Chính sách ngăn chặn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chính sách ngăn chặn là một chiến lược quân đội để ngăn chặn sự mở rộng của quân thù. Nó được biết tới nhiều như là một chính sách của Hoa Kỳ và các đồng minh của nó trong thời kỳ chiến tranh lạnh để ngăn ngừa sự lan rộng chủ nghĩa cộng sản ở các nước ngoài.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ giai đoạn cuối cùng của thế chiến thứ hai, quan hệ giữa đồng minh phương Tây và Liên Xô đã có những căng thẳng về việc phát triển một trật tự hòa bình châu Âu. Hoa Kỳ và Vương quốc Anh dựa vào quyền tự chủ của các dân tộc. Liên Xô thì muốn phát triển một vùng ảnh hưởng với các nước vệ tinh xã hội chủ nghĩa. Cho tới cuối thập niên 1940 Liên Xô đã thành lập tại những nước họ chiếm ở Đông Âu sau thế chiến 2 như ở Ba Lan, Tiệp Khắc, HungaryBulgaria những chính phủ xã hội chủ nghĩa có quan điểm thân Liên Xô và chống phương Tây.

Vào tháng 2 năm 1946, khi bộ ngoại giao Hoa Kỳ hỏi George F. Kennan, lúc đó làm việc tại tòa đại sứ ở Moskva, tại sao người Nga lại chống đối lại việc thành lập World BankQuỹ Tiền tệ Quốc tế, Kennan nhân đó cho biết về chính sách đối ngoại của Liên Xô trong một điện tín dài:[1]

  • Người Liên Xô cảm thấy họ ở trong tình trạng chiến tranh liên tục với chủ nghĩa tư bản;
  • Người Liên Xô sẽ sử dụng những người Marxists mà họ có thể điều khiển được ở thế giới tư bản như là đồng minh;
  • Sự đối lập với phương Tây của Liên Xô không cùng quan điểm của dân tộc Nga hay với thực tế về kinh tế, mà là do truyền thống bài ngoại và ảo giác của Nga;
  • Cấu trúc chính phủ của Liên Xô làm cản trở một quan điểm khách quan hay chính xác về thực tế bên trong và bên ngoài nước.

Bản tường trình này, mà đề nghị hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô đã được đưa cho tổng thống Truman vào ngày 24 tháng 9 năm 1946.[2]

Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Tổng thống Harry S. Truman đã tuyên bố tích cực hỗ trợ các quốc gia chống lại những kế hoạch giành chính quyền của các nhóm cộng sản là chính sách chính thức của ngoại giao Hoa Kỳ được gọi là Chủ thuyết Truman.

Thực hành[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần quan trọng của Chính sách ngăn chặn là Kế hoạch Marshall với mục đích, làm vững mạnh các nước châu Âu và như vậy ngăn ngừa việc giành lấy chính quyền của những đảng phái chính trị có lập trường cộng sản thân Liên Xô ở Tây Âu. Cùng lúc Kế hoạch Marshall cũng theo đuổi sự làm việc chung lâu dài giữa các nước châu Âu. Cả việc thành lập khối NATO vào ngày 24 tháng 4 năm 1949 là một phần an ninh chính trị của chính sách ngăn chặn. Dựa vào học thuyết Truman, Hoa Kỳ đã ủng hộ phe bảo hoàng trong nội chiến Hy Lạp, Nam Triều Tiên trong chiến tranh chống lại Bắc Triều Tiên, Pháp trong chiến tranh Đông Dương, và cho quân viễn chinh tham chiến trực tiếp trong chiến tranh Việt Nam.

Chính sách ngăn chặn về mặt kinh tế không chỉ được thực hiện ở châu Âu. Hoa Kỳ cũng giúp đỡ các nước phát triển về kinh tế, tuy nhiên không được hiệu quả như ở châu Âu.[3] Trong trường hợp Trung Quốc, chính sách này cũng đã thất bại, những nhà chính trị đối ngoại (George C. Marshall, George F. Kennan và Dean Acheson) cũng như tổng thống Truman cho là, chế độ độc tài quân phiệt tham ô và chống cải tổ của Tưởng Giới Thạch, cho dù có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cũng không đối đầu lại quân đội của Đảng cộng sản trong cuộc nội chiến.[4] Trường hợp của Trung Quốc và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở các nước châu Mỹ Latin ngoài ra cho thấy, để ngăn chặn nguy cơ cộng sản, Hoa Kỳ đã sẵn sàng ủng hộ các chế độ độc tài.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Lewis Gaddis, George F. Kennan: An American Life (2011) pp 201-24
  2. ^ Hechler, Ken (1996). Working with Truman: a personal memoir of the White House years. University of Missouri Press. tr. 44. ISBN 978-0-8262-1067-8. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2011. 
  3. ^  Erich Angermann: Die Vereinigten Staaten von Amerika seit 1917. 7. Auflage. Deutscher Taschenbuch Verlag, München 1983, ISBN 3-423-04007-6, S. 303.
  4. ^  Erich Angermann: Die Vereinigten Staaten von Amerika seit 1917. 7. Auflage. Deutscher Taschenbuch Verlag, München 1983, ISBN 3-423-04007-6, S. 307.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Corke, Sarah-Jane. "History, historians and the Naming of Foreign Policy: A Postmodern Reflection on American Strategic thinking during the Truman Administration," Intelligence and National Security, Autumn 2001, Vol. 16 Issue 3, pp. 146–63.
  • Felix, David. Kennan and the Cold War: An Unauthorized Biography. Piscataway, NJ: Transaction Publishers, 2015.
  • Gaddis, John Lewis, Strategies of Containment: A Critical Appraisal of American National Security Policy During the Cold War. 2004.
  • Hopkins, Michael F. "Continuing Debate And New Approaches In Cold War History," Historical Journal (2007), 50: 913-934 doi:10.1017/S0018246X07006437
  • Kennan, George F., American Diplomacy, The University of Chicago Press. 1984. ISBN 0-226-43147-9
  • Pieper, Moritz A. (2012). “Containment and the Cold War: Reexaming the Doctrine of Containment as a Grand Strategy Driving US Cold War Interventions”. StudentPulse.com. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  • Wright, Steven. The United States and Persian Gulf Security: The Foundations of the War on Terror, Ithaca Press, 2007.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]