Leonid Ilyich Brezhnev

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Leonid Brezhnev
Леонид Брежнев
Leonid Brežněv (Bundesarchiv).jpg
Brezhnev tại Đông Berlin năm 1967
Chức vụ
Nhiệm kỳ 14/10/1964 – 10/11/1982
Tiền nhiệm Nikita Khrushchev
Kế nhiệm Yuri Andropov
Nhiệm kỳ 16/6/1977 – 10/11/1982
Tiền nhiệm Nikolai Podgorny
Kế nhiệm Yuri Andropov
Tiền nhiệm Kliment Voroshilov
Kế nhiệm Anastas Mikoyan
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Liên Xô
Sinh 19 tháng 12, 1906(1906-12-19)
Kamenskoye, Guberniya Yekaterinoslav, Đế quốc Nga
Mất 10 tháng 11, 1982 (75 tuổi)
Zarechye, gần Moskva, Nga Xô, Liên Xô
Nơi ở Zarechye, gần Moskva
Con cái Galina Brezhneva
Yuri Brezhnev
Chữ ký Leonid Brezhnev Signature.svg
Binh nghiệp
Phục vụ Liên Xô
Thuộc Hồng quân
Lục quân Xô viết
Năm tại ngũ 1941–1982
Cấp bậc Nguyên soái Liên bang Xô viết
(1976–1982)
Chỉ huy Lực lượng vũ trang Xô viết
Tham chiến Thế chiến 2
Danh hiệu Anh hùng Liên Xô Anh hùng Liên Xô Anh hùng Liên Xô Anh hùng Liên Xô Hero of Socialist Labor medal.png
(Danh sách đầy đủ Huân huy chương)


Leonid Ilyich Brezhnev (tiếng Nga: , (1906-1982) là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, và vì thế là lãnh đạo chính trị của Liên bang Xô viết, từ năm 1964 đến năm 1982, giữ chức vụ này trong thời gian lâu nhất, chỉ sau Joseph Stalin. Ông từng hai lần giữ chức Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao (lãnh đạo nhà nước), từ ngày 7 tháng 5 năm 1960 đến 15 tháng 7 năm 1964, sau đó từ 16 tháng 6 năm 1977 tới khi qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1982.

Lên nắm quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Brezhnev sinh ngày 19 tháng 12[1] năm 1906 tại Kamenskoe (Dniprodzerzhynsk hiện nay) tại Ukraina, con của Ilya Yakovlevich Brezhnev và vợ ông là Natalia Denisovna.[cần dẫn nguồn] Giống như nhiều thanh niên khác trong những năm sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917, ông được giáo dục dạy nghề, ban đầu là quản lý đất đai nơi ông khởi đầu như một người điều tra đất đai và sau đó trong ngành luyện kim. Ông tốt nghiệp Trường kỹ thuật (те́хникум) Luyện kim Dniprodzerzhynsk và trở thành một kỹ sư luyện kim trong ngành công nghiệp sắt thép ở phía đông Ukraina. Ông gia nhập tổ chức Đoàn thanh niên Komsomol vào năm 1923 và vào Đảng năm 1931.[2] Ở những thời điểm khác nhau ông sẽ tự miêu tả mình là một người Ukraina, hay sau này, khi trải qua các chức vụ trong Đảng, là người Nga.[3] Sau này, trong thời cầm quyền của ông đã có một tiến trình Nga hóa tại Belarus, Ukraina, và Moldavia[4]: tỷ lệ trẻ em được dạy ngôn ngữ mẹ đẻ trong các quốc gia của chúng giảm sút[5], truyền thông bằng tiếng địa phương bị hạn chế và những người theo "chủ nghĩa quốc gia" bị bỏ tù.

Giai đoạn 1935-36, Brezhnev thực hiện nghĩa vụ quân sự, và sau khi trải qua các khoá học tại một trường xe tăng, ông làm chính ủy tại một nhà máy xe tăng. Sau này, vào năm 1936, ông trở thành hiệu trưởng Trường kỹ thuật Luyện kim Dniprodzerzhynsk, nơi ông từng là học viên, và vào năm 1939, trở thành Bí thư Thành ủy Dnipropetrovsk, chịu trách nhiệm về các ngành công nghiệp quốc phòng quan trọng của thành phố này.

Brezhnev thuộc thế hệ những người Cộng sản Liên Xô đầu tiên không có ký ức về nước Nga trước cuộc cách mạng, và từng quá trẻ để tham gia vào các cuộc đấu tranh trong giới lãnh đạo Đảng sau cái chết của Lenin năm 1924. Thời điểm Brezhnev vào Đảng, Joseph Stalin là lãnh tụ không thể bị tranh cãi. Những người sống sót sau cuộc Đại thanh trừng của Stalin giai đoạn 1937-39 có thể được thăng tiến nhanh chóng, bởi cuộc thanh trừng để lại nhiều chức vụ trống ở các tầng lớp lãnh đạo cao trong Đảng và Nhà nước.

Chính ủy Lữ đoàn Brezhnev trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại

Tháng 6 năm 1941, Phát xít Đức xâm lược Liên Xô và, như hầu hết các quan chức hạng trung trong Đảng, Brezhnev ngay lập tức đăng ký vào quân đội. Ông làm việc để sơ tán các ngành công nghiệp tại Dnipropetrovsk về phía đông Liên Xô trước khi thành phố rơi vào tay quân Đức ngày 26 tháng 8, sau đó ông hoạt động như một chính ủy. Tháng 10, Brezhnev được bổ nhiệm làm Ủy viên Hội đồng quân sự phụ trách chính trị (tương đương Chính ủy Phương diện quân) cho Phương diện quân Nam, với cấp bậc Chính ủy Lữ đoàn.

Năm 1942, khi Ukraina bị quân Đức chiếm, Brezhnev được gửi tới Kavkaz làm Ủy viên Hội đồng quân sự phụ trách chính trị Phương diện quân Ngoại Kavkaz. Cấp bậc của ông cũng được chuyển thành Đại tá. Tháng 4 năm 1943, ông trở thành Chính ủy Tập đoàn quân 18 với cấp bậc Thiếu tướng. Cuối năm ấy, Tập đoàn quân được phiên chế cho Phương diện quân Ukraina 1, khi Hồng Quân giành lại thế chủ động và tiến về phía tây qua Ukraina. Ủy viên Hội đồng quân sự phụ trách chính trị của Phương diện quân là Nikita Khrushchev, người về sau trở thành người đỡ đầu chính cho sự nghiệp của Brezhnev. Vào cuối cuộc chiến ở châu Âu, Brezhnev là Ủy viên Hội đồng quân sự phụ trách chính trị của Phương diện quân Ukraina 4 tiến vào Praha sau khi Đức đầu hàng.

Tháng 8 năm 1946, Brezhnev rời Hồng quân với cấp bậc Thiếu tướng. Trong toàn bộ cuộc chiến ông luôn làm Chính ủy chứ không phải là một chỉ huy quân sự. Sau khi làm việc tại các dự án tái thiết ở Ukraina ông một lần nữa trở thành Bí thư thứ nhất tại Dnipropetrovsk. Năm 1950, ông trở thành Phó chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô, cơ quan lập pháp cao nhất nước. Cuối năm ấy ông được chỉ định làm Bí thư thứ nhất của Đảng tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, đã bị thôn tính từ România[cần dẫn nguồn] và đang được sáp nhập vào Liên Xô. Năm 1952, ông trở thành một thành viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản và được giới thiệu như một ứng cử viên vào Đoàn chủ tịch (trước kia là Bộ chính trị).

Quan hệ Brezhnev và Khrushchev[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng Cộng sản
Liên Xô

КПСС.svg

Lịch sử Đảng

Tổ chức Đảng
Đại hội
Ủy ban Trung ương
Bộ Chính trị
Ban Bí thư
Ban tổ chức
Ủy ban Kiểm soát
Ủy ban Kiểm tra TW Đảng

Lãnh tụ
V. I. LeninI. V. Stalin
G. M. MalenkovN. K. Khrushchyov
L. I. BrezhnevYu. V. Andropov
K. U. ChernenkoM. S. Gorbachyov

Báo Sự thật
Đoàn Thanh niên Cộng sản

Cổng tri thức: Chủ nghĩa cộng sản

Brezhnev gặp Nikita Khrushchev năm 1931, một thời gian ngắn sau khi vào Đảng. Ông trở thành người được Khrushchev bảo trợ và tiếp tục thăng tiến của các cấp bậc lãnh đạo. Ông là Bí thư thứ nhất của Đảng tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia từ ngày 3 tháng 11 năm 1950 tới 16 tháng 4 năm 1952. Với tư cách Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Moldavia, Brezhnev loại trừ và trục xuất hàng nghìn người sắc tộc Romania khỏi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia và thực hiện việc tập thể hóa bắt buộc. Trong thời Brezhnev ở đây, ông chịu trách nhiệm việc chuyển 25 vạn người khỏi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia tới các vùng khác của Liên Xô.

Stalin chết tháng 3 năm 1953, và trong tiến trình tái tổ chức sau khi Đoàn chủ tịch bị xoá bỏ và một Bộ chính trị nhỏ hơn được tái lập. Dù Brezhnev không được làm một thành viên Bộ chính trị, ông được chỉ định làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Hồng quân và Hải quân với cấp bậc Trung tướng, một chức vụ rất cao cấp. Đây có lẽ bởi quyền lực mới của người đỡ đầu cho ông Khrushchev, đã thành công trong việc lên thay thế Stalin trở thành Tổng bí thư Đảng. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, ông trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakh, cũng là một chức vụ quan trọng.

Tháng 2 năm 1956, Brezhnev được gọi về Moskva, đưa lên làm Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị và chịu trách nhiệm kiểm soát ngành công nghiệp quốc phòng, chương trình không gian, công nghiệp nặng, và xây dựng thủ đô. Khi ấy ông là một thành viên cao cấp trong bộ máy của Khrushchev, và vào tháng 6 năm 1957, ông ủng hộ Khrushchev trong cuộc đấu tranh của ông này với nhóm thân Stalin trong giới lãnh đạo đảng, cái gọi là "Nhóm Chống Đảng" do Vyacheslav Molotov, Georgy Malenkov, Lazar Kaganovich cũng như Dmitri Shepilov đứng đầu. Sau khi đánh bại nhóm đảng viên già, Brezhnev trở thành một Ủy viên chính thức của Bộ chính trị. Tháng 5 năm 1960, ông được bầu làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao, khiến ông được chỉ định làm nguyên thủ quốc gia dù quyền lực thực tế nằm trong tay Khrushchev với tư cách Tổng bí thư.

Cho tới tận khoảng năm 1962, chức vụ của Khrushchev là lãnh đạo Đảng vẫn vững chắc, nhưng khi già thêm ông trở nên thất thường và cách lãnh đạo của ông khiến ông mất lòng tin trong giới lãnh đạo. Các vấn đề kinh tế ngày càng nghiêm trọng của Liên Xô cũng làm gia tăng sức ép lên chức vụ lãnh đạo của Khrushchev. Bề ngoài, Brezhnev vẫn hoàn toàn trung thành với Khrushchev, nhưng, vào năm 1963, ông tham gia vào một âm mưu loại bỏ Khrushchev, có lẽ theo một số nguồn tin chính là người tổ chức âm mưu, như lời kể của Gennadii Voronov[6]. Alexey Kosygin, Nikolay Podgorny, Alexander Shelepin và một số quan chức cao cấp khác cũng tham dự vào kế hoạch. Năm ấy Brezhnev kế vị Frol Kozlov, một người được đỡ đầu khác của Khrushchev, làm Bí thư thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, khiến ông trở thành người có khả năng kế vị Khrushchev.

Ngày 14 tháng 10 năm 1964, khi Khrushchev đang đi nghỉ, những người âm mưu hành động. Brezhnev và Podgorny triệu tập Bộ chính trị, lên án Khrushchev về những sai lầm trong kinh tế, buộc tội ông là người duy ý chí và có cách cư xử không đúng đắn. Bị ảnh hưởng bởi đồng minh của Brezhnev, các Ủy viên Bộ chính trị bỏ phiếu loại bỏ Khrushchev. Brezhnev được chỉ định làm Bí thư thứ nhất của Đảng; Aleksey Kosygin được chỉ định làm Thủ tướng, và Anastas Mikoyan trở thành lãnh đạo nhà nước (Năm 1965 Mikoyan nghỉ hưu và được thay thế bởi Podgorny).

Lãnh đạo Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Richard Nixon và Brezhnev gặp gỡ tại Nhà Trắng, 19 tháng 6 năm 1973
Gerald Ford và Brezhnev gặp gỡ tại Vladivostok, tháng 11 năm 1974

Trong những năm Khrushchev nắm quyền, Brezhnev đã ủng hộ việc lên án cầm quyền độc đoán của Stalin, việc hồi phục cho nhiều nạn nhân của những cuộc thanh trừng, và sự tự do hóa một cách thận trọng dành cho tới trí thức Liên Xô và chính sách văn hóa của Khrushchev. Nhưng ngay khi lên làm lãnh đạo, Brezhnev bắt đầu đảo ngược quá trình này, và phát triển một thái độ ngày càng trở nên bảo thủ và mang tính đàn áp. Trong một bài phát biểu vào tháng 5 năm 1965 để kỷ niệm lần thứ 20 ngày chiến thắng Phát xít Đức, Brezhnev đã lần đầu tiên đề cập tới Stalin một cách tán dương. Tháng 4 năm 1966, ông nắm chức danh Tổng bí thư, từng là chức danh của Stalin cho tới năm 1952. Phiên toà xử các tác gia Yuri DanielAndrei Sinyavsky năm 1966 — phiên toà đầu tiên kiểu những phiên tòa thời Stalin — đã đánh dấu sự đảo ngược với chính sách đàn áp văn hóa. Về sau, dưới thời Yuri Andropov, cơ quan an ninh nhà nước (KGB) đã có lại hầu hết quyền lực từng có thời Stalin, dù không có những cuộc thanh trừng như kiểu thập niên 1930 và 1940.

Cuộc khủng hoảng đầu tiên của chế độ Brezhnev xảy ra năm 1968, với nỗ lực của giới lãnh đạo Cộng sản tại Tiệp Khắc, dưới quyền Alexander Dubček, để tự do hóa hệ thống Cộng sản (xem Mùa xuân Praha). Vào tháng 7, Brezhnev công khai lên án giới lãnh đạo Tiệp Khắc là "xét lại" và "chống Xô viết" và, vào tháng 8, ông tổ chức một cuộc xâm lược Tiệp Khắc của Khối Hiệp ước Warsaw, và lật đổ Dubček. Cuộc xâm lược dẫn tới nhiều cuộc phản đối công khai của những người bất đồng ở Liên Xô. Sự xác nhận của Brezhnev rằng Liên Xô có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước vệ tinh của mình để "bảo vệ chủ nghĩa xã hội" đã bắt đầu được gọi là Học thuyết Brezhnev, dù nó thực tế là một sự trình bày lại của chính sách Xô viết đã tồn tại, như Khrushchev đã thể hiện tại Hungary năm 1956.

Dưới thời Brezhnev, quan hệ với Trung Quốc tiếp tục xấu đi, sau cuộc chia rẽ Trung-Xô và tan vỡ đầu thập niên 1960. Năm 1965, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tới thăm Moskva để đàm phán, nhưng không có giải pháp nào cho sự xung đột. Năm 1969, giữa quân đội Liên Xô và Trung Quốc xảy ra một loạt các cuộc va chạm dọc biên giới trên sông Ussuri. Brezhnev cũng tiếp tục sự ủng hộ của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Năm 1962, Brezhnev trở thành công dân danh dự của Belgrade.[7] Ngày 22 tháng 1 năm 1969, một sĩ quan Liên Xô, Viktor Ilyin, đã tìm cách ám sát Brezhnev.[8]

Tuy nhiên, sự tan băng trong quan hệ Trung-Mỹ bắt đầu từ năm 1971, đã đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ quốc tế. Để ngăn chặn sự hình thành một liên minh Mỹ-Trung chống Liên Xô, Brezhnev đã mở một vòng đàm phán mới với Hoa Kỳ. Tháng 5 năm 1972, Tổng thống Richard Nixon tới thăm Moskva, và hai nhà lãnh đạo đã ký Hiệp ước Giới hạn Vũ khí Chiến lược (SALT I), đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ "détente" (giảm căng thẳng). Tháng 1 năm 1973, Mỹ chính thức chấm dứt tham dự vào cuộc Chiến tranh Việt Nam, loại bỏ một chướng ngại quan trọng cho quan hệ Xô-Mỹ. Tháng 5, Brezhnev tới thăm Tây Đức, và, vào tháng 6, ông có một chuyến thăm cấp nhà nước tới Hoa Kỳ.

Đỉnh cao của thời kỳ giảm căng thẳng thời Brezhnev là việc ký kết Điều khoản Helsinki Cuối cùng năm 1975, công nhận các biên giới thời hậu chiến ở đông và trung Âu và, trên thực tế, hợp pháp hóa sự bá chủ của Liên Xô trong vùng. Đổi lại, Liên Xô đồng ý rằng "các nhà nước liên quan sẽ tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do nền tảng, gồm tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, cho tất cả mọi người không phân biệt sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo". Nhưng những điều này không bao giờ trở thành hiện thực, và sự chống đối chính trị với quá trình giảm căng thẳng tăng lên tại Mỹ khi những mong đợi lạc quan về sự "giảm căng thẳng" không xảy ra bởi không có bất kỳ sự tự do hóa nào bên trong Liên Xô và các quốc gia vệ tinh của nó. Vấn đề quyền di cư cho người Do Thái Liên Xô ngày càng trở thành trở ngại cho quan hệ Xô-Mỹ. Một hội nghị thượng đỉnh giữa Brezhnev và Tổng thống Gerald Ford tại Vladivostok tháng 11 năm 1974 đã không thể giải quyết các vấn đề. (xem Sửa đổi Jackson-Vanik)

Leonid Brezhnev và Gerald Ford ký tuyên bố chung về Hiệp ước SALT tại Vladivostok

Trong thập niên 1970, Liên Xô đã đạt tới đỉnh cao quyền lực chính trị và chiến lược trong quan hệ với Hoa Kỳ. Hiệp ước SALT I đã hình thành một cách có hiệu quả sự cân bằng về vũ khí hạt nhân giữa hai siêu cường, Hiệp ước Helsinki hợp pháp hóa tầm ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Âu, và thất bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam và vụ Watergate làm suy yếu danh tiếng của Mỹ. Dưới sự chỉ huy của Đô đốc Sergei Gorshkov, Liên Xô lần đầu tiên cũng trở thành một cường quốc hải quân thế giới. Liên Xô mở rộng quan hệ ngoại giao và ảnh hưởng chính trị tới Trung Đông và châu Phi. Đồng minh của Liên Xô, Cuba, đã can thiệp quân sự thành công vào cuộc nội chiến Angola năm 1975 và sau đó vào cuộc Chiến tranh Ogaden năm 1977-78 giữa EthiopiaSomalia. Sự can thiệp quân sự của Liên Xô là tối thiểu, nhưng các vũ khí và cố vấn quân sự của họ đã tham gia vào các cuộc xung đột này cùng các lực lượng Cuba.

Trong giai đoạn này, Brezhnev đã củng cố vị trí của mình. Tháng 6 năm 1977, ông buộc Podgorny nghỉ hưu và một lần nữa trở thành Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô, biến chức vụ này trở thành tương đương với chức vụ của một tổng thống hành pháp. Tuy Kosygin vẫn là Thủ tướng chỉ một thời gian ngắn sau khi ông chết năm 1980, Brezhnev rõ ràng là người thống trị ban lãnh đạo từ năm 1977 trở về sau. Tháng 5 năm 1976, ông tự phong mình làm Nguyên soái Liên Xô, "Nguyên soái chính trị" đầu tiên từ thời Stalin. Bởi Brezhnev chưa bao giờ giữ chức chỉ huy quân sự, hành động này đã làm dấy lên sự phản đối trong giới chỉ huy chuyên nghiệp, nhưng quyền lực và ảnh hưởng của họ dưới thời Brezhnev đảm bảo rằng họ luôn ủng hộ ông. Cũng trong thời gian này sức khoẻ Brezhnev bắt đầu có dấu hiệu giảm sút.

Vụ việc máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 2 năm 1961 khi Brezhnev (khi ấy là Chủ tịch Đoàn chủ tịch Tối cao) đang trên đường tới Cộng hòa Guinea trong một chuyến viếng thăm cấp nhà nước, chiếc IL-18 đã bị tấn công bởi một số chiếc máy bay chiến đấu của Pháp. Phi công Boris Bugaev đã thoát khỏi thành công vụ tấn công.[9]

Kinh tế trì trệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trì trệ Brezhnev

Cả quyền lực của Liên Xô trên bình diễn quốc tế và quyền lực trong nước của Brezhnev đều dựa trên một nền kinh tế mạnh. Nhưng nông nghiệp Liên Xô dần không thể đáp ứng cho số dân thành thị, chỉ đủ cung cấp cho tiêu chuẩn sống mà chính phủ hứa hẹn là những kết quả của "chủ nghĩa xã hội" đã trưởng thành, và khả năng công nghiệp cũng dựa vào đó.

Những yếu tố đó cộng với sự chạy đua vũ trang trong nửa sau thập niên 1970. Những khoản chi tiêu khổng lồ cho các lực lượng vũ trang vào những dự án đầy tham vọng như chương trình vũ trụ hay tuyến Đường sắt Baikal Amur, càng trở nên nặng nề hơn với nhu cầu nhập khẩu ngũ cốc với giá cao, làm giảm khả năng đầu tư vào hiện đại hóa công nghiệp hay cải thiện các tiêu chuẩn sống. Hậu quả là một nền "kinh tế phi chính thức" lớn (xem Thị trường Đen) để cung cấp nhu cầu cho một nền kinh tế hạn chế về hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Điều này, cộng với những vấn đề chưa được giải quyết của nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo địa phương, làm giảm sự ủng hộ của dân chúng cho Brezhnev. Nhiều quan chức cao cấp bị đem ra xét xử về các vấn đề tham nhũng ngay khi Yuri Andropov kế vị Brezhnev.

Carter và Brezhnev ký Hiệp ước SALT II, 18 tháng 6 năm 1979, tại Vienna

Những năm cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm cuối cùng thời kỳ cầm quyền của Brezhnev đặc điểm ở sự sùng bái cá nhân ngày càng tăng. Ông nổi tiếng là người thích huân chương (tổng cộng ông nhận được 114 chiếc), và vào tháng 12 năm 1976, nhân ngày sinh lần thứ 70 ông được trao huân chương Anh hùng Liên Xô, giải thưởng cao nhất của nhà nước, thường được trao cho người có thành tích lớn phục vụ nhà nước và xã hội. Brezhnev được nhận giải thưởng này, cùng với Huân chương LeninHuân chương Sao Vàng, ba lần nữa trong những ngày sinh nhật ông. Brezhnev cũng được trao Huân chương Chiến thắng, huân chương cao nhất của quân đội Liên Xô, năm 1978, trở thành người duy nhất được nhận nó sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, những huân chương dành cho Brezhnev đã gây ra một cuộc tranh cãi năm 1989, cho rằng ông không đáp ứng các tiêu chuẩn để được nhận chúng.

Những giải thưởng quân sự ông được nhận với thành tích tham gia vào một khoảng thời gian ít được biết tới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khi một nhóm lính thủy Liên Xô ngăn chặn một nỗ lực của Đức nhằm tiêu diệt cứ điểm của Liên Xô, có tên hiệu Malaya Zemlya, trên bờ Biển Đen gần Novorossiysk. Đầu những năm 1980, cuốn sách của Brezhnev về sự kiện này, cùng với những cuốn sách khác của ông, về Chiến dịch Virgin Lands[10] và về những công việc tái thiết ngành công nghiệp Ukraina thời hậu chiến, đã được dịch sang hai chục thứ tiếng (gồm cả tiếng Do Thái[11]) và trở thành (ít nhất trên báo chí) tài liệu nghiên cứu bắt buộc cho mọi trường học Liên Xô. Hiện mọi người tin rằng những cuốn sách được viết ra bởi một số "người viết thuê" của ông. Với sự thúc giục của Brezhnev - hay để tâng bốc vị lãnh đạo già - giai đoạn Malaya Zemlya được đề cao thêm: một bộ phim đã được sản xuất, với một bài hát của Aleksandra Pakhmutova.

Tuy nhiên, không giống như sự sùng bái cá nhân của Stalin, sự sùng bái dành cho Brezhnev được đa số người coi là rỗng tuếch và trơ tráo[cần dẫn nguồn], và, vì không có một cuộc thanh trừng, để có thể buộc mọi người phải kính trọng hay sợ hãi, nó đã không được đón nhận và bị hờ hững[cần dẫn nguồn]. Ta không biết liệu Brezhnev có biết về điều này không, bởi ông thường bận rộn với các cuộc họp thượng đỉnh quốc tế (như hiệp ước SALT II, được ký với Jimmy Carter vào tháng 6 năm 1979), và thường lãnh đạo các vấn đề quan trọng trong nước. Chúng được trao cho những người phụ tá của ông, một số trong số họ, như người chịu trách nhiệm lãnh đạo nông nghiệp Mikhail Gorbachev, dần tin tưởng rằng một cuộc cách mạng từ nền móng là cần thiết. Tuy nhiên, không có âm mưu nào trong giới lãnh đạo chống lại Brezhnev, và ông được phép dần rút khỏi quyền lực khi sức khoẻ sút giảm. Tình trạng sức khoẻ kém của ông hiếm khi – hay thậm chí không bao giờ  – được đề cập trên báo chí Liên Xô, nhưng thực tế đã trở nên rõ ràng với sự vắng mặt của ông trong các sự kiện công khai và với tình trạng ngày càng xấu đi về kinh tế và chính trị.

Trong số di sản của Brezhnev để lại cho những người kế nhiệm ông là quyết định can thiệp vào Afghanistan năm 1979, nơi một chế độ cộng sản đang chiến đấu với các chiến binh nổi dậy Hồi giáo được Hoa Kỳ viện trợ và các lực lượng khác nhằm giành quyền lực. Quyết định này không phải do Bộ chính trị đưa ra, mà chỉ trong bộ máy riêng của Brezhnev tại một cuộc họp không chính thức. Nó dẫn tới sự kết thúc bất ngờ của thời kỳ giảm căng thẳng, với việc áp đặt cấm vận lương thực của Hoa Kỳ, càng làm các vấn đề kinh tế của Liên Xô thêm nghiêm trọng.

Tháng 3 năm 1982, Brezhnev bị một cơn nhồi máu cơ tim nghiêm trọng, và sau đó, dần phải đấu tranh để giữ lấy quyền lực.

Huân chương và Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Leonid Brezhnev là người có nhiều huân huy chương nhất thế giới đến thời điểm hiện tại[12]. Tính đến ngày 26/11/1982 khi ông qua đời, theo thống kê ông có tổng số 114 huân huy chương các loại. Ngoài huân huy chương trong nước, ông còn được nhiều nước trao tặng.

Trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương và huy chương Ngày Trao cho
Số lần Hình ảnh Tên
4
Hero of the Soviet Union medal.png
Anh hùng Liên Xô 18/12/1966
18/12/1976
19/12/1978
18/12/1981
"Cống hiến xuất sắc cho phục vụ Nhà nước và Xã hội Liên Xô."
1
Serp i molot.jpg
Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa 17/6/1961 "Thành tích vượt trội trong lĩnh vực kinh tế nhà nước và văn hóa."
8
Order of Lenin Ribbon Bar.svg

Order of Lenin type4.jpg
Huân chương Lenin 2/12/1947
18/12/1956
17/6/1961
18/12/1966
2/10/1971
18/12/1976
19/12/1978
18/12/1981
Đóng góp xuất sắc cho Nhà nước Liên Xô
1
Ordervictory rib.png

Orden-Pobeda-Marshal Vasilevsky.jpg
Huân chương Chiến thắng 20/2/1978
(tước bỏ 21/9/1989)
Đóng góp vai trò quân sự trên quy mô mặt trận dẫn tới thắng lợi toàn diện của Hồng quân
2
Order october revolution rib.png

Order of the October Revolution rus.jpg
Huân chương Cách mạng Tháng Mười 14/3/1979
18/12/1980
"Phục vụ cho sự nghiệp mở rộng chủ nghĩa cộng sản hoặc đất nước, hay tăng cường hệ thống phòng thủ của Liên Xô"
2
Order of Red Banner ribbon bar.png

Order of the Red Banner.png
Huân chương cờ đỏ 12/3/1942
29/5/1944
"Chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, có thành tựu phi thường trong quân sự và chiến đấu"
1
Order bogdan khmelnitsky2 rib.png
Huân chương Bogdan Khmelnitsky hạng 2 "Có vai trò đặc biệt trong chiến đấu dẫn tới thắng lợi giải phóng lãnh thổ Liên Xô"
1
POL Order Wojny Ojczyźnianej 1kl BAR.svg

Orden-otechestvennoy-voyny A0078505.jpg
Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng nhất "Có vai trò đặc biệt và can đảm trong cuộc chiến tranh vệ quốc góp phần dẫn tới sự thành công của các hoạt động quân sự"
1
Order redstar rib.png

Order of the Red Star.jpg
Huân chương Sao Đỏ "Cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp quốc phòng trong chiến tranh và hòa bình"
1
CombatRibbon.png

Medal for Merit in Combat.jpg
Huy chương Công trạng Chiến đấu "Chiến đấu dũng cảm bảo vệ thành công biên giới, huấn luyện chính trị và dự bị trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng"
1
100 lenin rib.png

100 years Lenin OBVERSE.jpg
Huy chương Kỷ niệm "Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh V.I.Lenin 1970 "Có công trạng xuất sắc trong lĩnh vực dân sự và quân sự của Liên Xô"
1
Defodessa.png

Medal Defense of Odessa.jpg
Huy chương "Bảo vệ Odessa" "Tham gia bảo vệ Odessa"
1
Defcaucasus rib.png

Medal defense of Caucasus.jpg
Huy chương "Bảo vệ Caucasus" "Tham gia bảo vệ Caucasus"
1
Orderglory rib.png

Za pobedu nad germaniej.jpg
Huy chương "Chiến thắng Đức Quốc xã trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941-1945" "Phục vụ trong lĩnh vực quân sự và dân sự trong cuộc chiến tranh vệ quốc"
1
20 years of victory rib.png

20th anniversary of Victory in Patriotic War.JPG
Huy chương Kỷ niệm "20 năm chiến thắng Đức Quốc xã trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941-1945" 1965 "Phục vụ trong lĩnh vực quân sự và dân sự trong cuộc chiến tranh vệ quốc"
1
30 years of victory rib.png

30th anniversary of Victory in Patriotic War.JPG
Huy chương Kỷ niệm "30 năm chiến thắng Đức Quốc xã trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941-1945" 1975 "Phục vụ trong lĩnh vực quân sự và dân sự trong cuộc chiến tranh vệ quốc"
1
Ribbon Medal For The Liberation Of Warsaw.png

Medal For The Liberation Of Warsaw.png
Huy chương "Giải phóng Warsaw" "Tham gia giải phóng Warsaw"
1
Liberationprague rib.png

Medal for the liberation of Prague, Soviet Union.png
Huy chương "Giải phóng Prague" "Tham gia giải phóng Prague"
1
CaptureOfViennaRibbon.png

Capture of Vienna OBVERSE.jpg
Huy chương "Đánh chiếm Vienna" "Tham gia trận đánh Vienna"
1
RibbonLabourDuringWar.png

Medal For Valiant Labour during the Great Patriotic War 1941-1945 OBVERSE.jpg
Huy chương "Anh dũng Lao động trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941-1945" "Tham gia lao động trong chiến tranh vệ quốc từ 1 năm trở lên"
1
CombatCooperationRibbon.jpg

Soviet Medal For Strengthening Military Cooperation.jpg
Huy chương "Tăng cường hợp tác quân sự" 1979 "Công lao trong việc tăng cường hợp tác quân sự trong khối Warsaw"
1
RestorationOfTheBlackMetallurgicEnterprisesRibbon.gif

За восстановление предприятий черной металлургии юга.jpg
Huy chương "Phục hồi xây dựng ngành luyện kim đen phía Nam" "Đóng góp vai trò quan trọng trong công việc luyện kim trong cuộc chiến chống Đức Quốc xã"
1
Reclamining the virgin lands rib.png

Medal For Development of the Virgin Lands.jpg
Huy chương "Vì sự phát triển vùng đất hoang" "Đóng góp vai trò quan trọng trong công việc phát triển khai khẩn đất hoang các khu vực Kazakhstan, Siberia, Ural, khu vực Volga và Bắc Caucasus"
1
40 years saf rib.png

40 years armed forces of the USSR OBVERSE.jpg
Huy chương Kỷ niệm "40 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" 1958 "Trao cho Nguyên soái, tướng, đô đốc, sĩ quan để chào mừng kỷ niệm 40 năm thành lập lực lượng vũ trang Liên Xô"
1
50 years saf rib.png

50 years armed forces of the USSR OBVERSE.jpg
Huy chương Kỷ niệm "50 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" 1968 "Trao cho Nguyên soái, tướng, đô đốc, sĩ quan để chào mừng kỷ niệm 50 năm thành lập lực lượng vũ trang Liên Xô"
1
60 years saf rib.png

60YSAF.jpg
Huy chương Kỷ niệm "60 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" 1968 "Trao cho Nguyên soái, tướng, đô đốc, sĩ quan để chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập lực lượng vũ trang Liên Xô"
1
Soviet 250th Anniversary Of Leningrad Ribbon.jpg

Medal250Leningrad.jpg
Huy chương Kỷ niệm "250 năm thành lập Leningrad" 1957 "Trao cho công dân cống hiến xuất sắc trong việc cải tạo các lĩnh vực trong thành phố trong thời gian 5 năm trở lên"
1
1500KievRibbon.jpg

Kiev1500.jpg
Huy chương Kỷ niệm "1500 năm thành lập Kiev" 1982 "Trao cho công dân cống hiến xuất sắc trong việc cải tạo các lĩnh vực trong thành phố trong thời gian 10 năm trở lên"
1
Lenin Prize Medal.JPG
Giải thưởng Lenin về văn học 20/4/1979 Trao cho tác phẩm "đất nhỏ", tác phẩm trong bộ 3 tác phẩm cử Brezhnev
1
Voorzijde van de Leninvredesprijs van de Sovjet-Unie.jpg
Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin 1972
1
Badge 50 years in the CPSU.png
Huy chương kỷ niệm "50 năm Đảng Cộng sản Liên Xô 1981

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương và huy chương Ngày Quốc gia Trao cho
Số lần Hình ảnh Tên
1
ARG Order of May - Grand Cross BAR.png

Order-of-may.png
Huân chương tháng 5 1974  Argentina Ngoại giao
1
Solnce svobody rib.png

Orden of the Sun of Liberty.jpg
Huân chương giải phóng mặt trời 1981 Flag of Afghanistan (1980-1987).svg
Cộng hòa Dân chủ Afghanistan
Ngoại giao
3
Герой на НРБ (аверс).jpg
Huân chương Anh hùng 1973
1976
1981

Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
Ngoại giao
3 Орден Георги Димитров.jpg Huân chương Georgi Dimitrov 1973
1976
1981
Bulgaria
Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
Ngoại giao
1 100thAnniversaryOfLiberationRibbon.jpg Huy chương kỷ niệm "100 năm giải phóng khỏi Ottoman" 1978 Bulgaria
Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
1 Huy chương kỷ niệm "30 năm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở Bulgaria" 1974 Bulgaria
Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
1 80px Huy chương kỷ niệm "90 năm ngày sinh Georgi Dimitrov" 1972 Bulgaria
Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
1 100th anniversary of the birth of Georgi Dimitrov medal ribbon.jpg Huy chương kỷ niệm "100 năm ngày sinh Georgi Dimitrov" 1982 Bulgaria
Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
1 Held van de Republiek Cuba.gif Anh hùng Cộng hòa Cuba 1981 Cuba
Cộng hòa Cuba
1 Ribbon jose marti.png
Huân chương José Martí 1974 Cuba
Cộng hòa Cuba
1 Order of Carlos Manuel de Céspedes (Cuba) - ribbon bar v.1979.gif Huân chương Carlos Manuel de Céspedes 1981 Cuba
Cộng hòa Cuba
1 Playia Hiron 2.png Huân chương Playa Girón 1976 Cuba
Cộng hòa Cuba
1 Huy chương kỷ niệm "20 năm tấn công trại lính Moncada" 1973 Cuba
Cộng hòa Cuba
1 Medalla XX Aniversario de las Fuerzas Armadas Revolucionarias (cinta).svg Huy chương kỷ niệm "20 năm thành lập lực lượng vũ trang cách mạng" 1976 Cuba
Cộng hòa Cuba
3 Gold Star of Hero of the CSSR.jpg Anh hùng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc 5/5/1970
26/11/1976
16/12/1981
Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
"có công lao đặc biệt và thành tích anh hùng với đất nước."
4 Cs2okg.png
The Republic exhibition - NM Prague 05.JPG
Huân chương Klement Gottwald 1970
1976
1978
1981
Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
"phần thưởng trao cho các nước xã hội chủ nghĩa của Tiệp Khắc."
2 CZE Rad Bileho Lva 3 tridy BAR.svg
MWP White Lion Medal.JPG
Huân chương sư tử trắng 1946
1973
Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
"trao thưởng cho cống hiến với Tiệp Khắc."
1 CS Dukielski Medal Pamiatkowy.jpg
Huy chương kỷ niệm "Trận đánh Dukla Pass" 1960 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
1 TCH CS voj pametni medaile BAR.svg
Pamětní medaile československé armády v zahraničí.jpg
Huy chương kỷ niệm quân đội 1946 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
1 Medal for Strngthening Brotherhood in Arms 1 kl.png
Medal for Strngthening Brotherhood in Arms 1 st.jpg
Huy chương Hữu nghị hạng nhất 1980 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
2 Czechoslovak War Cross 1939-1945 Bar.png
Czechoslovak War Cross 1939-1945.PNG
Thập tự chiến Tiệp Khắc 1945
1947
Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
"hành động dũng cảm trong quân đội"
1 Czechoslovak Medal for Bravery before the Enemy Rib.png
Czechoslovak Medal for Bravery before the Enemy.jpg
Huy chương Dũng cảm 1945 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
"có hành động dũng cảm trong chiến đấu"
1 Huy chương kỷ niệm 50 năm Đảng Cộng sản Tiệp Khắc 1971 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
1 Pamatna medaila k 20 vyrociu SNP averz J HVOZDENSKY.jpg Huy chương kỷ niệm "20 năm Khởi nghĩa Quốc gia Slovak" 1964 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
1 Huy chương kỷ niệm "30 năm Khởi nghĩa Quốc gia Slovak" 1975 Tiệp Khắc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
1 FIN Order of the White Rose Grand Cross BAR.png
Commander of the Order of the White Rose of Finland.JPG
Huân chương Hoa hồng trắng Phần Lan 1976 Phần Lan
Cộng hòa Phần Lan
"trao cho dân sự và quân sự
3 GDR Marks-order bar.png
GDR Karl-Marx-order rib.gif
Huân chương Karl Marx 1974
1979
1981
Cộng hòa Dân chủ Đức
Cộng hòa Dân chủ Đức
3 Held der DDR.png Anh hùng Cộng hòa Dân chủ Đức 1976
1979
1981
Cộng hòa Dân chủ Đức
Cộng hòa Dân chủ Đức
1 GDR Star of Friendship of Nations - Grand Star (formal ribbon) BAR.png
De grote gouden ster van de Orde van de Volkerenvriendschap 2.png
Ngôi sao Hữu nghị Nhân dân Hạng nhất 1976 Cộng hòa Dân chủ Đức
Cộng hòa Dân chủ Đức
1 Huy chương "vì sự tăng cường với Cộng hòa Dân chủ Đức 1979 Cộng hòa Dân chủ Đức
Cộng hòa Dân chủ Đức
1 Huân chương Độc lập 1961 Guinée
Cộng hòa Guinea
2 Hu3ofl0.png
Orde van de Vlag van de Volksrepubliek Hongarije.jpg
Huân chương Cờ Đỏ 1976
1981
Hungary
Cộng hòa Nhân dân Hungary
2 Bintang Republik Indonesia Adipurna Ribbon Bar.gif
Bintang RI Adipurna.gif
Ngôi sao Cộng hòa Indonesia 1961
1976
Indonesia
Cộng hòa Indonesia
Đệ nhất
1 Anh hùng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 1981 Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
1 Medalla de Oro de la Nación (Laos).svg Huân chương Vàng Quốc gia 1982 Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
1 Heroy MNR.jpg Anh hùng Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ 1976 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
1 Hero Work Mongolia.png Anh hùng Lao động Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
4 OrdenSuheBator.png
Orde van Suha Bator.jpg
Huân chương Sukhbaatar 1966
1971
1976
1981
Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
1 Med 30th anniversary of victory over japan.PNG Huy chương kỷ niệm "30 năm chiến thắng quân phiệt Nhật Bản" 1975 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
1 Med XXXth anniversary of chalkin gol victory rib.PNG Huy chương kỷ niệm "30 năm chiến thắng Khalkhin Gol" 1969 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
Tham gia chiến dịch Khalkhin Gol
1 Med 40 year chalkin gol victory rib.PNG Huy chương kỷ niệm "40 năm chiến thắng Khalkhin Gol" 1979 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
Tham gia chiến dịch Khalkhin Gol
1 50 Years Anniversary of the Mongolian Revolution rib.PNG
50 years of the Mongolian People's Revolution.jpg
Huy chương kỷ niệm "50 năm Cách mạng Mông Cổ" 1971 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
1 Med 50th anniversary of mongolian people's army rib.PNG
50 years of the Mongolian People's Army.jpg
Huy chương kỷ niệm "50 năm chiến thành lập Quân đội Nhân dân Mông Cổ" 1971 Mông Cổ
Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
1 PER Order of the Sun of Peru - Grand Cross BAR.png
Orden del Sol.jpg
Huân chương Mặt trời Đệ nhất 1978 Peru
Cộng hòa Peru
1 POL Polonia Restituta Wielki BAR.svg
Polonia Restituta - Commander's Cross pre-1939 w rib.jpg
Huân chương Polonia Restituta Đệ nhất 1976 Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
1 POL Order Krzyża Grunwaldu 2 Klasy BAR.svg
Order Krzyża Grunwaldu kl. I-awers.jpg
Bội tinh Grunwald, Đệ nhị 1946 Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
1 POL Medal za Odrę Nysę i Bałtyk BAR.svg
Medal Za Odrę, Nysę i Bałtyk.jpg
Huy chương "Vì Odra, Nissa, Baltic" 1946 Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
"tưởng niệm chiến thắng của Ba Lan tại vòng tuyến sông Odra, Nissa và biển Baltic"
1 POL Medal Zwycięstwa i Wolności BAR.svg
Medal-zwyciestwa-i-wolnosci Polska.jpg
Huy chương Chiến thắng và Tự do 1946 Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
"kỷ niệm chiến thắng Quốc gia Ba Lan và đồng minh trong việc đánh đuổi phát xít dành tự do và chiến thắng dẫn tới thắng lợi ngày 9/5/1945"
1 POL Virtuti Militari Wielki BAR.svg
Virtuti Militari Grand Cross.jpg
Huân chương Chiến tranh Virtuti Militari 1974
(tước bỏ năm 1990)
Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
1 POL Order Zaslugi PRL kl1 BAR.png
Order Zasługi RP -The Grand Cross.jpg
Huân chương Công lao Cộng hòa Ba Lan 1981 Ba Lan
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
"công lao trong quan hệ giữ 2 quốc gia"
1 Rib order star romania 1kl.jpg
Order Star Romania 1kl.jpg
Huân chương Sao Romania 1976 România
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania
1 Victoria Socialismului bar ribbon.gif
Victoria Socialismului Type 2.jpg
Huân chương Chiến thắng chủ nghĩa Xã hội 1981 România
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania
1 Anhhunglaodong.png Anh hùng Lao động 1982 Việt Nam
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Ho Shi Min order rib.png
Hchcm.JPG
Huân chương Hồ Chí Minh 1982 Việt Nam
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Huân chương Sao vàng (1947-2003).png Huân chương Sao vàng 1980 Việt Nam
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Order of the Yugoslavian Great Star Rib.png
Ster met veel wit voor Sjabloon.jpg
Huân chương Đại tinh Nam Tư 1962 Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư
Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư
"Xây dựng và phát triển hòa bình và quan hệ giữa 2 nước."
1 Orden slobode.png Huân chương Tự do 1976 Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư
Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư
"khả năng lãnh đạo và tài năng xuất sắc"
1 Huân chương Cách mạng 14/10 1982 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen
1 PRK Order of the National Flag - 1st Class BAR.png
Huân chương Lá cờ Quốc gia hạng nhất 1976 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
1 Huân chương Ngôi sao Danh dự 1980 Ethiopia
Ethiopia Xã hội chủ nghĩa

Cái chết và di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tới giữa thập niên 1970 "một trong những đồng minh thân cận nhất của ông là một y tá của KGB, người cung cấp cho ông liên tục hàng đống thuốc mà không cần hỏi ý kiến các bác sĩ"[13]. Ông trở nên phụ thuộc vào ma túy trong thuốc ngủ nembutal[14] và chết vì nhồi máu cơ tim ngày 10 tháng 11 năm 1982. Ông được vinh danh với một trong những lễ tang lớn và trang trọng nhất thế giới. Một lễ quốc tang bốn ngày được thông báo. Xác ông được đặt trong một quan tài mở trong Tòa nhà các Liên đoàn Thương mại tại Moskva. Bên trong các bức tường, những người đưa tang đi lên theo một cầu thang đá mable bên dưới những chùm đèn phủ vải đen. Trên bệ, giữa một vườn hoa lớn, một dàn nhạc giao hưởng đầy đủ mặc áo đuôi tôm đen chơi các bản nhạc cổ điển. Thân xác mang tính biểu tượng của Brezhnev, mặc đồ đen, áo sơ mi trắng và cà vạt đen-đỏ, nằm trong một quan tài mở với các hàng hoa cẩm chướng, hoa hồng đỏ và hoa tulip, đối diện với một hàng dài những người đưa tang. Ngay bên phải phòng tang lễ, phía trước những hàng ghế dành cho gia đình của vị lãnh đạo, vợ ông Viktoria, ngồi cùng với hai người con, Galina và Yuri.

Sau đó, vào ngày 15 tháng 11 ngày sau buổi tang lễ, các lớp học tại các trường học và trường đại học được cho nghỉ và mọi tuyến đường vào Moskva đều bị chặn lại. Buổi lễ được truyền hình trên mọi kênh. Chiếc quan tài được xe bọc thép đưa tới Quảng trường Đỏ. Khi quan tài tới giữa Quảng trường Đỏ nó được đưa ra khỏi xe, và với nắp mở, nó được đặt trên một bệ phủ vải đỏ đối diện với Lăng Lenin. Từ phía trên Lăng Lenin hàng loạt những lời tán tụng được Tổng bí thư Andropov, Bộ trưởng quốc phòng Dmitriy Ustinov, Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học Anatoli Alexandrov và một người công nhân đọc lên. Sau đó các thành viên Bộ chính trị từ trên lễ đài bước xuống, và những người quan trọng nhất trong số họ, Andropov, ChernenkoGromyko đứng bên trái và Thủ tướng Nikolai Tikhonov, Bộ trưởng Quốc phòng Dimitry Ustinov và lãnh đạo Đảng tại Moskva Grishin đứng bên phải, cùng mang chiếc quan tài mở tới một bệ phía sau lăng, trong Nghĩa trang Bức tường Điện Kremlin. Đúng 12:45 chiều quan tài của Brezhnev được hạ huyệt với tiếng kèn rền vang, cùng với những tiếng còi báo động, những tiếng còi nhà máy, và tiếng súng.

Sau khi Brezhnev chết, thành phố Naberezhnye Chelny ở châu thổ Sông Volga được đổi tên thành "Brezhnev" để vinh danh ông.[15] Tuy nhiên, chưa tới 5 năm sau, cái tên cũ lại được phục hồi.[16] Một khu vực phía ngoài Moskva, Quận Cây Anh đào (Cheryomushky Rayon), được đổi lại tên cũ của nó, từ tên Quảng trường Hồng binh.[16].

Brezhnev đã cầm quyền ở Liên Xô lâu hơn bất kỳ một người nào khác trừ Stalin. Ông bị chỉ trích vì một giai đoạn trì trệ kéo dài được gọi là 'Trì trệ Brezhnev', trong đó những vấn đề nền tảng của nền kinh tế bị bỏ qua và hệ thống chính trị Liên Xô được cho phép suy tàn. Sự can thiệp vào Afghanistan, là một trong những quyết định lớn nhất trong sự nghiệp của ông, cũng làm suy yếu một cách nghiêm trọng vị thế quốc tế và sức mạnh bên trong của Liên Xô. Về thành tựu của Brezhnev, có thể nói rằng Liên Xô đã đạt tới mức độ quyền lực, ảnh hưởng ở mức chưa từng có và sẽ không bao giờ lặp lại, xã hội cũng yên tĩnh trong thời cầm quyền của ông. Một cuộc điều tra của Public Opinion Foundation tiến hành năm 2006 cho thấy 61% người Nga coi thời kỳ Brezhnev là tốt cho đất nước.[17] Một cuộc nghiên cứu của VTsIOM năm 2007 cho thấy hầu hết người Nga muốn sống ở thời kỳ Brezhnev hơn ở bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử Nga thế kỷ 20[18]. Hơn nữa, không giống người tiền nhiệm là Khrushchev, ông là một nhà đàm phán có tài về các vấn đề ngoại giao. Nhiệm vụ nỗ lực cải cách hệ thống đó sau thời gian cầm quyền của ông phải mất 3 năm nữa mới được nhà cải cách Gorbachev tiếp tục thực hiện.

Brezhnev sống ở số 26 Kutuzovsky Prospekt, Moskva. Trong những kỳ nghỉ, ông cũng sống tại Gosdacha của mình tại Zavidovo. Ông cưới Viktoria Petrovna (1912-1995). Những năm cuối đời bà sống cô đơn, bị mọi người bỏ rơi. Bà bị tiểu đường trong một thời gian dài và hầu như mù ở cuối đời. Bà có một con gái, Galina Brezhneva (chính thức, là một phóng viên báo chí) (1929-1998), và một con trai, Yuri (born 1933) (một quan chức thương mại). Con trai của Yuri, Andrei Brezhnev (sinh năm 1961), đã buộc tội Đảng Cộng sản Liên bang Nga đang chệch hướng khỏi tư tưởng cộng sản và phát động một Phong trào Cộng sản Toàn Nga cuối thập niên 1990 nhưng không thành công.[19]

Bộ sưu tập xe hơi của Brezhnev[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian tại nhiệm Tổng Bí thư Brezhnev có niềm đam mê đặc biệt đối với xe hơi và lái xe tốc độ nhanh. Có trường hợp liều lĩnh đến nỗi khiến Henry Kissinger phải hoảng sợ. Bộ sưu tập của ông có từ 49-324 chiếc xe[20].

Các bộ sưu tập của ông được lưu giữ tại Kremlin, sau khi ông qua đời bộ sưu tập của ông bị bán hoặc trưng thu.

Những chiếc xe được biết trong bộ sưu tập của ông:

  • Chevrolet Bel Air (1955, Hoa Kỳ): Chiếc xe do Khrushchev tặng cho ông, sau đó ông cho lại con gái của mình là Galina. Chiếc xe hiện đang ở tại Dnepropetrovsk.
  • Opel Kapitan (1960, Đức): Chiếc xe được ông tặng cho con gái Galina và chồng.
  • Chrysler 300 (1966, Hoa Kỳ): Chiếc xe bị bán đi năm 1986 sau khi ông qua đời.
  • Maserati Quattroporte (1968, Italy): Chiếc xe do Đảng Cộng sản Ý tặng. Có tốc độ 230 km/h.
  • Mercedes-Benz W100 (1969, Tây Đức): Do Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt tặng. Chỉ có 7 chiếc được sản xuất.
  • Mercedes-Benz SL-Class (Đức): Trong chuyến thăm Đức ông được tặng chiếc "Mercedes màu xanh". Sau đó ông đã lái nó và hài lòng, nhưng ông đề nghị chiếc xe nên là màu đỏ. Hãng xe đã sửa theo đề nghị của ông.
  • Cadillac (1971, Hoa Kỳ): Chiếc xe do Nixon tặng năm 1971. Ông đã lái nó trở Ngoại trưởng Kissinger trong chuyến thăm năm 1972.
Chiếc xe Rolls-Royce "Silver Shadow" tai nạn do Brezhnev lái vào năm 1980.
  • Cadillac Eldorado (1972, Hoa Kỳ): Tháng 5/1972 nhân chuyến thăm của Nixon tới Liên Xô. Vào đếm trước chuyến bay Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Anatoly Dobrynin đã nói với Nixon "Brezhnev rất thích nhận món quà là chiếc xe Cadillac Eldorado". Chiếc xe được sản xuất theo đơn đặt hàng đặc biệt trong 3 ngày. Tới ngày thứ 4 chiếc xe được đưa tới Moscow bằng máy bay vận tải không quân Mỹ[21].
  • Lincoln Continental (1973, Hoa Kỳ): Do Nixon tặng tại trại David dưới danh nghĩa doanh nhân Mỹ tháng 6/1973. Ông đã lái chiếc xe ấy trở Nixon với tốc độ khá nhanh, trong hồi ký Nixon có ghi "Đến khúc cua mà Brezhnev không hề giảm tốc. May mà ông ấy lái rất tốt".
  • Nissan President (1973, Nhật Bản): Chiếc xe chỉ sản xuất đặc biệt cho Thủ tướng Nhật Bản và ông. Chiếc xe này do ông tự lái chở Nixon và Kissinger trong chuyến thăm Liên Xô 1972.
  • Rolls-Royce Silver Shadow (1968, Vương quốc Anh): Được doanh nhân Mỹ Armand Hammer tặng năm 1968. Chỉ có 5 chiếc được sản xuất.
  • Rolls-Royce Silver Shadow (1974, Vương quốc Anh): Do Nữ hoàng Elizabeth II tặng. Chiếc xe do ông lái và va chạm với xe tải năm 1980 ngoại ô Moscow. Chiếc xe hiện được trung bày tại bảo tàng ô tô Riga.
  • Rolls Royce Silver Wraith (1979, Vương quốc Anh)
  • GAZ-13 "Chaika" (1965, Liên Xô)
  • GAZ-14 "Chaika" (1976, Liên Xô): Chiếc xe bị hỏng hoàn toàn dưới thời Gorbachev.
  • GAZ-3102 "Volga" (1982, Liên Xô)
  • GAZ-24 "Volga" (Liên Xô)
  • ZIL-114 (Liên Xô)
  • ZIL-4105 (Liên Xô)
  • Ngoài ra còn có một số lượng lớn xe của các hãng "Jaguar", "Porsche" và thương hiệu khác.

Sau khi ông qua đời các chiếc xe của ông bị thu hồi vì được coi là tài sản của Trung ương không phải là của cá nhân ông và gia đình ông.

Về sở thích lái xe tốc độ cao, trong hồi ký Kissinger có ghi như sau:

"Brezhnev lái tôi bằng chiếc "Cadillac" do Tổng thống Nixon tặng theo lời khuyên của Dobrynin 1 năm trước. Brezhnev lái xe tốc độ cao trên con đường quanh co nhỏ hẹp, vì vậy bạn có thể cầu nguyện rằng tại ngã tư phía trước có 1 cảnh sát giao thông để chấm dứt trò chơi mạo hiểm này. Nhưng điều kinh ngạc đã xảy ra, trong quốc gia này, nếu có 1 cảnh sát giao thông thì ông ta cũng không dám dừng chiếc xe đang chạy của Tổng Bí thư Đảng. Việc đó kết thúc tại bến tàu. Brezhnev mời tôi xuống chiếc thuyền máy ở trên mặt nước, may thay lần này tôi không phải đi 1 mình. Dường như Tổng Bí thư đã phá kỷ lục về tốc độ lái xe của mình trong chuyến đi cùng tôi."

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ, Brezhnev đã lái chiếc Lincoln Continental chở Nixon ngay sau khi nhận được món quá. Và Nixon cũng vô cùng hoảng sợ vì tốc độ lái xe của ông. Tốc độ Nixon viết trong hồi ký là hơn 50 dặm (80 km)/h và dường như đến các khúc cua, đoạn dốc tốc độ không thay đổi.

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình vẽ nổi tiếng với Brezhnev đang say đắm hôn nhà lãnh đạo Đông Đức Erich Honecker trong một bức bích hoạ trào phúng với tiêu đề "Cái hôn của những người anh em" trên Bức tường Berlin, do nghệ sĩ Dmitri Vrubel thực hiện.
  • Brezhnev trong chuyện tiếu lâm Liên Xô. Ví dụ như chuyện vì sao Yuri Andropov được lên kế nhiệm ông[22]:
Trên giường bệnh Brezhnev đã yếu lắm rồi nên người ta cứ phải hỏi ai sẽ lên thay ông.
Brezhnev mời các nhân vật cao cấp nhất Bộ Chính trị vào. Mọi người sắp đặt chỗ ngồi quanh giường bệnh. Brezhnev bỗng chỉ vào Andropov và nói: -A, aaaaaaaaaaaaaaaaa'.
Tất cả vỗ tay mừng Andropov. Trong tiếng ồn ào không ai nghe được người bệnh thều thào trước khi tắt thở 'Aaaaaaaaaaaaandropov đứng vào ống dẫn ôxy của tôi'.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch Nga cũ là ngày 6 tháng 12.
  2. ^ “Leonid Brezhnev”. Travel and History. Online Highways. Truy cập 7 tháng 9 năm 2009. 
  3. ^ Bacon, Edwin; Mark Sandle (2003). Brezhnev reconsidered. Palgrave Macmillan. ISBN 033379463X.  [cần chú thích đầy đủ]
  4. ^ Bacon, Edwin; Mark Sandle (2003). Brezhnev reconsidered. Palgrave Macmillan. tr. 72. ISBN 033379463X. 
  5. ^ Bacon, Edwin; Mark Sandle (2003). Brezhnev reconsidered. Palgrave Macmillan. tr. 73. ISBN 033379463X. 
  6. ^ Gennadii Vornov, "Ot ottepeli do zastoya", Izvestiya 18. November, 1988, p. 3. (in Polish)
  7. ^ Korlat, N (18 tháng 11 năm 2008). Đilas podržao predlog “Đilas podržao predlog”. Blic (bằng tiếng Serbian). Truy cập 7 tháng 9 năm 2009.  [cần thẩm tra]
  8. ^ А.Железняков. Энциклопедия "Космонавтика". Выстрелы у Боровицких
  9. ^ Medvedev R.A. Personality and Epoch. Political portrait of L.I.Brezhnev. Moscow, 1991 vol.1
  10. ^ Nabi Abdullaev. “Brezhnev Remembered Fondly 100 Years Since Birth”. St. Petersburg Times. 
  11. ^ “Yiddish Terminology and Subject Textbooks: Agriculture”.  The three Brezhnev's "masterpieces" were published in Yiddish by the Sovetskiy Pisatel Publishers in 1979 in one volume, under the titles Di Klayner erd; Vidergeburt; Tselina. See also the bibliography entry.
  12. ^ http://antg.cand.com.vn/Ho-so-mat/Nguoi-giu-ky-luc-ve-so-huan-chuong-duoc-trao-tang-297604/
  13. ^ Christopher AndrewVasili Mitrokhin (2000). The Mitrokhin Archive: The KGB in Europe and the West. Gardners Books. ISBN 0-14-028487-7. page 266
  14. ^ tiếng Nga: Валерий Болдин, Виктор Голиков Генсек Брежнев Газета «Завтра», 48(471), 26.11.2002
  15. ^ Geoffrey Blainey, A Short History of the Twentieth Century, Penguin Books Australia Ltd., Vic., 2006.
  16. ^ a ă “World Notes-- Soviet Union: What's in A Name?”. TIME. 18 tháng 1, 1988. Truy cập 7 tháng 9 năm 2009. 
  17. ^ Angus Reid Strategies. Russians Satisfied with Brezhnev’s Tenure
  18. ^ “Best leaders:Brezhnev and Putin”. Rosbalt (bằng tiếng Nga). 25 tháng 4 năm 2007. Truy cập 7 tháng 9 năm 2009. 
  19. ^ Myers, Steven Lee (10 tháng 8 năm 2002). “THE SATURDAY PROFILE; A Different Kind of Brezhnev in the Making”. The New York Times. Truy cập 7 tháng 9 năm 2009. 
  20. ^ http://thegioixe.thanhnien.com.vn/kham-pha/xe-nguyen-thu-leonid-brezhnev-nguoi-choi-xe-sanh-dieu-2508.html
  21. ^ “Xế 'khủng' của các lãnh đạo Nga và Liên Xô - Ngôi sao”. Chuyên mục văn hoá giải trí của VnExpress. Truy cập 16 tháng 8 năm 2016. 
  22. ^ Brezhnev và truyện cười Đông Âu, BBC, 22 Tháng 12 2006

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]