Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia
Eesti Nõukogude Sotsialistlik Vabariik
tiếng Nga: Эстонская Советская Социалистическая Республика

1940–1941
1944–1991

Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
"Kõigi maade proletaarlased, ühinege!"
(tiếng Anh: "Workers of the world, unite!")
Quốc ca
"Jää kestma, Kalevite kange rahvas"
(tiếng Anh: "Endure, heroic people of Kalevs")
Thủ đô Tallinn
Ngôn ngữ Nga, Estonia
Chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
 •  1983–1991 Arnold Rüütel
Lịch sử
 •  Thành lập 21 tháng 7, 1940
 •  Bãi bỏ 20 tháng 8, 1991
Diện tích
 •  1991 45.227 km² (17.462 sq mi)
Dân số
 •  1991 (ước tính) 1.565.662 
      Mật độ 34,6 /km²  (89,7 /sq mi)
Tiền tệ Ruble (SUR)
(tiếng Estonia: rubla)
Internet TLD .su
Calling code +7
1Chính thức ở Liên Xô
247,549 km² were defined according to the Treaty of Tartu in 1920 between EstoniaNga. The ceded areas include the Petseri County and the boundary in the north of Lake Peipus as well as the lands behind the city of Narva including Ivangorod (Jaanilinn).[1]

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia (Tiếng Estonia: Eesti Nõukogude Sotsialistlik Vabariik; Tiếng Nga: Эстонская Советская Социалистическая Республика, Estonskaya Sovetskaya Sotsalisticheskaya Respublika) từng là một cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết.[2][3] CHXHCNXV Estonia ban đầu được thành lập trên lãnh thổ của Cộng hòa Estonia trước đây vào ngày 21 tháng 7 năm 1940, sau khi quân đội Liên Xô tiến vào nước này vào ngày 17 tháng 6 năm 1940 và lập nên một chính phủ được Liên Xô ủng hộ, và sau đó tuyên bố Estonia trở thành một nhà nước Xô viết. CHXHCNXV Estonia sau đó sáp nhập vào Liên Xô vào ngày 9 tháng 8 năm 1940.[4][5] Sau đó lãnh thổ này bị Đức Quốc xã xâm chiếm từ 1941 đến 1944.

Hầu hết các nước phương Tây không công nhận sự sáp nhập Estonia vào Liên Xô và chỉ công nhận chính quyền Xô viết của cộng hòa một cách không chính thức hoặc không công nhận tất cả.[6][7][8] Một số nước trong số này tiếp tục công nhận các nhà ngoại giao và lãnh sự Estonia với đầy đủ trách nhiệm theo tên của chính phủ cộng hòa trước năm 1940.[9] Do chính sách không công nhận này nên về lý thuyết, phương Tây coi Estonia vẫn là một quốc gia độc lập nằm dưới sự chiếm đóng bất hợp pháp trong thời kỳ 1940-1991.[10] Cộng hòa Estonia tái lập nền độc lập vào ngày 20 tháng 8 năm 1991.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ See Soviet territorial changes against Estonia after World War II
  2. ^ Hough, Jerry F (1997). Democratization and revolution in the USSR, 1985-1991. Brookings Institution Press. ISBN 0815737491. 
  3. ^ “Republic, definition 3”. Merriam-Webster Online Dictionary. Merriam-Webster Online. 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  4. ^ The Baltic States: Estonia, Latvia and Lithuania (Postcommunist States and Nations) David J. Smith from Front Matter ISBN 0-415-28580-1
  5. ^ Estonia: Identity and Independence: Jean-Jacques Subrenat, David Cousins, Alexander Harding, Richard C. Waterhouse on Page 246. ISBN 90-420-0890-3
  6. ^ Hiden, John; Vahur Made, David J. Smith (2008). The Baltic question during the Cold War. Routledge. tr. 209. ISBN 0415371007. 
  7. ^ Talmon, Stefan (2001). Recognition of Governments in International Law. Oxford University Press. tr. 103. ISBN 9780198265733. 
  8. ^ Aust, Anthony (2005). Handbook of International Law. Cambridge University Press,. tr. 26. ISBN 0521823498. 
  9. ^ Diplomats Without a Country: Baltic Diplomacy, International Law, and the Cold War by James T. McHugh, James S. Pacy, Page 2. ISBN 0-313-31878-6
  10. ^ David James Smith, Estonia: independence and European integration, Routledge, 2001, ISBN 0-415-26728-5, pXIX