Nổi dậy Tây Tạng 1959

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cuộc nổi dậy Tây Tạng 1959
Một phần của Chiến tranh Lạnh
Thời gian10–21 tháng 3 năm 1959
Địa điểm
Kết quả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiến thắng.
Tham chiến

Tây Tạng Phiến quân Tây Tạng

Được ủng hộ bởi:
Hoa Kỳ Hoa Kỳ[1]
Ấn Độ Ấn Độ
 ROC[2]

Trung Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Chỉ huy và lãnh đạo
Tây Tạng Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 Trung Quốc Mao Trạch Đông
Thương vong và tổn thất
85.000-87.000 (tranh cãi)

Lhasa Potala.jpg
Lịch sử Tây Tạng
Cổ đại
Thời kỳ đồ đá mới
Tượng Hùng ~500 TCN–645
Tibetan snow leopard.svg Thổ Phồn 618–842
Thời kỳ phân liệt 842–1253
Guge 1088–1630
Thời kỳ các giáo phái thống trị
Sakyapa 1253–1358
thuộc Nguyên 1271–1354
Phagmodrupa 1354–1618
Rinpungpa 1435–1565
Tsangpa 1565–1642
Hãn quốc Khoshut 1642–1717
Flag of China (1889–1912).svg Tây Tạng thuộc Thanh 1720–1912
Flag of Tibet.svg Tây Tạng 1912–1951
Khu tự trị Tây Tạng 1965–nay

Khởi nghĩa Tây Tạng năm 1959 hoặc Cuộc nổi loạn Tây Tạng năm 1959 bắt đầu vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, khi một cuộc nổi loạn diễn ra ở Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng, mặc dù có chính quyền riêng trên thực tế đã nằm dưới sự kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) kể từ khi Hiệp định 17 điều được ký kết năm 1951[3]. Xung đột đột vũ trang giữa các lực lượng du kích Tây Tạng và Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu vào năm 1956 tại các vùng KhamAmdo, là các vùng đang được thực thi cải cách xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh du kích sau đó lây lan sang các khu vực khác của Tây Tạng và kéo dài đến năm 1962.

Sự kiện này được người Tây Tạng tổ chức kỷ niệm với tên gọi Ngày khởi nghĩa Tây Tạng trong khi chính quyền Tây Tạng sở tại tổ chức trên danh nghĩa Ngày giải phóng nông nô Tây Tạng.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Ước tính có khoảng 89.000 người chết trong cuộc nổi dậy. Norbulingka bị tấn công khoảng 800 lần, một số người Tây Tạng chưa biết rõ con số chết trong đống đổ nát của cung điện. Ba tu viện chính của Lhasa - Sera, GandenDrepung - cũng bị ảnh hưởng nặng. Quân đội Trung Quốc đã giải giáp các thành viên vệ sĩ còn lại của Dalai Lama thứ 14, những người vẫn ở lại Lhasa, và công khai xử tử họ. Ngoài ra, còn có thêm những vụ hành quyết của những người Tây Tạng khác giấu vũ khí. Vô số tu sĩ bị xử tử hoặc bị bắt, các tu viện và đền thờ của họ bị cướp phá hoặc phá hủy.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Status Report on Tibetan Operations”. Office of the Historian. ngày 26 tháng 1 năm 1968.
  2. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  3. ^ Chen Jian, The Tibetan Rebellion of 1959 and China’s Changing Relations with India and the Soviet Union, Journal of Cold War Studies, Volume 8 Issue 3 Summer 2006, Cold War Studies at Harvard University.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]