sắc tộc lớn nhất, cùng với người Tajik, người Hazara, người Aimak, người Uzbek, người Turkmenvà các nhóm chủng tộc nhỏ khác.

Leonid Brezhnev, tổng bí thư Liên Xô từ 1964-1984, người đã quyết định can thiệp quân sự vào Afghanistan

Sự can thiệp quân sự Nga tại Afghanistan có một lịch sử lâu dài, từ thời những cuộc bành trướng dưới chế độ Nga hoàng trong cái gọi là "Great Game" bắt đầu trong thế kỷ XIX, như Vụ xô xát Panjdeh. Sự dính líu quyền lợi này vào khu vực tiếp tục kéo dài suốt thời kỳ Xô viết tại Nga.

Tháng 2 năm 1979, cuộc Cách mạng Hồi giáo đã lật đổ chính quyền Shah được Hoa Kỳ hỗ trợ tại Iran, nước láng giềng của Afghanistan. Tại Liên bang Xô viết, nước láng giềng phía bắc của Afghanistan, hơn hai mươi phần trăm dân số là người Hồi giáo. Nhiều người Hồi giáo Xô viết tại Trung Á có quan hệ bộ tộc cả tại Iran và Afghanistan. Liên bang Xô viết cũng đã lo lắng trước thực tế từ tháng 2 Hoa Kỳ đã triển khai hai mươi tàu chiến, gồm cả hai tàu sân bay, và những mối đe dọa chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Iran[33].

Tháng 3 năm 1979 cũng là thời điểm hiệp ước hòa bình giữa Israel và Ai Cập do Mỹ hậu thuẫn được ký kết. Giới lãnh đạo Liên bang Xô viết coi hiệp ước hòa bình giữa IsraelAi Cập là một bước lớn trong sự phát triển quyền lực Hoa Kỳ trong vùng. Trên thực tế, báo chí Liên Xô đã bình luận rằng Israel và Ai Cập khi ấy đã trở thành "những tên sen đầm của Lầu năm góc". Người Liên Xô coi hiệp ước đó không chỉ là sự chấm dứt các hành động thù địch giữa hai nước mà còn là thỏa thuận thành lập một liên minh quân sự[34]. Ngoài ra, người Liên Xô khám phá việc hơn năm nghìn quả tên lửa Hoa Kỳ đã được bán cho Ả Rập Xê Út và nước này cũng đang hỗ trợ cho lực lượng kháng chiến Yemen trong cuộc chiến đấu chống lại các nhóm cộng sản. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hợp tác cùng CIA, đã bán các Type 69 RPG cho lực lượng Mujahideen. Tương tự, những mối quan hệ vốn tốt đẹp trước kia của Liên bang Xô viết với Iraq cũng bắt đầu giảm sút. Tháng 6 năm 1978 Iraq bắt đầu mua các vũ khí do PhápÝ chế tạo trước sự phản đối của Liên Xô. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của phương Tây cho các lực lượng phiến loạn chống Liên Xô bị tranh cãi. Một số đảng coi đây là hành động nhằm hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô[35].

Cách mạng Saur[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Mohammad Zahir Shah lên ngôi và cai trị từ 1933 tới 1973. Anh/em họ của Zahir, Mohammad Daoud Khan, làm Thủ tướng từ 1953 tới 1963. Đảng PDPA Mác xít hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời gian đó. Năm 1967, PDPA chia thành hai phe, phe Khalq (Masses) do Nur Muhammad TarakiHafizullah Amin lãnh đạo, còn phe Parcham (Banner) do Babrak Karmal cầm đầu.

Cựu thủ tướng Daoud nắm quyền lực sau một cuộc đảo chính quân sự hầu như không đổ máu ngày 17 tháng 7 năm 1973 vì tình trạng tham nhũng và đình trệ kinh tế. Daoud chấm dứt chế độ quân chủ nhưng những nỗ lực của ông nhằm cải cách kinh tế xã hội không mang lại thành công. Sự chống đối ngày càng gia tăng từ phía hai phe PDPA bắt nguồn từ sự đàn áp dành cho họ của chính phủ Daoud. Với mục tiêu lật đổ chế độ Daoud, hai phe PDPA tái hợp nhất.

Ngày 27 tháng 4 năm 1978, PDPA lật đổ chính quyền và giết Daoud cùng các thành viên gia đình ông. Nur Muhammad Taraki, Tổng thư ký PDPA, trở thành Tổng thống của Hội đồng Cách mạng và Thủ tướng của nhà nước Cộng hòa Dân chủ Afghanistan mới thành lập.

Cộng hòa Dân chủ Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Các phe phái bên trong PDPA[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc cách mạng, Taraki nắm chức Tổng thống, Thủ tướng và Tổng thư ký PDPA. Thực tế, chính phủ bị chia rẽ theo các phe phái trong đảng, với Tổng thống Taraki và Phó thủ tướng Hafizullah Amin thuộc phái Khalq chống lại các lãnh đạo Parcham như Babrak Karmal và Mohammad Najibullah. Những sự xung đột dẫn tới các hành động trục xuất, thanh trừng và hành quyết bên trong PDPA.

Trong 18 tháng cầm quyền đầu tiên, PDPA áp dụng các biện pháp cải cách theo đường lối Mác xít. Các nghị định quy định những thay đổi trong phong tục cưới hỏi và cải cách ruộng đất bị dân chúng phản đối mạnh mẽ vì chúng đi ngược truyền thống và Hồi giáo. Hàng ngàn thành viên giai cấp cao truyền thống, tôn giáo và giới trí thức bị hành quyết.

Tới giữa năm 1978, một cuộc nổi dậy bắt đầu tại vùng Nuristan phía đông Afghanistan và nội chiến lan tràn khắp nước. Tháng 9 năm 1979, Phó thủ tướng Afghanistan Hafizullah Amin lên nắm quyền sau một cuộc đảo chính nội bộ, dẫn tới cái chết của Tổng thống Taraki. Hơn hai tháng hỗn loạn khiến chế độ của Amin lung lay khi ông quay sang chống lại các đối thủ bên trong PDPA và cuộc nổi dậy ngày càng nghiêm trọng.

Quan hệ Liên Xô-Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thắng lợi của Cách mạng Nga, ngay từ năm 1919, chính phủ Liên Xô đã cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại cho Afghanistan dưới hình thức hàng triệu rúp vàng, vũ khí cầm tay, đạn dược và một số máy bay để hỗ trợ cuộc kháng chiến của người Afghanistan chống lại quân đội Anh.

Năm 1924, Liên bang Xô viết một lần nữa lại cung cấp viện trợ quân sự cho vương quốc Afghanistan. Họ cung cấp các loại vũ khí cầm tay và máy bay cùng lúc tiến hành huấn luyện tại Tashkent cho các sĩ quan tham mưu trong Quân đội Afghanistan. Quan hệ quân sự giữa Liên Xô và vương quốc Afghanistan bắt đầu phát triển từ năm 1956 khi hai nước ký kết một thỏa thuận khác. Từ đó Bộ Quốc phòng Liên Xô chịu trách nhiệm huấn luyện các sĩ quan tham mưu cho Afghanistan.

Năm 1972, tới 100 cố vấn và chuyên gia kỹ thuật Liên Xô được gửi tới Afghanistan để huấn luyện các lực lượng vũ trang nước này. Tháng 5 năm 1978, hai chính phủ ký kết một thỏa thuận quốc tế khác, gửi 400 cố vấn quân sự Liên Xô tới Cộng hòa Dân chủ Afghanistan.

Tháng 12 năm 1978, MoskvaKabul ký một hiệp ước hữu nghị và hợp tác song phương cho phép quân đội Liên Xô triển khai trong trường hợp có sự yêu cầu từ phía Cộng hòa Dân chủ Afghanistan. Viện trợ quân sự Liên Xô gia tăng và chế độ PDPA dần lệ thuộc vào các thiết bị quân sự và cố vấn Liên Xô.

Khi Afghanistan rơi vào tình trạng bất ổn với những cuộc tấn công từ phía quân nổi dậy được nước ngoài viện trợ[cần dẫn nguồn], Liên bang Xô viết đã triển khai Quân đoàn 40 theo yêu cầu chính thức của chính phủ Cộng hòa Dân chủ Afghanistan Tập đoàn quân 40(40th Army - Army với nghĩa là 1 hình thức biên chế là 1 tập đoàn quân, không phải quân đoàn), dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Sergei Leonidovich Sokolov, gồm 3 sư đoàn pháo cơ giới, 1 sư đoàn không quân, một lữ đoàn tấn công, hai lữ đoàn pháo độc lập và 5 trung đoàn pháo cơ giới riêng biệt. Tổng cộng, lực lượng Liên Xô gồm khoảng 1.800 chiếc xe tăng T-62, 80.000 người và 2.000 Phương tiện Thiết giáp Chiến đấu (AFV).

Chính phủ Afghanistan (thân Liên Xô) nhiều lần yêu cầu các lực lượng Liên Xô triển khai tại nước này trong mùa xuân và mùa hè năm 1979. Họ hy vọng quân đội Liên Xô sẽ giúp tăng cường an ninh và gia tăng tính hiệu quả của cuộc chiến chống quân Mujahideen. Ngày 14 tháng 4 chính phủ Afghanistan yêu cầu Liên bang Xô viết gửi 15 tới 20 máy bay trực thăng cùng phi hành đoàn tới Afghanistan, vào ngày 16 tháng 6 chính phủ Liên Xô đáp ứng và gửi 1 biệt đội xe tăng, xe thiết giáp (BMP) cùng binh lính tới bảo vệ chính phủ Afghanistan tại Kabul và trấn đóng ở phi trường Bagram và Shindand.

Đáp ứng yêu cầu này, 1 tiểu đoàn không quân, dưới sự chỉ huy của Trung tá A. Lomakin, đã tới phi trường Bagram ngày 7 tháng 7. Họ tới chỉ với tư cách các chuyên gia kỹ thuật, không mang theo vũ khí chiến đấu và hoạt động như đội cận vệ cho Taraki. Lính dù trực tiếp thuộc quyền chỉ huy của cố vấn quân sự Liên Xô cao cấp và không can thiệp vào chính trị Afghanistan.

Sau một tháng, những yêu cầu của Cộng hòa Dân chủ Afghanistan không còn đơn giản chỉ là các chi đội riêng biệt nữa, mà là nhiều trung đoàn và các đơn vị đông đảo. Ngày 19 tháng 7, chính phủ Afghanistan yêu cầu Liên Xô gửi 2 sư đoàn pháo cơ giới tới Afghanistan. Ngày hôm sau, họ tiếp tục yêu cầu 1 sư đoàn không quân. Trong nhiều tháng sau đó Afghanistan liên tục nhắc lại yêu cầu cho tới tận tháng 12 năm 1979. Tuy nhiên, chính phủ Xô viết đã không vội vã đáp ứng chúng.

Sự khởi đầu của tình trạng hỗn loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1975, những chiến binh đảng Hồi giáo Jamiat tìm cách lật đổ chính phủ quân chủ của Thủ tướng Daoud. Họ khởi động phong trào phản kháng tại thung lũng Panjshir, khoảng 100 kilômét phía bắc Kabul, và tại một số tỉnh khác trong nước. Tuy nhiên, các lực lượng chính phủ dễ dàng đàn áp và một số lớn nổi dậy đã phải chạy tị nạn tại Pakistan nơi họ nhận được sự hỗ trợ của chính phủ của Thủ tướng Zulfikar Ali Bhutto, chính phủ Pakistan từng lo lắng trước nỗ lực hồi sinh vấn đề Pashtunistan của Daoud[36].

Cuộc nổi dậy bắt đầu trở thành nghiêm trọng từ năm 1978, sau một loạt những sáng kiến cải cách của chính phủ của Tổng thống Taraki Cộng hòa Dân chủ Afghanistan với mục tiêu "nhổ rễ chế độ phong kiến" trong xã hội Afghanistan[37]. Những biện pháp cải cách đó mang lại một số thay đổi tiến bộ, nhưng chúng được thực hiện theo cách thức tàn bạo và vụng về[38]. Xã hội nông thôn Afghanistan phần lớn vẫn tuân theo truyền thống, và những cuộc cải cách ruộng đất đang đe dọa những nền móng của nó; tương tự việc cải cách giáo dục và tăng quyền tự do cho phụ nữ bị coi là hành động tấn công Đạo Hồi. Vì thế, sự phản kháng chống lại những cuộc cải cách mang đầy tính bạo lực, và phần lớn đất nước dễ dàng rơi vào tay quân nổi dậy. Cuộc nổi dậy bắt đầu từ tháng 10 bên trong các bộ lạc Nuristani tại thung lũng Kunar, và nhanh chóng lan tràn tới các bộ nhóm sắc tộc khác, gồm cả cộng đồng đa số người Pashtun. Tình trạng đào ngũ, tinh thần chiến đấu thấp trong Quân đội Cộng hòa Dân chủ Afghanistan cho thấy họ không có khả năng dẹp yên cuộc nổi dậy. Tới mùa xuân năm 1979, 24 trong số 28 tỉnh đã bùng phát bạo lực[39]. Quân nổi dậy bắt đầu chiếm các thành phố: tháng 3 năm 1979 tại Herat quân lính Afghanistan dưới sự chỉ huy của Ismail Khan đã làm binh biến và thảm sát khoảng 100 cố vấn Liên Xô. PDPA trả thù bằng một chiến dịch ném bom giết chết 24.000 người dân trong thành phố[40]. Dù đã áp dụng những biện pháp quyết liệt đó, tới cuối năm 1980, trong số hơn 90.000 binh sĩ, hơn một nửa hoặc đã đảo ngũ hay gia nhập phe nổi dậy[41].

Tương tự nhiều phong trào chống cộng ở thời điểm đó, quân phiến loạn nhanh chóng có được sự ủng hộ từ phía Hoa Kỳ. Như cựu giám đốc CIA và Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay Robert Gates đã viết trong cuốn hồi ký From the Shadows (Từ những bóng tối), các cơ quan tình báo Mỹ đã bắt đầu giúp đỡ phe đối lập tại Afghanistan 6 tháng trước khi quân đội Liên Xô triển khai. Ngày 3 tháng 7 năm 1979, Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã ký một chỉ thị cho phép CIA tiến hành các chiến dịch tuyên truyền bí mật chống lại chính quyền cộng sản thân Liên Xô.[cần dẫn nguồn]

Cố vấn của Tổng thống Hoa Kỳ Carter là Zbigniew Brzezinski đã viết "Theo lịch sử chính thức, CIA đã bắt đầu giúp Mujahadeen từ năm 1980, có nghĩa sau khi quân đội Liên Xô tiến vào Afghanistan ngày 24 tháng 12 năm 1979. Trên thực tế, hiện vẫn chưa được giải mật, hoàn toàn trái ngược." Chính Brzezinski đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách của Mỹ, và thậm chí cả Mujahideen cũng không được biết tới, chính sách này chính là một phần trong chiến lược "xui khiến sự can thiệp quân sự của Liên Xô." Trong một cuộc phỏng vấn năm 1998 với tờ Le Nouvel Observateur, Brzezinski nhớ lại:

"Chiến dịch bí mật đó là một ý tưởng tuyệt vời. Nó xui khiến người Liên Xô tiến vào cái bẫy Afghanistan..." [...]" Ngày người Liên Xô chính thức tràn qua biên giới, tôi đã viết cho tổng thống Carter. Hiện chúng ta đã có cơ hội để trao cho Liên bang Xô viết cuộc Chiến tranh Việt Nam của họ."[42]

Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã rất ngạc nhiên trước cuộc đổ bộ của Liên Xô, nguyên nhân đến từ sự đồng thuận của cộng đồng tình báo Hoa Kỳ trong suốt hai năm 1978 và 1979 là Moskva sẽ không can thiệp vào việc ngay cả khi có vẻ như chính phủ Khalq sắp sửa sự sụp đổ. Thực tế, nhật ký của Carter từ tháng 11 năm 1979 cho đến khi cuộc tấn công của Liên Xô vào cuối tháng 12 diễn ra chỉ có hai tài liệu tham khảo ngắn về Afghanistan, và thay vào đó họ đang bận tâm với cuộc khủng hoảng con tin đang diễn ra ở Iran.[43] Ở phương Tây, chiến dịch quân sự của Liên Xô ở Afghanistan đã được coi là một mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu và nguồn cung dầu mỏ của Vịnh Ba Tư.[44]

Sự triển khai quân đội Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ chỉ huy Quân đoàn 40 Liên Xô tại Kabul năm 1987. Trước đó đây là Cung điện Tajbeg, nơi Amin bị giết hại.

Quyết định can thiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Liên bang Xô viết đã quyết định cung cấp viện trợ cho Afghanistan nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Các lãnh đạo Liên Xô, dựa trên thông tin từ KGB, cảm thấy rằng Tổng thống Hafizullah Amin đã làm mất ổn định tình hình tại Afghanistan. Trụ sở KGB tại Kabul đã đưa ra cảnh báo sau cuộc đảo chính đầu tiên của Amin lật đổ và giết hại Taraki rằng sự lãnh đạo của ông sẽ dẫn tới "những cuộc đàn áp đẫm máu, và vì thế, dẫn tới sự nổi dậy và đoàn kết của lực lượng đối lập."[45]. Sau khi nắm quyền, Tổng thống Hafizullah Amin công khai yêu cầu Liên Xô rút cố vấn quân sự về nước càng sớm càng tốt[46].

Người Liên Xô đã thành lập một ủy ban đặc biệt về Afghanistan gồm chủ tịch KGB Yuri Vladimirovich Andropov, Ponomaryev từ Ủy ban Trung ươngDmitriy Fyodorovich Ustinov, Bộ trưởng quốc phòng. Cuối tháng 10 họ đã báo cáo rằng Tổng thống Hafizullah Amin đang thanh trừng các đối thủ, gồm cả những người có cảm tình Liên Xô; sự trung thành của ông với Moskva là điều giả dối; và rằng ông đang tìm các mối liên kết ngoại giao với Pakistan và có thể cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Những cuộc tranh cãi cuối cùng dẫn tới sự ra đi của Amin là thông tin KGB có được từ các mật vụ của mình tại Kabul; có lẽ hai trong số vệ sĩ của Amin đã giết cựu tổng thống Nur Muhammad Taraki bằng một cái gối, và Amin bị cho là một nhân viên chìm của CIA. Tuy nhiên, giả thiết thứ hai vẫn đang bị tranh cãi: Amin luôn bày tỏ tình hữu nghị chính thức với Liên bang Xô viết và vị tướng Liên Xô Vasily Zaplatin, một cố vấn chính trị ở thời điểm đó, và cho rằng bốn vị bộ trưởng trẻ tuổi trong chính quyền Taraki chịu trách nhiệm về tình trạng bất ổn. Tuy nhiên Zaplatin không thể nhấn mạnh điều đó [47].

Cuộc tấn công của Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Xô-viết tấn công Afghanistan cuối tháng 7 năm 1978.

Ngày 22 tháng 12, các cố vấn Liên Xô bên trong Các lực lượng vũ trang Afghanistan đã đề xuất tiến hành việc bảo dưỡng xe tăng và nhiều khí cụ quan trọng khác. Trong lúc ấy, các đường liên lạc với những vùng bên ngoài rất kém cỏi khiến thủ đô bị cô lập. Với tình hình an ninh ngày càng xấu đi, một phần lớn thành viên các lực lượng không quân Liên Xô đã bắt đầu tới và đóng quân tại Kabul. Đồng thời, Tổng thống Hafizullah Amin dời các văn phòng chính phủ tới cung Tajbeg, tin rằng việc này sẽ giúp chính phủ an toàn các mối đe dọa có thể xảy ra. Giới truyền thông đưa tin, sau một thời gian nghiên cứu các khả năng, cuối cùng Moskva đã quyết định đưa quân vào Afghanistan bằng cách điều lính đặc nhiệm tập kích bất ngờ, kiểm soát thủ đô Kabul để vô hiệu hóa Tổng thống Amin.[46]

Ngày 12/12/1979, Bộ chỉ huy tiền phương do Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tướng Tukharinov làm Tổng Tư lệnh chiến dịch đã được thông qua và đóng đại bản doanh ở Sherbergan, một thị trấn nằm trên đường biên giới Liên Xô – Afghanistan. Theo kế hoạch đã được duyệt, lính đặc nhiệm bắt đầu tiến vào Afghanistan theo đường bộ từ ngày 16 đến ngày 18/12/1979. Ngày 20/12/1979, lính dù bắt đầu hành quân và 2 cánh quân này gặp nhau tại cửa ngõ thủ đô Kabul, trước khi tấn công cung điện Palace Tajbeg.[46]

Ngày 27 tháng 12 năm 1979, 700 lính đặc nhiệm và lính dù Liên Xô trong trang phục lính Afghanistan, gồm cả các lực lượng đặc biệt OSNAZ của KGB và GRU SPETSNAZ từ Alpha GroupZenit Group với sự yểm trợ của 45 xe tăng T-62, 35 xe tăng T-72 và 5 xe bọc thép cùng pháo tự hành[46], đã chiếm các cơ sở chính phủ, quân đội và thông tin trọng yếu tại Kabul, và cả mục tiêu hàng đầu - Cung Tổng thống Tajbeg.

Chiến dịch này bắt đầu lúc 7:00 tối khi Zenith Group phá vỡ cổng thông tin của Kabul, làm tê liệt mạng lưới chỉ huy quân đội Afghanistan. Lúc 7:15, cuộc tấn công ồ ạt vào Cung Tajbeg bắt đầu, với mục tiêu rõ ràng là phế truất và tiêu diệt Tổng thống Hafizullah Amin. Đồng thời, các mục tiêu khác cũng bị chiếm (như Bộ nội vụ lúc 7:15). Lực lượng bảo vệ Cung điện Tajbeg bao gồm một tiểu đoàn không chống cự nổi binh lính Liên Xô được xe tăng và xe bọc thép yểm trợ do họ không có vũ khí hạng nặng và súng chống tăng[46]. Chiến dịch hoàn thành vào sáng ngày 28 tháng 12.

Bộ chỉ huy quân sự Liên Xô tại Termez, nước cộng hoà Uzbekistan, đã thông báo trên Đài truyền thanh Kabul rằng Afghanistan đã được "giải phóng" khỏi ách thống trị của Amin. Theo Bộ chính trị Liên Xô, họ đã hành động phù hợp với Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện năm 1978 và rằng Amin "đã bị hành quyết bởi một tòa án vì các tội ác của ông ta".

Một bản tin được cho là phát đi từ Đài phát Kabul nhưng sau đó được xác định là từ một cơ sở Liên Xô tại Uzbekistan đã thông báo việc hành quyết Hafizullah Amin được tiến hành bởi Uỷ ban Trung ương Cách mạng Afghanistan. Rằng uỷ ban sau đó đã chọn cựu Phó thủ tướng chính phủ Babrak Karmal, người từng bị hạ cấp xuống làm đại sứ tại Tiệp Khắc sau khi Khalq lên nắm quyền lực, lên làm chủ tịch và ủy ban này đã yêu cầu sự trợ giúp quân sự từ phía Liên Xô[48].

Các lực lượng mặt đất Liên Xô, dưới sự chỉ huy của Thống chế Sergei Leonidovich Sokolov, tiến vào Afghanistan từ hướng bắc ngày 27 tháng 12. Vào buổi sáng, sư đoàn dù Vitebsk đã đổ bộ vào sân bay tại Bagram và việc triển khai quân đội Liên Xô tại Afghanistan bắt đầu diễn ra. Trong vòng hai tuần, tổng cộng năm sư đoàn Liên Xô đã tới Afghanistan: Sư đoàn không vận 105 tại Kabul, Lữ đoàn cơ giới 66 tại Herat, Sư đoàn pháo cơ giới 357 tại Kandahar, Sư đoàn pháo cơ giới 16 đóng căn cứ ở phía bắc Badakshan và Sư đoàn cơ giới 306 tại thủ đô. Chỉ riêng trong tuần thứ hai, máy bay Liên Xô đã tiến hành tổng cộng 4.000 chuyến bay tới thủ đô Kabul[49].

Các chiến dịch của Quân đội Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhóm Spetsnaz (lực lượng đặc biệt) Liên Xô chuẩn bị thi hành nhiệm vụ tại Afghanistan, 1988

Lực lượng Liên Xô đầu tiên tiến vào Afghanistan gồm ba sư đoàn cơ giới (gồm cả Sư đoàn 201), một trung đoàn pháo cơ giới biệt lập, một sư đoàn không quân, Lữ đoàn không quân tấn công biệt lập số 56, và một trung đoàn không vận[50]. Sau khi đã triển khai, quân đội Liên Xô không thể thành lập chính quyền bên ngoài kabul. Tới 80% vùng nông thôn vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ. Nhiệm vụ đầu tiên, bảo vệ các thành phố và các cơ sở chiến lược, được mở rộng sang cả chiến đấu với các lực lượng Mujahideen chống cộng, chủ yếu dùng các lính dự bị Liên Xô.

Những báo cáo quân sự đầu tiên cho thấy khó khăn mà Quân đội Liên Xô phải đối mặt khi chiến đấu tại những vùng đồi núi. Quân đội Liên Xô không quen với những trận đánh kiểu đó, không được huấn luyện chống nổi loạn, và vũ khí cùng trang thiết bị quân sự của họ, đặc biệt là xe thiết giáp và xe tăng, thỉnh thoảng không thể hoạt động hay hoạt động kém hiệu quả tại những vùng núi non. Pháo binh hạng nặng được sử dụng rất nhiều trong chiến đấu với các lực lượng chống đối.

Người Liên Xô đã sử dụng nhiều loại máy bay trực thăng (gồm cả loại máy bay trực thăng vũ trang Mil Mi-24 Hind) làm lực lượng tấn công trên không hàng đầu, với sự hỗ trợ của các máy bay chiến đấu-ném bommáy bay ném bom, cùng bộ binh và các lực lượng đặc biệt.

Sự vô phương của Liên bang Xô viết trong việc phá vỡ thế bế tắc quân sự, lôi cuốn sự ủng hộ của người dân Afghanistan, hay trong việc tái xây dựng Quân đội Afghanistan, khiến họ phải trực tiếp sử dụng lực lượng của mình trong những trận đánh với quân Mujahideen. Binh lính Liên Xô thường rơi vào cảnh chiến đấu với những người dân thường Afghanistan vì chiến thuật chiến tranh du kích của quân nổi dậy. Họ đã lặp lại những sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam khi giành ưu thế trong phần lớn các trận đánh quy ước nhưng lại thua trong việc kiểm soát vùng nông thôn.

Phản ứng của thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã chỉ ra rằng cuộc tấn công xâm nhập Afghanistan của Liên Xô là "mối đe dọa nghiêm trọng nhất tới hòa bình kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai." Carter sau này đã áp đặt một lệnh cấm vận đối với các mặt hàng như lương thực, kỹ thuật cao Hoa Kỳ với Liên Xô. Căng thẳng gia tăng, cũng như mối quan ngại ở phương Tây về quân số đông đảo của Liên Xô cũng như khoảng cách địa lý gần gũi với khu vực Vùng Vịnh nhiều dầu mỏ nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho tình hình chính trị lắng dịu trên thế giới.

Sự phản đối ngoại giao quốc tế rất gay gắt, từ những lời cảnh báo của phương Tây tới sự tẩy chay Olympic mùa hè năm 1980 tại Moskva của Mỹ. Cuộc xâm lược, cùng với nhiều sự kiện khác như cuộc cách mạng tại Iran cùng với vụ bắt giữ con tin Hoa Kỳ sau đó, cuộc Chiến tranh Iran-Iraq, cuộc xâm lược Liban năm 1982 của Israel, sự leo thang căng thẳng giữa Pakistan và Ấn Độ, và sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng bố chống phương Tây từ Trung Đông, góp phần khiến Trung Đông trở thành khu vực rất bất ổn và đầy bạo lực trong thập niên 1980.

Chính phủ Babrak Karmal ngay từ đầu đã thiếu sự hỗ trợ quốc tế. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc không thể hành động vì Liên Xô có quyền phủ quyết, nhưng Đại hội đồng Liên hiệp quốc thường xuyên thông qua các nghị quyết phản đối sự chiếm đóng của Liên Xô. Các bộ trưởng ngoại giao của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo đã lấy làm tiếc và yêu cầu quân đội Liên Xô rút quân tại kỳ họp khẩn cấp lần thứ 6 tại Islamabad từ ngày 10 tháng 114 tháng 1 năm 1980. Đại hội đồng Liên hiệp quốc với tỷ lệ phiếu thuận 104 trên 18 (với 18 nước không tham gia bỏ phiếu) thông qua nghị quyết (A/ES-6/2, GA/6172) trong đó "mạnh mẽ phê phán" "sự can thiệp quân sự gần đây" tại Afghanistan và kêu gọi "rút hoàn toàn quân đội nước ngoài" khỏi nước này "cho phép nhân dân (Afghanistan) khả năng tự quyết số phận của họ mà không có sự can thiệp hay ép buộc từ bên ngoài."[51]. Tuy nhiên, nghị quyết này đã bị Leonid Ilyich Brezhnev và các lãnh đạo khác của Liên Xô bác bỏ bởi cái gọi là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Afghanistan được họ cho là hợp lý theo Điều 51 của Hiến chương Liên hiệp quốc. Họ cho rằng chỉ chính phủ Afghanistan có quyền quyết định tình trạng của quân đội Liên Xô. Lập trường này bị phe phản đối hành động can thiệp coi là giả nhân giả nghĩa bởi Tổng thống Hafizullah Amin không thể muốn chính mình bị hạ bệ và hành quyết, và rằng những lời tuyên bố khác yêu cầu sự can thiệp chỉ là từ phía chính phủ bù nhìn Afghanistan do người Liên Xô dựng lên[52]. Phong trào Không Liên kết đã bị chia rẽ sâu sắc giữa những nước tin việc triển khai quân Liên Xô là hợp pháp và những nước coi hành động này là một cuộc xâm lược. Đáng chú ý là Ấn Độ, một đồng minh thân cận của Liên Xô trong Chiến tranh lạnh, đã ủng hộ chiến dịch của Liên Xô và cung cấp hỗ trợ tình báo và tiếp vận quan trọng cho quân đội Liên Xô. Trong các quốc gia Khối Warszawa, chỉ có România lên tiếng chỉ trích Liên Xô.[53]

Cuộc nổi dậy tại Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Tới giữa thập niên 1980, phong trào kháng chiến Afghanistan, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Ả Rập Xê Út, Pakistan và nhiều nước khác đã khiến Moskva phải chịu nhiều tổn thất quân sự cũng như buộc nước này rơi vào tình trạng căng thẳng trong quan hệ quốc tế. Du kích quân Afghanistan được huấn luyện chủ yếu bởi Hoa Kỳ và Pakistan. Hoa Kỳ coi cuộc xung đột tại Afghanistan là một phần trong toàn bộ cuộc Chiến tranh Lạnh, và CIA Mỹ đã viện trợ cho các lực lượng chống Liên Xô qua Cơ quan Tình báo (ISI) Pakistan, trong một chương trình được gọi là Chiến dịch gió lốc[54][55]. Một phong trào tương tự cũng xuất hiện trong thế giới Hồi giáo, với những đạo quân của cái gọi là Những người Ả Rập Afghanistan, những chiến binh nước ngoài được tuyển mộ từ Thế giới Hồi giáo để tiến hành cuộc thánh chiến (jihad) chống lại những người cộng sản. Nổi tiếng trong số họ là một người Ả Rập Xê Út tên Osama bin Laden, nhóm Ả Rập của ông ta sau này đã dính dáng tới Al-Qaeda.

Chiến binh mujahid Afghan biểu diễn sử dụng tên lửa phòng không vác tay Strela 2

Một hành động viện trợ rất quan trọng dành cho Mujahideen là việc Mỹ cung cấp các hệ thống tên lửa FIM-92 Stinger chống máy bay do họ chế tạo, việc này khiến con số thiệt hại máy bay của Không quân Liên Xô tăng lên. Một số nhà phân tích quân sự cho rằng nó là một "kẻ thay đổi cuộc chơi" và đã đưa ra thuật ngữ có tên "hiệu ứng Stinger" để mô tả nó. Theo Dân biểu Hoa Kỳ Charlie Wilson, người đã từng tài trợ cho các tên lửa Stingers cho người Mujahideen nói rằng: "trước khi có Stinger người Mujahideen không bao giờ giành được một trận chiến với Soviet, nhưng sau khi nó được giới thiệu, Mujahideen không bao giờ phải chịu thua một lần nữa."

Nhiều nhà phân tích quân sự cho rằng Stinger có tỷ lệ tiêu diệt lên tới khoảng 75% khi được sử dụng trong hai năm cuối của chiến tranh (phóng 340 tên lửa bắn rơi 269 máy bay và trực thăng). Tuy nhiên, số liệu này là từ tuyên bố của chính quân Mujahideen, vốn không thể xác thực được. Selig Harrison dẫn lời một tướng Nga cho rằng hiệu quả của Stinger đã được phóng đại. Theo số liệu của Liên Xô, trong 2 năm 1987-1988, chỉ có 35 máy bay và 63 trực thăng các loại của họ bị rơi do mọi nguyên nhân.[56] Như vậy, tỷ lệ bắn hạ của Stinger thực sự chỉ khoảng 15-20% (340 tên lửa bắn rơi khoảng 50-70 máy bay). Quân đội Pakistan đã từng phóng 28 quả Stinger nhắm vào máy bay Liên Xô và không bắn trúng được một chiếc nào.[57] Theo Alan J. Kuperman, Stinger đã có hiệu quả vào ban đầu, nhưng trong vòng vài tháng sau đó, máy bay Liên Xô đã được cài đặt các thiết bị phóng pháo sáng gây nhiễu để làm mất phương hướng các tên lửa, cùng với việc hoạt động ban đêm và các chiến thuật khác đã làm hiệu quả của Stinger sụt giảm rõ ràng. Đến năm 1988, Kuperman tuyên bố lính Mujahideen đã ngừng sử dụng Stinger do không còn hiệu quả nữa.[58] Một nguồn tin khác (từ Jonathan Steele) cho biết Stingers đã buộc máy bay trực thăng và máy bay ném bom của Soviet phải bay ở các độ cao cao hơn khiến chúng tấn công với độ chính xác thấp hơn, tuy nhiên Stinger không hạ được nhiều máy bay hơn so với súng máy hạng nặng của Trung Quốc hoặc các vũ khí kém tinh vi hơn[59]

Các lãnh đạo Mujahideen rất chú trọng tới các chiến dịch phá hoại. Hành động thường thấy nhất là tấn công các đường dẫn năng lượng, ống dẫn dầu, các đài phát thanh, các trụ sở cơ quan chính phủ, sân bay, khách sạn, rạp chiếu phim, và tương tự. Từ năm 1985 tới năm 1987, hơn 1.800 hành động khủng bố đã được ghi nhận. Tại vùng biên giới với Pakistan, quân Mujahideen thường phóng 800 quả rocket mỗi ngày. Giữa tháng 4 năm 1985 và tháng 1 năm 1987, họ đã tiến hành hơn 23.500 lần bắn pháo vào các mục tiêu của chính phủ. Quân Mujahideen thường nghiên cứu kỹ các mục tiêu tấn công bởi họ luôn có mặt gần các làng bên trong tầm bắn của pháo binh Liên Xô. Họ đặt người dân thường vào mối nguy hiểm từ cuộc bắn pháo trả đũa của Liên Xô. Quân Mujahideen cũng thường xuyên sử dụng mìn. Họ thu nhận các thường dân địa phương và cả trẻ em vào lực lượng của mình.

Pháo mặt đất của Hồng quân Liên Xô bị quân du kích tịch thu tháng 8/1984 ở Jaji, Paktia

Họ tập trung vào việc phá hoại cầu cống, đường sá, phục kích các đoàn xe, phá huỷ hệ thống dẫn điện và sản xuất công nghiệp, tấn công các đồn cảnh sát, các đồn lính và căn cứ không quân Liên Xô. Họ ám sát các quan chức chính phủ và các thành viên PDPA. Họ bao vây các trại lính nhỏ ở vùng nông thôn. Tháng 3 năm 1982, một quả bom phát nổ tại Bộ giáo dục, làm hư hại nhiều toà nhà. Cùng tháng ấy, tình trạng thiếu điện lan rộng tại Kabul khi một cột điện cao thế dẫn từ nhà máy điện Naghlu bị đặt mìn phá huỷ. Tháng 6 năm 1982 một đội khoảng 1.000 đảng viên trẻ được gửi tới làm việc tại thung lũng Panjshir đã bị phục kích ngay 20 dặm ngoài Kabul, với thiệt hại nhân mạng to lớn. Ngày 4 tháng 9 năm 1985, quân nổi dậy bắn hạ một máy bay nội địa thuộc Bakhtar Airlines khi nó cất cánh từ sân bay Kandahar, giết hại 52 người trên khoang.

Các nhóm Mujahideen thường từ ba tới năm người. Sau khi nhận nhiệm vụ giết hại một ai đó trong chính phủ, họ bỏ nhiều thời gian nghiên cứu thói quen và các chi tiết về đời sống của người đó để tìm ra phương pháp hoàn thành nhiệm vụ thích hợp nhất. Họ ám sát từ trên ô tô, bắn vào ô tô, đặt mìn tại các cơ sở hay toà nhà chính phủ, dùng thuốc độc, và đặt mìn trên các phương tiện vận tải.

Vùng hoạt động của các phe Mujahideen trong năm 1985.

Cơ quan Tình báo (ISI) và Nhóm nhiệm vụ đặc biệt (SSG) Pakistan dính líu sâu vào cuộc xung đột này, và họ hợp tác với CIA cùng Các lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ lực lượng nổi dậy chống lại quân Liên Xô.

Tháng 5 năm 1985, bảy tổ chức nổi dậy chính đã thành lập Liên minh Bảy Đảng Mujahideen để phối hợp các chiến dịch chống quân đội Liên Xô của họ. Cuối năm 1985, các nhóm hoạt động mạnh trong và ngoài Kabul, tung ra các cuộc tấn công rocket và các chiến dịch du kích chống lại chính phủ Afganistan.

Tới giữa năm 1987 Liên bang Xô viết thông báo việc rút quân. Sibghatullah Mojaddedi được lựa chọn làm lãnh đạo Nhà nước Hồi giáo Lâm thời Afghanistan, trong một nỗ lực nhằm lên tiếng chống lại chế độ Kabul được Moskva hậu thuẫn. Mojaddedi, với tư cách lãnh đạo Chính phủ Lâm thời Afghanistan, đã gặp gỡ với Tổng thống Hoa Kỳ khi ấy là George H. W. Bush, đây được coi là một thắng lợi ngoại giao quan trọng của phe kháng chiến Afghanistan.

Sự dính líu quốc tế và viện trợ cho lực lượng du kích Hồi giáo Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Các chiến sĩ Mujahideen ở vùng biên giới với Pakistan năm 1985

Sự triển khai quân đội Liên Xô tại Afghanistan đã cản trở những nỗ lực của Pakistan nhằm gây ảnh hưởng tại Afghanistan. Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã chấp nhận quan điểm rằng chiến dịch quân sự của Liên Xô không thể được coi là hành động riêng biệt nhằm gây ảnh hưởng địa lý hạn chế mà có thể coi là một mối đe doạ cho vùng Vịnh Péc xích. Sự không chắc chắn về mục tiêu cuối cùng của Moskva trong cuộc tiến quân bất ngờ của họ về phía nam khiến sự đánh cuộc của Hoa Kỳ vào một nước Pakistan độc lập càng thêm phần quan trọng.

Sau khi quân đội Liên Xô triển khai, nhà độc tài quân sự Pakistan là tướng Muhammad Zia-ul-Haq bắt đầu chấp nhận viện trợ tài chính từ các cường quốc phương Tây để hỗ trợ cho Mujahideen. Hoa Kỳ, Anh Quốc và Ả Rập Xê Út trở thành những quốc gia viện trợ tài chính hàng đầu cho Tướng Zia, người, với tư cách người đứng đầu một quốc gia láng giếng, đóng vai trò rất quan trọng qua việc đảm bảo lực lượng nổi dậy Afghanistan sẽ được huấn luyện và tài trợ tốt.

Cơ quan Tình báo và Nhóm Công tác Đặc biệt Pakistan khi ấy dính líu trực tiếp vào cuộc xung đột chống các lực lượng Liên Xô. Sau khi Ronald Reagan trở thành tổng thống mới của Hoa Kỳ năm 1981, viện trợ cho Mujahideen thông qua chính quyền Zia tại Pakistan tăng lên rõ rệt. Để trả đũa, KHAD, dưới quyền lãnh đạo của Mohammad Najibullah, tiến hành (theo tài liệu của Mitrokhin và các nguồn khác) nhiều chiến dịch chống Pakistan, nước cũng đang phải chống chọi trước làn sóng vũ khí và ma tuý tràn vào Afghanistan.

Trong thập niên 1980, với tư cách một quốc gia ở hàng đầu trận tuyến chống quân Liên Xô, Pakistan đã nhận được nhiều nguồn viện trợ từ Mỹ và trở thành nơi trú ngụ cho hàng triệu người tị nạn Afghanistan (chủ yếu là Pashtun) bỏ trốn khỏi đất nước. Dù những người tị nạn bị dồn vào bên trong tỉnh Balochistan lớn nhất Pakistan, dưới tình trạng thiết quân luật của Tướng Rahimuddin Khan, làn sóng người tị nạn - được cho là lớn nhất trên thế giới[60] - vào nhiều khu vực khác cũng để lại hậu quả cho Pakistan và những ảnh hưởng của nó vẫn còn lại đến ngày nay. Dù vậy, Pakistan đã đóng vai trò tối quan trọng dẫn tới sự rút quân cuối cùng của Liên Xô khỏi Afghanistan.

Sự rút quân của Liên Xô khỏi Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Những phí tổn nhân mạng, nguồn tài nguyên kinh tế và sự ủng hộ ngày càng suy giảm trong nước dần khiến làn sóng chỉ trích chủ nghĩa chiếm đóng bên trong Liên bang Xô viết tăng lên. Leonid Ilyich Brezhnev qua đời năm 1982, và sau hai đời Tổng bí thư kế nhiệm ngắn ngủi, Mikhail Sergeyevich Gorbachyov lên nắm quyền lãnh đạo tháng 3 năm 1985. Khi Gorbachyov tiến hành mở cửa trong nước, dần dần mong muốn tìm một đường rút lui trong danh dự khỏi Afghnistan của người Liên Xô trở nên rõ ràng.

Chính phủ của Tổng thống Karmal, được thành lập năm 1980 và bị nhiều người coi là một chính phủ bù nhìn, hầu như không thể hoạt động hiệu quả. Nó bị suy yếu bởi tình trạng phe phái bên trong PDPA và với phái Parcham, và những nỗ lực của họ nhằm có được sự ủng hộ hơn nữa cả trong và ngoài nước chỉ là vô vọng.

Xe tăng T-62M của Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan

Moskva bắt đầu coi sự lựa chọn Karmal là một sai lầm và lên án ông về các vấn đề đang xảy ra. Nhiều năm sau, khi sự bất lực của Karmal trong việc củng cố chính phủ đã trở thành hiển nhiên, Gorbachyov, khi ấy là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, đã nói:

"Lý do chính khiến sự đoàn kết quốc gia không thể diễn ra bởi Đồng chí Karmal đang hy vọng tiếp tục tại vị ở Kabul với sự giúp đỡ của chúng ta."

Tháng 11 năm 1986, Mohammad Najibullah, cựu chỉ huy cảnh sát mật Afghanistan (KHAD), được lựa chọn làm tổng thống và một hiến pháp mới được thông qua. Năm 1987 ông này đưa ra chính sách "hoà giải quốc gia," được các chuyên gia của Đảng Cộng sản Liên Xô tán thành, và sau này đem ra sử dụng ở những vùng khác trên thế giới. Dù được kỳ vọng nhiều, chính sách mới không khiến chính quyền Kabul được Moskva hậu thuẫn thu hút được lòng dân, và cũng không thuyết phục được các phe phái kháng chiến đàm phán với chính phủ cầm quyền.

Những cuộc đàm phán không chính thức về việc rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan đã được tiến hành từ năm 1982. Năm 1988, chính phủ Pakistan và Afghanistan, với Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết là bên bảo lãnh, đã ký kết một thoả thuận dàn xếp các vấn đề chủ chốt giữa hai nước, được gọi là Hiệp ước Genève. Liên hiệp quốc thành lập một Phái đoàn đặc biệt để giám sát quá trình. Theo cách này, Najibullah đã ổn định được vị thế chính trị của mình, đủ để đáp ứng những động thái rút quân của Moskva. ngày 20 tháng 7 năm 1987, sự rút lui của quân đội Liên Xô được công bố. Cuộc rút lui này được Đại tướng Boris Vsevolodovich Gromov, người ở thời điểm ấy là chỉ huy Tập đoàn quân 40, phác thảo.

Đại tướng của Tập đoàn quân 40, Boris Gromov, tuyên bố rút quân đội Liên Xô.
Thương phế binh Liên Xô trở về từ Afghanistan

Trong số những quy định, Hiệp ước Genève xác định Hoa Kỳ và Liên Xô không được can thiệp vào công việc nội bộ của Pakistan và Afghanistan và một thời gian biểu cho việc rút quân toàn bộ của Liên Xô. Thoả thuận rút quân đã được tuân thủ, vào ngày 15 tháng 2 năm 1989, người lính Liên Xô cuối cùng rút lui theo đúng lịch trình khỏi Afghanistan.

Sau khi Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan, cuộc nội chiến giữa quân đội Afghanistan và mujahideen vẫn tiếp diễn cho đến năm 1992 thì chính quyền cộng sản sụp đổ. Những người mujahideen trở thành chính phủ có quyền lực hợp pháp ở Afghanistan, tuy vậy người đứng đầu chính phủ cộng sản trước kia là Najibullah vẫn được cho phép ở lại thủ đô Kabul. Giai đoạn tiếp theo từ năm 1992-1996, là giai đoạn đánh nhau ác liệt giữa các nhóm Mujahideen với Taliban, kết quả là Taliban chiếm được Kabul và phần lớn đất nước. Đến năm 1996 Taliban chiếm được thủ đô Kabul, Najibullah bị hành quyết dã man, bị thiến, kéo lê bằng xe tải rồi treo cổ [61]. Đến năm 2001 thì liên quân do Hoa Kỳ trên danh nghĩa tiến hành cuộc chiến tranh chống khủng bố đã tiến quân vào Afghanistan và thành công trong việc lật đổ chính quyền Taliban, tuy vậy xung đột ở Afghanistan cho đến ngày nay vẫn chưa kết thúc.

Con số chính thức về quân số và thương vong của Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 25 tháng 12 năm 1979 tới 15 tháng 2 năm 1989 tổng cộng 620.000 binh sĩ đã phục vụ trong các lực lượng tại Afghanistan (dù trong từng thời điểm chỉ có từ 80.000-104.000 người tại Afghanistan). Có 525.000 lính trong quân đội, 90.000 lính biên phòng và các đơn vị nhỏ của KGB, 5.000 người thuộc các đội MVD (Bộ nội vụ) và cảnh sát và 21.000 nhân viên khác hoạt động cùng quân đội Liên Xô trong thời gian đó với tư cách nhân viên cổ cồn trắng và phục vụ các công việc chân tay khác.

Tổng cộng số thiệt hại nhân mạng trong các lực lượng vũ trang Liên Xô, quân biên phòng và các lực lượng bộ nội vụ là 14.453 người. Quân đội Liên Xô, các đơn vị thuộc tổng hành dinh mất 13.833 người, các đơn vị nhỏ của KGB 572 người, các đơn vị MVD mất 28 người và các bộ, sở khác mất 20 người. Trong giai đoạn này 417 quân nhân đã mất tích trong khi làm nhiệm vụ hoặc bị bắt làm tù binh; 119 người sau này đã được trả tự do, trong số đó 97 người quay trở về nước, 22 người đi ra nước ngoài.

Có 469.685 người ốm và bị thương, trong số đó 53.753 người hay 11,44%, bị thương tật hay chấn động tâm lý và 415.932 người (88,56%) bị ốm. Một tỷ lệ rất cao những trường hợp bị thương sau này sẽ bị ốm. Nguyên nhân của nó là khí hậu địa phương và các điều kiện y tế không đảm bảo, tới mức bệnh dịch lan tràn nhanh chóng trong quân đội. Có 115.308 trường hợp nhiễm bệnh viêm gan, 31.080 người bị sốt thương hàn và 140.665 người bị những bệnh dịch khác. Trong số 11.654 người giải ngũ sau khi bị thương, bệnh tật hay bị bệnh nghiêm trọng, có 92%, hay 10.751 người đã bị tàn tật[62].

Xác những xe tải Liên Xô tại Kandahar, Afghanistan, 2002

Thiệt hại vật chất gồm:

Ảnh hưởng đối với Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Ước tính số thường dân Afghanistan thiệt mạng trong cuộc chiến dao động từ 562.000 đến 2.000.000 người. 5-10 triệu người Afghanistan đã trốn sang Pakistan và Iran, chiếm 1/3 dân số trước chiến tranh của nước này. Vào những năm 1980, một nửa số người tị nạn trên thế giới là người Afghanistan [63]. Noor Ahmed Khalidi ước tính rằng có 876.825 người Afghanistan đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh[64]. Martin Ewan và Marek Sliwinski ước tính số người chết cao hơn nhiều, ở mức 1,25 triệu người [65]. Tuy nhiên, Siddieq Noorzoy đưa ra con số thậm chí còn cao hơn với 1,71 triệu người chết [66][67].

Hệ thống thủy lợi, vốn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp ở Afghanistan do khí hậu khô cằn tại quốc gia này, đã bị phá hủy sau một loạt các vụ oanh tạc và bắn phá bởi lực lượng của Liên Xô và chính phủ. Trong năm 1985, hơn một nửa số ruộng đất của những người nông dân còn sống ở Afghanistan đã bị Liên Xô ném bom, hệ thống thủy lợi của họ bị phá hủy và gia súc của họ bị tàn sát bởi quân đội Liên Xô hoặc chính phủ, theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi các chuyên gia cứu trợ Thụy Điển [68][69]

Dân số của thành phố lớn thứ hai tại Afghanistan là Kandahar, đã giảm mạnh từ 200.000 dân trước khi cuộc chiến diễn ra xuống còn 25.000 dân, sau một chiến dịch ném bom rải thảm và san bằng kéo dài hàng tháng bởi Hồng quân Liên Xô và những người lính cộng sản Afghanistan vào năm 1987 [70]. Riêng mìn đã giết chết hơn 25.000 người Afghanistan trong cuộc chiến trong khi có tới 10-15 triệu quả mìn của Liên Xô và quân chính phủ vẫn còn sót lại rải rác ở khắp các vùng nông thôn[71]. Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế ước tính vào năm 1994 rằng sẽ mất tới 4.300 năm để loại bỏ toàn bộ số mìn của Liên Xô tại Afghanistan [72].

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm sát[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư người Mỹ Samuel Totten,[73] giáo sư Úc Paul R. Bartrop,[73] các học giả từ Trường Luật Yale như W. Michael Reisman[74] và Charles Norchi,[75] cũng như học giả Mohammed Kakar, tin rằng những người Afghanistan là nạn nhân của nạn diệt chủng bởi Liên bang Xô viết.[76][77] Quân đội Liên Xô đã giết chết một số lượng lớn người Afghanistan để đàn áp cuộc kháng chiến của họ.[76] Đã có nhiều cáo buộc rằng các lực lượng Liên Xô và những người ủy nhiệm của họ cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, khiến 1,5 - 2 triệu người Afghanistan mất mạng trong cuộc chiến.[78][79]

Trong một sự kiện đáng chú ý quân đội Liên Xô đã giết chết nhiều dân thường vào mùa hè năm 1980 [80]. Để tách quân Mujahideen ra khỏi người dân địa phương và loại bỏ sự ủng hộ của họ đối với quân Mujahideen, quân đội Liên Xô giết hại và trục xuất các thường dân ra khỏi các khu vực dân cư, sử dụng chiến thuật "tiêu thổ" để ngăn chặn sự trở lại của họ. Họ đã sử dụng bẫy sập, mìn, và chất hoá học, mặc dù không ở quy mô rộng, nhưng cũng nhằm phục vụ cho cùng một mục đích[80]. Họ đã thực hiện các hoạt động quân sự trong một nỗ lực để đảm bảo sự phục tùng nhanh chóng: việc sử dụng vũ khí hạng nặng, đặc biệt là pháo, máy bay trực thăng hoặc các loại vũ khí không chính xác vốn không thể phân biệt giữa lính đối phương và người thường dân.[80]. Người dân tại các tỉnh Nangarhar, Ghazni, Lagham, Kunar, Zabul, Qandahar, Badakhshan, Lowgar, Paktia và Paktika là nhưng người đã chịu đựng và chứng kiến ​​các chương trình trục xuất dân cư quy mô lớn của các lực lượng Liên Xô.[77]

Nhiều cựu binh sĩ Hồng quân sau cuộc chiến đã kể lại rằng :"Tình trạng tham nhũng [trong quân đội] diễn ra tràn lan và việc bán các loại vũ khí để đổi lấy ma túy và nhu yếu phẩm đã được cho phép. Cùng với đó là hành vi cướp bóc những người dân Afghanistan, các vụ giết hại thường dân không vũ trang, các cuộc tấn công ác liệt vào những ngôi làng, cũng như các vụ tra tấn tù binh thường được cho phép và thậm chí được khuyến khích bởi những sĩ quan chỉ huy"[81]

Một cựu binh lính Hồng quân khác cũng từng tham gia cuộc chiến đã thú nhận trên báo chí Liên Xô vào năm 1989: "Có những điều khiến chúng tôi [những binh lính Hồng quân] cảm thấy vô cùng xấu hổ khi nhớ lại... Tôi cảm thấy kinh sợ nếu như chúng ta viết một cuốn sách tuyên truyền lừa dối về cuộc chiến tại Afghanistan, và rồi sau khi đọc nó, con cháu chúng tôi lại muốn chúng tôi tiếp tục tham gia chiến đấu ở một nơi nào đó khác... Chúng ta là ai hỡi các cựu binh tham gia chiến tranh Afghanistan? Chiến binh bảo vệ hòa bình quốc tế hay kẻ đã phá hoại cuộc sống của những người xa lạ?" [82].

Một cựu binh sĩ khác cũng thừa nhận những tội ác khủng khiếp của lính Liên Xô trong cuộc chiến :"Chúng tôi đã gây chú ý bởi sự tàn ác của chúng tôi ở Afghanistan. Chúng tôi sẵn sàng giết hại những người nông dân vô tội. Nếu một người lính của chúng tôi bị giết hoặc bị thương, chúng tôi sẽ giết hết phụ nữ, trẻ em và cả người già để trả thù. Chúng tôi sẽ giết sạch tất cả, kể cả động vật" [83].

Một số binh sĩ Liên Xô thậm chí còn so sánh tội ác của họ ở Afghanistan với tội ác của quân đội Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới II. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1990, một người lính Hồng quân từng tham gia cuộc chiến nói với tờ Moscow News rằng: "Chúng tôi [lính Liên Xô tham gia cuộc chiến Afghanistan] được so sánh với những người lính đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, nhưng trong khi họ [kẻ thù của chúng tôi] bảo vệ quê hương của họ, còn chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đã sắm vai những kẻ xâm lược phát xít Đức!"[84].

Về phía quân Hồi giáo Mujahideen, lực lượng này cũng tiến hành các vụ đánh bom nhằm vào các cơ sở dân sự của chính phủ Afghanistan. Tháng 3 năm 1982, một quả bom phát nổ tại Bộ giáo dục Afghanistan. Tháng 6 năm 1982, một đội dân sự khoảng 1.000 đảng viên Afghanistan trẻ được gửi tới làm việc tại thung lũng Panjshir đã bị Mujahideen phục kích ngay 20 dặm ngoài Kabul, với thiệt hại nhân mạng to lớn. Ngày 4 tháng 9 năm 1985, quân nổi dậy bắn hạ một máy bay dân dụng nội địa thuộc Bakhtar Airlines khi nó cất cánh từ sân bay Kandahar, giết hại 52 người trên khoang.

Các nhóm Mujahideen thường từ ba tới năm người. Sau khi nhận nhiệm vụ giết hại một ai đó trong chính phủ, họ bỏ nhiều thời gian nghiên cứu thói quen và các chi tiết về đời sống của người đó để tìm ra phương pháp hoàn thành nhiệm vụ thích hợp nhất. Họ ám sát từ trên ô tô, bắn vào ô tô, đặt mìn tại các cơ sở hay toà nhà chính phủ, dùng thuốc độc, và đặt mìn trên các phương tiện vận tải.

Năm 2007, Afghanistan tuyên bố sẽ trừng phạt những người Afghanistan chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh trong ba thập kỷ chiến tranh, bao gồm cả các cựu thành viên của chính phủ, các nhà lãnh đạo Taliban và các cựu chỉ huy Mujahideen. Tuy nhiên điều này gặp nhiều khó khăn, vì nhiều quan chức chính phủ hiện tại của Afghanistan vốn cũng là các cựu chỉ huy Mujahideen[85].

Cưỡng hiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng Liên Xô đã bắt cóc phụ nữ Afghanistan bằng máy bay trực thăng khi đang bay trong nước để tìm kiếm quân Hồi giáo Mudhideen. Vào tháng 11 năm 1980, một số sự kiện đã xảy ra ở nhiều nơi khác nhau của đất nước Àghanistan, bao gồm cả Laghman và Kama. Lính Liên Xô cũng như các nhân viên của KhAD đã bắt cóc phụ nữ trẻ từ thành phố Kabul và các khu vực của Darul Aman và Khair Khana, gần các nhà lính Liên Xô để hãm hiếp họ [86]. Những phụ nữ bị bắt và bị hãm hiếp bởi lính Liên Xô đã bị các gia đình của họ "khinh thường và ghê tởm" nếu họ trở về nhà (người dân Afghanistan theo đạo Hồi giáo có sự chú ý đặc biệt quan trọng tới sự trong trắng của người phụ nữ) [87]. Người đào thoát từ Quân đội Xô viết năm 1984 cũng xác nhận hành động cưỡng bức của quân đội Xô viết đối với phụ nữ và trẻ em Afghanistan, nói rằng phụ nữ Afghanistan bị hãm hiếp tập thể một cách công khai giữa các binh lính.[88]

Sử dụng vũ khí hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng có rất nhiều báo cáo về vũ khí hóa học đã được các lực lượng Liên Xô sử dụng ở Afghanistan, thường là trong các vụ tấn công vào khu dân cư.[89][90][91]. Một báo cáo tình báo được giải mật của CIA vào năm 1982 rằng vào khoảng giữa những năm 1979 và 1982 đã có 43 vụ tấn công vũ khí hóa học riêng biệt mà đã gây ra hơn 3000 trường hợp tử vong cho dân thường [92].

Đến đầu những năm 1980, các báo cáo về cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học đã được ghi nhận trong "tất cả các khu vực có hoạt động tập trung của quân kháng chiến Mujahideen ".

Nội chiến Afghanistan (1989-1992) và cuộc tấn công của Hoa Kỳ (2001-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Hai xe tăng Liên Xô bị quân đội Liên Xô để lại sau khi rút quân trên một cánh đồng gần Căn cứ quân sự Bagram, năm 2003.

Cuộc nội chiến tiếp tục ở Afghanistan sau khi Liên Xô rút quân. Sự rút lui của người Liên Xô để lại nỗi sợ hãi sâu sắc bên trong giới chức tại Kabul. Quân kháng chiến Afghanistan chủ động tấn công các thị trấn, thành phố và cuối cùng là cả Kabul, khi cần thiết.

Chế độ Najibullah, dù không thể chiếm được sự ủng hộ của nhân dân, lãnh thổ, hay sự công nhận quốc tế vẫn giữ được quyền lực cho tới năm 1992. Kabul trở thành nơi trưng bày sự yếu kém chính trị, quân sự của Mujahedin. Trong gần bảy năm, chính phủ Najibullah đã thành công trong việc tự bảo vệ trước những cuộc tấn của Mujahedin, những phe phái bên trong chính phủ cũng đã tự tìm lấy những mối liên lạc riêng với các đối thủ của mình. Theo nhà nghiên cứu người Nga Andrey Karaulov, lý do chính dẫn tới sự mất quyền lực của Najibullah là sự từ chối bán các sản phẩm nhiên liệu cho Afghanistan năm 1992 của Nga vì các lý do chính trị (chính phủ mới của Nga không muốn ủng hộ những người cộng sản cũ) và hành động này đã thật sự dẫn tới một cuộc phong toả.

Sự đào ngũ của tướng Abdul Rashid Dostam và đội du kích người Uzbekistan của ông ta vào tháng 3 năm 1992, làm tổn hại nghiêm trọng tới quyền kiểm soát quốc gia của Najibullah. Vào tháng 4, Kabul cuối cùng cũng rơi vào tay Mujahedin vì các phe phái trong chính phủ đã thực sự xé tan nó.

Ngày 18 tháng 3, Najibullah ngay lập tức mất quyền kiểm soát nội bộ sau khi ông thông báo ý định từ chức nhằm mở đường cho một chính phủ trung lập chuyển tiếp. Trớ trêu thay, cho tới khi bị tình trạng bè phái trong hàng ngũ tướng lĩnh cao cấp làm mất tinh thần chiến đấu, Quân đội Afghnistan đã đạt được mức độ thành công mà ngay cả với sự hiện diện của Quân đội Liên Xô họ cũng chưa từng đạt được.

Sản xuất lương thực giảm trung bình 3.5% một năm trong giai đoạn 1978 - 1990 vì tình trạng chiến tranh, bất ổn tại các vùng nông thôn, hạn hán kéo dài, và cơ sở hạ tầng bị tàn phá. Những nỗ lực của Liên Xô nhằm tàn phá năng lực sản xuất tại các vùng thuộc quyền kiểm soát của phe phiến loạn cũng góp phần vào việc này. Hơn nữa, những cố gắng của Liên Xô nhằm tập trung hóa nền kinh tế dưới quyền sở hữu và kiểm soát của nhà nước, cùng với việc hợp nhất đất đai vào các hợp tác xã lớn cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này.[93]

Trong thời gian quân đội Liên Xô rút đi, những khu vực khai thác khí tự nhiên tại Afghanistan bị cho ngừng hoạt động để tránh bị phá hoại. Việc khôi phục sản xuất khí gas đã bị cản trở bởi các cuộc tranh giành trong nội bộ và tình trạng hỗn loạn ở đối tác thương mại truyền thống sau sự giải tán Liên bang Xô viết.

Giai đoạn tiếp theo từ năm 1992-1996, là giai đoạn đánh nhau ác liệt giữa các nhóm Mujahideen với Taliban, kết quả là Taliban chiếm được Kabul và phần lớn đất nước. Đến năm 1996 Taliban chiếm được thủ đô Kabul, Najibullah bị hành quyết dã man, bị thiến, kéo lê bằng xe tải rồi treo cổ [94]. Đến năm 2001 thì liên quân do Hoa Kỳ trên danh nghĩa tiến hành cuộc chiến tranh chống khủng bố đã tiến quân vào Afghanistan và thành công trong việc lật đổ chính quyền Taliban, tuy vậy xung đột ở Afghanistan cho đến ngày nay vẫn chưa có hồi kết.

Quan hệ giữa Hoa Kỳ với Osama bin Laden và tổ chức khủng bố Al-Qaeda trong cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Có những thông tin khác nhau về quan hệ giữa Hoa Kỳ với Osama bin Laden và tổ chức khủng bố Al-Qaeda trong cuộc chiến.

Một số cáo buộc cho rằng Osama bin Laden đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ CIA trong cuộc chiến này, thậm chí được chính CIA đào tạo. Tuy vậy những ý kiến phản bác lại điều đó cho rằng sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho nhóm Mujahideen Afghanistan bản xứ không nhiều, và sự tham dự của Osama bin Laden vào cuộc xung đột không liên quan tới các chương trình của CIA [95]. Nhiều học giả và phóng viên đã gọi những cáo buộc cho rằng Osama bin Laden từng được CIA hậu thuẫn là "hoàn toàn vô nghĩa", [92] "hoàn toàn tưởng tượng" [96], và "đơn giản chỉ là một câu chuyện hoang đường" [97].

Theo nhà báo Peter Bergen của CNN, người từng phỏng vấn truyền hình với Osama bin Laden vào năm 1997 thì "bin Laden có nguồn tài chính riêng của mình, ông ta chống Mỹ, ngoài ra ông ta hoạt động hoàn toàn bí mật và độc lập" [97]. Steve Coll, tác giả cuốn sách về cuộc chiến tranh Liên Xô-Afghanistan có tên "Ghost War" cho rằng: "bin Laden hoạt động dưới sự che chở của tình báo Ả Rập Xê Út, nằm ngoài tầm ảnh hưởng của CIA. Các tài liệu lưu trữ của CIA không có hồ sơ về bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào giữa một sĩ quan CIA với bin Laden trong những năm 1980" [98].

Vincent Cannistraro, lãnh đạo Nhóm Công tác Afghanistan của chính quyền Reagan từ năm 1985 đến 1987 thì cho biết Milton Bearden, Giám đốc của CIA trong thời kỳ này, nói rằng CIA hoàn toàn không liên quan đến bin Laden, và bản thân Cannistraro khi điều phối các chính sách liên quan đến Chiến tranh Afghanistan cũng chưa bao giờ nghe đến cái tên bin Laden[99].

Phóng viên của đài Fox News là Richard Miniter đã từng tiến hành phỏng vấn với hai cựu giám đốc của CIA là Bill Peikney và Milt Bearden kể lại rằng: "Cả hai đều thẳng thừng phủ nhận rằng bất kỳ khoản tiền nào của CIA đã từng đến tay bin Laden. Họ tỏ ra rất chắc chắn về điều này đến nỗi họ đồng ý cho tôi xem các hồ sơ từ thời đó, một động thái bất thường của các sĩ quan tình báo vốn thường xuyên kín đáo. Ông Peikney còn nói thêm trong một bức e-mail rằng: Tôi [Peikney] chưa từng nhìn thấy cái tên UBL [bin Laden] xuất hiện trên màn hình khi còn làm việc ở đó [CIA]" Trên thực tế có hai phong trào nổi dậy hoàn toàn riêng biệt tại Afghanistan chống lại Liên Xô, họ chỉ thống nhất với nhau bởi một kẻ thù chung là chủ nghĩa cộng sản. Một phong trào được tài trợ bởi Ả Rập Saudi và các quốc gia vùng Vịnh và bao gồm các phần tử Hồi giáo cực đoan di cư đến Afghanistan từ khắp thế giới Hồi giáo, họ tự gọi mình là người Ả Rập Afghanistan, Osama bin Laden nằm trong số những phần tử này. Trong khi đó, nguồn tài trợ của Hoa Kỳ đã được dành riêng cho phong trào nổi dậy của những nhóm người khác trong xã hội Afghanistan, bao gồm những người Afghanistan bản địa. Milt Bearden cũng nói rằng: Tôi đố bất cứ ai đưa ra bất kỳ bằng chứng nào cho thấy chúng tôi [CIA] đã cung cấp dù chỉ một USD cho bất kỳ người Ả Rập Afghanistan nào, chứ đừng nói đến bin Laden [100].

Một bài viết từ trang web của Đại sứ quán Hoa Kỳ tuyên bố rằng Hoa Kỳ chưa từng có quan hệ với Osama bin Laden: "Hoàn toàn không có cơ sở khi nói rằng CIA và người Ả Rập Afghanistan đã từng có mối liên hệ với nhau. Người Ả Rập Afghanistan hoạt động độc lập và có nguồn tài trợ riêng. CIA không cần người Ả Rập Afghanistan, và người Ả Rập Afghanistan cũng không cần CIA. Vì vậy, quan điểm cho rằng Cơ quan Tình báo Trung ương tài trợ và đào tạo người Ả Rập Afghanistan là hoàn toàn sai lầm[101]

Marc Sageman , một nhân viên đối ngoại, người từng công tác tại Islamabad từ năm 1987- 1989, và từng hợp tác chặt chẽ với các chiến binh Mujahideen của Afghanistan tuyên bố rằng không có bất kỳ khoản tiền nào của Mỹ được chuyển cho quân tình nguyện nước ngoài, và người Ả Rập Afghanistan cũng hoàn toàn không phải ngoại lệ [96].

Nhân vật đứng thứ hai của tổ chức Al Qaeda, Ayman al-Zawahiri, cũng xác nhận rằng Người Ả Rập Afghanistan không nhận được bất kỳ khoản tài trợ nào của Mỹ trong cuộc chiến ở Afghanistan. Trong cuốn sách có tên là Knights Under the Prophet's Banner, được xuất bản vào tháng 12 năm 2001, al-Zawahiri nói rằng người Ả Rập Afghanistan được tài trợ bằng tiền từ các nguồn Ả Rập, số tiền này đến hàng trăm triệu USD: "Trong khi Hoa Kỳ ủng hộ Pakistan và phe phái mujahidin bằng tiền bạc và vũ khí, mối quan hệ của người Ả Rập Afghanistan với Hoa Kỳ lại hoàn toàn khác..." [102]. Abdullah Anas, người Algeria, một trong những phần tử khủng bố người Ả Rập Afghanistan và là con rể của Abdullah Azzam (một trong những người sáng lập của Al Qaeda), cũng đã xác nhận rằng CIA không hề có mối quan hệ nào với người Ả Rập Afghanistan, bao gồm cả Osama bin Laden: "Nếu bạn nói rằng đã từng có một mối quan hệ theo nghĩa là CIA đã từng gặp người Ả Rập, thảo luận với họ, chuẩn bị kế hoạch với họ và chiến đấu với họ - thì điều đó chưa bao giờ xảy ra[103].

Tổng thống Mỹ Reagan tiếp các chiến binh mujahideen tại Nhà Trắng.

Tuy nhiên, Sir Martin Ewans lại cho rằng : "(Al-Qaeda) đã được hưởng lợi gián tiếp từ nguồn tài trợ của CIA, thông qua ISI (tình báo Pakistan) và các tổ chức thánh chiến", bởi vũ khí mà Pakistan cấp cho họ vốn lấy từ viện trợ Mỹ[104], và rằng "có thể cho rằng có tới 35.000 'quân người Ả Rập Afghanistan' ở Pakistan với chi phí ước tính 800 triệu đô la trong những năm tới và kể cả năm 1988." Một số người hưởng lợi lớn nhất của CIA chính là các chỉ huy Ả Rập như Haqqani và Hekmatyar, vốn là đồng minh chủ chốt của Bin Laden trong nhiều năm qua[105][106]. Haqqani là một trong những cộng sự thân cận nhất của bin Laden trong thập niên 1980, đã nhận được các khoản thanh toán trực tiếp từ các đặc vụ CIA, mà không qua trung gian của ISI. Nguồn tài trợ độc lập này đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của al Qaeda, với việc Jalalhuddin Haqqani cho phép bin Laden đào tạo các tình nguyện viên Mujahideen trên lãnh thổ của Haqqani và xây dựng cơ sở hạ tầng rộng lớn ở đó[107].

Trang tin tức News One (Pakistan) cáo buộc Hoa Kỳ đã tài trợ cho Gulbuddin Hekmatyar, một nhà lãnh đạo mujahideen và được cho là kẻ buôn bán heroin, và cũng là đồng minh chặt chẽ với Bin Laden. Hekmaytyar và nhóm bán quân sự của ông ta nhận được hơn 600 triệu đôla từ Hoa Kỳ. Tác giả Alfred McCoy tuyên bố rằng CIA đã hỗ trợ Hekmatyar trong việc buôn bán heroin bất hợp pháp để cho phép anh ta tài trợ cho mujahideen. Giống như Bin Laden, Hekmatyar cũng đã trở thành kẻ thù của Hoa Kỳ, tiến hành một cuộc chiến chống lại lực lượng Hoa Kỳ ở Afghanistan sau năm 2001. CIA cũng đã huấn luyện quân Mujahideen trong nhiều chiến thuật mà Al-Qaeda sử dụng sau này, như xe hơi mang bom, ám sát và các hành động khác mà ngày nay sẽ bị coi là khủng bố[108].

Một bài viết trên tờ The Guardian cho rằng Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã giúp Osama bin Laden xây dựng một trại huấn luyện ngầm tại Khost, nơi bin Laden sử dụng để huấn luyện binh lính Mujahideen.[109]

Trong một bài viết năm 2004 có tên "Nguồn gốc và liên kết của Al-Qaeda", đài BBC (Anh) viết rằng: "Trong cuộc chiến chống Liên Xô, Bin Laden và các chiến binh của ông đã nhận được tài trợ của Mỹ và Ả Rập Saudi. Một số nhà phân tích tin rằng chính Bin Laden đã được đào tạo về an ninh từ CIA".[110]

Robin Cook, Bộ trưởng Ngoại giao Anh từ năm 1997 tới 2001, tin rằng CIA đã cung cấp vũ khí cho người Hồi giáo Ả Rập, bao gồm cả Osama bin Laden, "Tuy nhiên, Bin Laden là sản phẩm của một tính toán sai lầm to lớn của các cơ quan an ninh phương Tây. Thập niên 1980, ông được CIA trang bị vũ khí và được Ả Rập Saudi tài trợ để tiến hành chiến tranh chống lại sự chiếm đóng của người Nga ở Afghanistan". Al-Qaeda, nghĩa đen là "cơ sở dữ liệu", ban đầu là một tập tin máy tính gồm hàng ngàn người Hồi giáo được tuyển dụng và huấn luyện với sự giúp đỡ từ CIA để đánh bại người Nga. Dường như chưa bao giờ Hoa Kỳ ngờ được rằng, một khi người Nga tránh sang một bên, tổ chức của Bin Laden sẽ hướng sự chú ý về phương tây.[111]

Nhà báo người Pakistan Ahmed Rashid thì cáo buộc CIA đã ủng hộ một sáng kiến của ​​ISI (tình báo Pakistan) nhằm tuyển mộ những người Hồi giáo cực đoan từ khắp nơi trên thế giới đến Pakistan và chiến đấu cho quân Mujaheddin của Afghanistan. Từ năm 1982 đến 1992, khoảng 35.000 người Hồi giáo cực đoan từ 43 quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông, Bắc và Đông Phi, Trung Á và Viễn Đông đã tới Afghanistan, trong đó có Bin Laden, khi đó chỉ là một sinh viên trẻ[112]

William Jasper đã viết 1 bài báo năm 1998 về "bin Laden và những kẻ khủng bố do người Mỹ tạo ra" cho tạp chí The New American. (một tạp chí cực hữu và có quan điểm chống chính phủ Hoa Kỳ). Một ký giả khác của tờ tạp chí này là Alex Newman cáo buộc rằng bin Laden đã từng là một "người bạn tốt" của chính phủ Hoa Kỳ, và theo nhiều cách, ông ta thậm chí có thể được coi là một sản phẩm của các quan chức Mỹ và các đồng minh của họ[113]. Theo Alex Newman thì sau cuộc chiến, khi Bin Laden đã chuyển sang hành động khủng bố chống lại Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ và các cơ quan tình báo phương Tây đã tiếp tục giúp đỡ các chiến binh Hồi giáo của bin Laden vào cuối những năm 1990, ngay cả khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton lúc đó đang giả vờ tỏ ra lo ngại về bin Laden bằng cách ném bom một nhà máy dược phẩm ở thủ đô Sudan. Lần này, sự trợ giúp của Mỹ cho các phần tử Hồi giáo cực đoan đã được cung cấp ở Nam Tư cũ thông qua Quân đội Giải phóng Kosovo có liên kết với al-Qaeda. "Nhiều thành viên của Quân đội Giải phóng Kosovo đã được gửi đi huấn luyện tại các trại khủng bố ở Afghanistan" - cựu đại sứ Canada tại Nam Tư, ông James Bissett đã nói với tờ Bưu điện Quốc gia Canada. Rồi sau đó, Hoa Kỳ và NATO đã giúp đỡ Al-Qaeda 1 lần nữa vào năm 2011, khi các lãnh đạo cấp cao của al-Qaeda tiến hành cuộc nổi loạn ở Libya. Chính phủ Hoa Kỳ và NATO đã theo sau, cung cấp hỗ trợ hàng không và vũ khí cho các chiến binh này. Một số nhà lãnh đạo của cuộc nổi dậy đã thừa nhận có liên quan đến al-Qaeda, và Chính phủ Hoa Kỳ cũng thừa nhận điều đó. Alex Newman cho rằng bin Laden và những phần tử Hồi giáo cực đoan rất thích sử dụng mối quan hệ vừa hợp tác vừa thù địch với chính phủ Mỹ, mỗi khi 2 bên có chung 1 kẻ thù thì sự hợp tác lại diễn ra[114].

Trong cuộc trò chuyện với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Anh Michael Portillo, Thủ tướng Pakistan là Benazir Bhutto nói Osama bin Laden ban đầu là người thân Mỹ.[115] Hoàng tử Bandar bin Sultan của Ả Rập Saudi, cũng đã tuyên bố rằng bin Laden từng bày tỏ sự đánh giá cao sự giúp đỡ của Hoa Kỳ ở Afghanistan. Trong chương trình Larry King của CNN, ông nói:[116]

Bandar bin Sultan: Điều này thật mỉa mai. Vào giữa thập niên 80, nếu anh còn nhớ, chúng tôi - Ả Rập Xê Út và Hoa Kỳ đã hỗ trợ Mujahideen giải phóng Afghanistan khỏi Liên Xô. Ông ta [Osama bin Laden] đã đến cảm ơn tôi vì những nỗ lực của tôi để đưa tới người Mỹ, bạn bè của chúng ta, giúp chúng ta chống lại những kẻ vô thần (ám chỉ những người cộng sản). Không phải là mỉa mai sao?

Larry King: Thật mỉa mai. Nói cách khác, ông ta (Bin Laden) đến để cảm ơn ngài vì đã mang nước Mỹ đến giúp đỡ ông ấy.

Bandar bin Sultan: Đúng thế.[117]

Bản thân Osama bin Laden đã hơn một lần phủ nhận việc ông ta từng nhận được sự hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, và việc Liên Xô tan rã theo ông ta "là nhờ có Chúa trời và các chiến binh mujahideen ở Afghanistan... Hoa Kỳ không có vai trò đáng chú ý nào", nhưng "sự sụp đổ [của Liên Xô] đã khiến Mỹ trở nên kiêu căng và ngạo mạn hơn"[118]. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Anh Robert Fisk vào năm 1993, về sau được tổng hợp thành một bài báo đăng lên tờ Independent của Anh với tựa đề: "Anti-Soviet warrior puts his army on the road to peace", Osama bin Laden đã tuyên bố rằng: "Cá nhân tôi cũng như những người anh em của tôi đều không thấy bất cứ dấu hiệu nào về sự giúp đỡ của người Mỹ" [119]. Nhưng theo tờ báo The New American, tác giả Alex Newman đã dẫn lại một cuộc phỏng vấn do các nhà báo Pháp thực hiện năm 1995, trong đó chính bin Laden đã khoe rằng các chiến binh Hồi giáo của mình ở Afghanistan đã được huấn luyện bởi lực lượng Hoa Kỳ:"Tôi đã tạo ra các trại huấn luyện [quân đội] đầu tiên của mình, nơi những tình nguyện viên này trải qua khóa huấn luyện do các sĩ quan Pakistan và Mỹ chỉ đạo", ông nói với một tờ báo Pháp. "Vũ khí được cung cấp bởi người Mỹ... Mục tiêu của chúng tôi là Cách mạng Hồi giáo." [120] Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bí mật vào năm 1995, về sau mới được tiết lộ, nhưng chưa bao giờ được công bố đầy đủ[121] Trong một cuộc phỏng vấn khác với Robert Fisk vào tháng 7 năm 1996 và sau đó được đăng lên báo Independent vào năm 1997, bin Laden lại một lần nữa nhấn mạnh rằng ông ta chưa từng hợp tác với Mỹ: "chúng tôi chưa bao giờ là bạn của người Mỹ. Chúng tôi vào thời điểm đó đã biết rằng người Mỹ ủng hộ người Do TháiPalestine và họ là kẻ thù của chúng tôi [122].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Borer, Douglas A. (1999). Superpowers defeated: Vietnam and Afghanistan compared. Luân Đôn: Cass. tr. 216. ISBN 0-7146-4851-5. 
  2. ^ Max Boot (2013). “Chapter 59. Russia's Vietnam: The Red Army vs. the Mujahideen, 1980–1989”. Invisible Armies: An Epic History of Guerrilla Warfare from Ancient Times to the Present (PDF). Liveright. tr. 448–460. ISBN 978-0-87140-350-6. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ Crossette, Barbara (ngày 7 tháng 3 năm 1989). “India to Provide Aid to Government in Afghanistan”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h Goodson, P. L. Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics, and the Rise of... tr. 147, 165. 
  5. ^ Barlett, Donald L.; Steele, James B. (13 tháng 5 năm 2003). “The Oily Americans”. Time. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2008. 
  6. ^ a ă “Interview with Dr. Zbigniew Brzezinski-(13/6/97).”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  7. ^ a ă â Cornwell, Rupert (13 tháng 2 năm 2010). “Charlie Wilson: Congressman whose support for the mujahideen helped force the Soviet Union out of Afghanistan”. The Independent (Luân Đôn). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  8. ^ "Reagan Doctrine, 1985," United States State Department”. State.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  9. ^ Interview with Dr. Zbigniew Brzezinski – (ngày 13 tháng 6 năm 1997). Part 2. Episode 17. Good Guys, Bad Guys. ngày 13 tháng 6 năm 1997.
  10. ^ Corera, Gordon (2011). MI6: Life and Death in the British Secret Service. Luân Đôn: Phoenix. ISBN 978-0-7538-2833-5. 
  11. ^ Shichor. pp157–158. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  12. ^ Crile, George (2003). Charlie Wilson's War: The Extraordinary Story of the Largest Covert Operation in History. Atlantic Monthly Press. ISBN 0-87113-854-9. 
  13. ^ “Ả Rập Xê Út and the Future of Afghanistan”. Council on Foreign Relations. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  14. ^ Renz, Michael (ngày 6 tháng 10 năm 2012). “Operation Sommerregen” (bằng tiếng Đức) (40). Die Welt. Die Welt. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  15. ^ Nyrop, Richard F.; Donald M. Seekins (tháng 1 năm 1986). Afghanistan: A Country Study (PDF). Washington, DC: United States Government Printing Office. tr. XVIII–XXV. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2001. 
  16. ^ Mark N. Katz (ngày 9 tháng 3 năm 2011). “Middle East Policy Council | Lessons of the Soviet Withdrawal from Afghanistan”. Mepc.org. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. 
  17. ^ Maxime Rischard. “Al Qa'ida's American Connection”. Global-Politics.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. 
  18. ^ “Soviet or the USA the strongest” (bằng tiếng Na Uy). Translate.google.no. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. 
  19. ^ “Afghanistan hits Soviet milestone – Army News”. Armytimes.com. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2012. [liên kết hỏng]
  20. ^ a ă â b The Soviet-Afghan War: Breaking the Hammer & Sickle by Lester W. Grau and Ali Ahmad Jalali| vfw.org
  21. ^ “Russian soldier missing in Afghanistan for 33 years is FOUND living as nomadic sheikh in remote Afghan province”. Dailymail. Ngày 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015. 
  22. ^ David C. Isby (ngày 15 tháng 6 năm 1986). Russia's War in Afghanistan. Books.google.es. ISBN 978-0-85045-691-2. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2012. 
  23. ^ Antonio Giustozzi (2000). War, politics and society in Afghanistan, 1978–1992. Hurst. ISBN 1-85065-396-8. A tentative estimate for total mujahideen losses in 1980-02 may be in the 150–180,000 range, with maybe half of them killed. 
  24. ^ Markovskiy, Victor (1997). "Жаркое небо Афганистана: Часть IX" [Hot Sky of Afghanistan: Part IX]. Авиация и время [Aviation and Time] (in Russian) p.28
  25. ^ “Soviet Air-to-Air Victories of the Cold War”. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  26. ^ Noor Ahmad Khalidi, "Afghanistan: Demographic Consequences of War: 1978–87," Central Asian Survey, vol. 10, no. 3, pp. 101–126, 1991.
  27. ^ a ă Marek Sliwinski, "Afghanistan: The Decimation of a People," Orbis (Winter, 1989), p.39.
  28. ^ Hilali, A. (2005). US–Pakistan relationship: Soviet Intervention in Afghanistan. Burlington, VT: Ashgate Publishing Co. (p.198)
  29. ^ Noor Ahmad Khalidi, "Afghanistan: Demographic Consequences of War: 1978-87," Central Asian Survey, vol. 10, no. 3, pp. 101–126, 1991.
  30. ^ Yousaf, Mohammad & Adkin, Mark (1992). Afghanistan, the bear trap: the defeat of a superpower. Casemate. tr. 159. ISBN 0-ngày 94 tháng 2 năm 1709 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  31. ^ Richard Cohen (ngày 22 tháng 4 năm 1988). “The Soviets' Vietnam”. Washington Post. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  32. ^ “Afghanistan was Soviets' Vietnam”. Boca Raton News. Ngày 24 tháng 4 năm 1988. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  33. ^ Valenta, Jiri (1980). "From Prague to Kabul: The Soviet Style of Invasion". 
  34. ^ Goldman, Minton (1984). Soviet Military Intervention in Afghanistan: Roots & Causes. 
  35. ^ Gibbs, David (1987). Does the USSR Have a 'Grand Strategy'? Reinterpreting the Invasion of Afghanistan. 
  36. ^ Pakistan's Support of Afghan Islamists, 1975-79 - Library of congress country studies(Truy cập 4 tháng 2 năm 2007)
  37. ^ Bennett Andrew(1999); A bitter harvest: Soviet intervention in Afghanistan and its effects on Afghan political movements(Truy cập 4 tháng 2 năm 2007)
  38. ^ The April 1978 Coup d'etat and the Democratic Republic of Afghanistan - Library of congress country studies(Truy cập 4 tháng 2 năm 2007)
  39. ^ Goodson, Larry P.(2001); Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics, and the Rise of the Taliban; University of Washington Press; ISBN-13 978-0295980508; p. 56
  40. ^ Ismail Khan, Herat, and Iranian Influence by Thomas H. Johnson, Strategic Insights, Volume III, Issue 7 (July 2004)
  41. ^ Goodson; p.57
  42. ^ “How Jimmy Carter and I Started the Mujahideen (Interview of Zbigniew Brzezinski)”. Le Nouvel Observateur. ngày 21 tháng 1 năm 1998. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  43. ^ Riedel, Bruce (2014). What We Won: America's Secret War in Afghanistan, 1979–1989. Brookings Institution Press. Trang ix-xi, 21-22, 93, 98-99, 105. ISBN 978-0815725954.
  44. ^ [Kepel, Gilles (2006). Jihad: The Trail of Political Islam. IB Tauris. Trang 138-139, 142-144. ISBN 9781845112578.]
  45. ^ Walker, Martin (1994). The Cold War - A History. Toronto, Canada: Stoddart. 
  46. ^ a ă â b c Tổng thống Afghanistan – Hafizullah Amin đã chết như thế nào?, Hồng Thất Công, PetroTimes, 05/04/2012
  47. ^ ДО ШТУРМА ДВОРЦА АМИНА, Генерал-майор Василий Заплатин, 21-12-99
  48. ^ The Soviet Invasion of Afghanistan in 1979: Failure of Intelligence or of the Policy Process? - Page 7
  49. ^ Fisk, Robert. The Great War for Civilisation: the Conquest of the Middle East. Luân Đôn: Alfred Knopf, 2005. pp. 40-41 ISBN 1-84115-007-X
  50. ^ Carey Schofield, The Russian Elite, Greenhill/Stackpole, 1993, p.60-61
  51. ^ “A/ES-6/2 The situation in Afghanistan and its implications for international peace and security”. United Nations. ngày 14 tháng 1 năm 1980. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  52. ^ “Russian Political Maneuvers & Hypocrisies in Afghanistan”. Jamiat-e-Islami Afghanistan. September 1981. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  53. ^ Ceausescu condemned the Soviet intervention in Czechoslovakia in 1968 and invasion of Afghanistan in 1979.
  54. ^ “How the CIA created Osama bin Laden”. Green Left Weekly. ngày 19 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  55. ^ “1986-1992: CIA and British Recruit and Train Militants Worldwide to Help Fight Afghan War”. Cooperative Research History Commons. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007. 
  56. ^ Hammerich, Helmut (2010). Die Grenzen des Militärischen. Berlin: Hartmann, Miles-Verl. tr. 195. ISBN 9783937885308. 
  57. ^ Alan J. Kuperman. “The Stinger missile and U.S. intervention in Afghanistan” (PDF). Political Science Quarterly 114 (Summer 1999): 219. 
  58. ^ Kuperman, Alan J. (January–February 2002). “Stinging Rebukes”. Foreign Affairs. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  59. ^ Steele, Jonathan (2010). “Afghan Ghosts: American Myths”. World affairs journal. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  60. ^ Amnesty International file on Afghanistan URL Truy cập 22 tháng 3 năm 2006
  61. ^ https://consortiumnews.com/2013/04/07/hollywoods-dangerous-afghan-illusion/
  62. ^ Krivosheev, G. F. (1993). Combat Losses and Casualties in the Twentieth Century. Luân Đôn, England: Greenhill Books. 
  63. ^ Kaplan 2008, tr. 11.
  64. ^ Noor Ahmad Khalidi, "Afghanistan: Demographic Consequences of War, 1978–1987", Central Asian Survey, Vol. 10, No. 3 (1991), p. 106.
  65. ^ Ewans, Conflict in Afghanistan, p. 151; Marek Sliwinski, "Afghanistan: Decimation of a People", Orbis, Vol. 33, No. 1 (1989), pp. 39–56
  66. ^ M. Siddieq Noorzoy, "Some Observations on an Assessment of the Population in Afghanistan", Journal of the Writers Union of Free Afghanistan, Vol. 3, No. 3 (1988), pp. 6–14.
  67. ^ Khan, Imtiyaz Gul. “Afghanistan: Human Cost of Armed Conflict since the Soviet Invasion” (PDF). Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017. 
  68. ^ Kaplan, Robert D. (24 tháng 12 năm 2008). Soldiers of God: With Islamic Warriors in Afghanistan and Pakistan. Knopf Doubleday Publishing Group. ISBN 9780307546982. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2019 – qua Google Books. 
  69. ^ Peter Tomsen (2013). The Wars of Afghanistan: Messianic Terrorism, Tribal Conflicts, and the Failures of Great Powers. PublicAffairs. tr. 11. ISBN 978-1-61039-412-3. 
  70. ^ Kaplan 2008, tr. 188.
  71. ^ Pear, Robert (14 tháng 8 năm 1988). “Mines Put Afghans in Peril on Return”. New York Times. tr. 9. 
  72. ^ “Reversing the gun sights: transnational civil society targets land mines”. International Organization. 22 tháng 6 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  73. ^ a ă Totten, Samuel; Bartrop, Paul R. (2008). Dictionary of Genocide: A-L. ABC-CLIO. tr. 64. ISBN 0313346429. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2017. 
  74. ^ Reisman, W. Michael; Norchi, Charles H. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. W. Michael Reisman is Hohfeld Professor of Jurisprudence at Yale Law School and a member of the Independent Counsel on International Human Rights. 
  75. ^ Reisman, W. Michael; Norchi, Charles. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. Charles Norchi, a Visiting Scholar at Yale Law School, directed the Independent Counsel on International Human Rights (with the Committee for a Free Afghanistan). 
  76. ^ a ă Kakar, Mohammed. The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. The Afghans are among the latest victims of genocide by a superpower. Large numbers of Afghans were killed to suppress resistance to the army of the Soviet Union, which wished to vindicate its client regime and realize its goal in Afghanistan. 
  77. ^ a ă Reisman, W. Michael; Norchi, Charles H. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. According to widely reported accounts, substantial programmes of depopulation have been conducted in these Afghan provinces: Ghazni, Nagarhar, Lagham, Qandahar, Zabul, Badakhshan, Lowgar, Paktia, Paktika and Kunar...There is considerable evidence that genocide has been committed against the Afghan people by the combined forces of the Democratic Republic of Afghanistan and the Soviet Union. 
  78. ^ Klass, Rosanne (1994). The Widening Circle of Genocide. Transaction Publishers. tr. 129. ISBN 978-1-4128-3965-5. During the intervening fourteen years of Communist rule, an estimated 1.5 to 2 million Afghan civilians were killed by Soviet forces and their proxies- the four Communist regimes in Kabul, and the East Germans, Bulgarians, Czechs, Cubans, Palestinians, Indians and others who assisted them. These were not battle casualties or the unavoidable civilian victims of warfare. Soviet and local Communist forces seldom attacked the scattered guerrilla bands of the Afghan Resistance except, in a few strategic locales like the Panjsher valley. Instead they deliberately targeted the civilian population, primarily in the rural areas. 
  79. ^ Goodson, Larry P. (2001). Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics, and the Rise of the Taliban. University of Washington Press. tr. 5. ISBN 978-0-295-98050-8. 
  80. ^ a ă â Kakar, Mohammed. The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. Incidents of the mass killing of noncombatant civilians were observed in the summer of 1980...the Soviets felt it necessary to suppress defenseless civilians by killing them indiscriminately, by compelling them to flee abroad, and by destroying their crops and means of irrigation, the basis of their livelihood. The dropping of booby traps from the air, the planting of mines, and the use of chemical substances, though not on a wide scale, were also meant to serve the same purpose...they undertook military operations in an effort to ensure speedy submission: hence the wide use of aerial weapons, in particular helicopter gunships or the kind of inaccurate weapons that cannot discriminate between combatants and noncombatants. 
  81. ^ https://books.google.com.vn/books?id=noBmDwAAQBAJ&pg=PA138&lpg=PA138&dq=%5D+widespread+corruption+and+smuggling+of+army+equipment+for+trade+in+drugs+and+goods+was+permitted.+And+looting+among+the+Afghan+population,+killing+of+non-combatants,+punitive+attacks+on+villages,+as+well+as+torture+of+prisoners+of+war+was+often+permitted+and+even+encouraged+by+officers&source=bl&ots=JfVvYb_cMs&sig=ACfU3U22NlbauSmpA2oc_S9B13nCbBGSpA&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwjp7trtzqfiAhXNdHAKHcPVDrwQ6AEwAHoECAgQAQ#v=onepage&q=%5D%20widespread%20corruption%20and%20smuggling%20of%20army%20equipment%20for%20trade%20in%20drugs%20and%20goods%20was%20permitted.%20And%20looting%20among%20the%20Afghan%20population%2C%20killing%20of%20non-combatants%2C%20punitive%20attacks%20on%20villages%2C%20as%20well%20as%20torture%20of%20prisoners%20of%20war%20was%20often%20permitted%20and%20even%20encouraged%20by%20officers&f=false
  82. ^ Valery Abramov, ‘We Should Tell the Whole Truth about This War’, Moscow News (weekly) 3 (1989), p. 9.
  83. ^ A. Alexiev, Inside the Soviet Army—Afghanistan, Report no. 3627 (The Rand Corporation, 1988), p. 58.
  84. ^ Svetlana Aleksievich, ‘Don’t Say You Have Been in that War’, International Affairs (1990), p. 133.
  85. ^ https://www.reuters.com/article/us-afghan-minister/afghanistan-to-punish-war-criminals-rejects-amnesty-idUSSP303020070220
  86. ^ Kakar, M. Hassan (1995). The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. While military operations in the country were going on, women were abducted. While flying in the country in search of mujahideen, helicopters would land in fields where women were spotted. While Afghan women do mainly domestic chores, they also work in fields assisting their husbands or performing tasks by themselves. The women were now exposed to the Russians, who kidnapped them with helicopters. By November 1980 a number of such incidents had taken place in various parts of the country, including Laghman and Kama. In the city of Kabul, too, the Russians kidnapped women, taking them away in tanks and other vehicles, especially after dark. Such incidents happened mainly in the areas of Darul Aman and Khair Khana, near the Soviet garrisons. At times such acts were committed even during the day. KhAD agents also did the same. Small groups of them would pick up young women in the streets, apparently to question them but in reality to satisfy their lust: in the name of security, they had the power to commit excesses. 
  87. ^ The War Chronicles: From Flintlocks to Machine Guns. Fair Winds. tr. 393. ISBN 9781616734046. A final weapon of terror the Soviets used against the mujahideen was the abduction of Afghan women. Soldiers flying in helicopters would scan for women working in the fields in the absence of their men, land, and take the women captive. Russian soldiers in the city of Kabul would also steal young women. The object was rape, although sometimes the women were killed, as well. The women who returned home were often considered dishonored for life. 
  88. ^ Sciolino, Elaine (3 tháng 8 năm 1984). “4 Soviet Deserters Tell Of Cruel Afghanistan War”. The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017. 'I can't hide the fact that women and children have been killed,' Nikolay Movchan, 20, a Ukrainian who was a sergeant and headed a grenade-launching team, said in an interview later. 'And I've heard of Afghan women being raped.' 
  89. ^ Report from Afghanistan Claude Malhuret
  90. ^ Schwartzstein, Stuart j. d. (Winter 1982–83). “Chemical Warfare in Afghanistan: An Independent Assessment”. World Affairs. JSTOR 20671950. 
  91. ^ The Story of Genocide in Afghanistan Hassan Kakar
  92. ^ a ă “Use of toxins and other lethal agents in Southeast Asia and Afghanistan” (PDF). CIA. 2 tháng 2 năm 1982. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “:0” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  93. ^ Background notes: Afghanistan published by Bureau of Public Affair, U.S. Department of State.
  94. ^ https://consortiumnews.com/2013/04/07/hollywoods-dangerous-afghan-illusion/
  95. ^ Did the U.S. "Create" Osama bin Laden?([[ngày 14 tháng 1 năm 2005]])”. US Department of State. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2007.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  96. ^ a ă Sageman M (2004). Understanding Terror Networks. Philadelphia: University of Pennsylvania Press. tr. 57–8. ISBN 9780812238082. 
  97. ^ Coll S (2004). Ghost Wars: The Secret History of the CIA, Afghanistan, and Bin Laden, from the Soviet Invasion to September 10, 2001. Penguin Group. tr. 87. ISBN 9781594200076. 
  98. ^ Beinart P (2001). “Back To Front”. The New Republic. 
  99. ^ Miniter R (2003). “Dispelling the CIA-Bin Laden Myth”. International. Fox News. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  100. ^ https://www.globalsecurity.org/intell/ops/afghanistan.htm
  101. ^ https://www.globalsecurity.org/intell/ops/afghanistan.htm
  102. ^ https://www.globalsecurity.org/intell/ops/afghanistan.htm
  103. ^ Ewans, Martin (1 tháng 12 năm 2004). “Conflict in Afghanistan: Studies in Asymetric Warfare”. Routledge. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018 – qua Google Books. 
  104. ^ Anand Gopal, et al, "Taliban in North Waziristan" in Talibanistan: Negotiating the Borders Between Terror, Politics, and Religion, Peter Bergen, Katherine Tiedemann eds, p.132-142
  105. ^ “The Haqqani History: Bin Ladin's Advocate Inside the Taliban”. nsarchive.gwu.edu. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018. 
  106. ^ Cassman, Daniel. “Haqqani Network - Mapping Militant Organizations”. web.stanford.edu. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018. 
  107. ^ https://newsone.com/1205745/cia-osama-bin-laden-al-qaeda/
  108. ^ Harding L (2000). “Bin Laden: the question facing the next US president”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  109. ^ “Al-Qaeda's origins and links”. BBC News. 2004. 
  110. ^ Cook R (2005). “The struggle against terrorism cannot be won by military means”. The Guardian (London: Guardian Unlimited). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2005. 
  111. ^ https://publicintegrity.org/accountability/osama-bin-laden-how-the-u-s-helped-midwife-a-terrorist/
  112. ^ https://www.thenewamerican.com/culture/history/item/4708-bin-laden--al-qaeda-us-govt-creations
  113. ^ https://www.thenewamerican.com/culture/history/item/4708-bin-laden--al-qaeda-us-govt-creations
  114. ^ Bhutto B (20 tháng 3 năm 2003). Dinner with Portillo. BBC Four. 
  115. ^ King L (1 tháng 10 năm 2001). “America's New War: Responding to Terrorism”. Larry King Live. CNN Transcripts. CNN. 
  116. ^ “Bin Laden comes home to roost”. BBC News. 
  117. ^ Messages to the World, 2006, p.50. (March 1997 interview with Peter Arnett
  118. ^ Fisk, Robert (6 tháng 12 năm 1993). “Anti-Soviet warrior puts his army on the road to peace”. The Independent. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. 
  119. ^ https://www.thenewamerican.com/culture/history/item/4708-bin-laden--al-qaeda-us-govt-creations
  120. ^ https://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/shows/binladen/who/edicts.html
  121. ^ The World According to Al Qaeda - Brad K. Berner - page 3

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất bản phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông và Văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]