Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân Giải phóng Nhân dân
  中国人民解放军  
Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Quân kỳ và Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Thành lập 1/8/1927
Các nhánh phục vụ Ground Force Flag of the People's Republic of China.svg Lục quân
Naval Ensign of the People's Republic of China.svg Hải quân
Air Force Flag of the People's Republic of China.svg Không quân
People's Liberation Army Flag of the People's Republic of China.svg Lực lượng Tên lửa
Chi viện chiến lược
Lãnh đạo
Lãnh đạo Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình (Chủ tịch)
Thượng tướng Phạm Trường Long (Phó Chủ tịch)
Thượng tướng Hứa Kỳ Lượng
(Phó Chủ tịch)
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Thượng tướng Thường Vạn Toàn
Nhân sự
Tuổi nhập ngũ 18–49
Sẵn cho
nghĩa vụ quân sự
385,821,101 nam, tuổi 15–49,
363,789,674 nữ, tuổi 15–49
Đủ tiêu chuẩn cho
nghĩa vụ quân sự
318,265,016 nam, tuổi 15–49,
300,323,611 nữ, tuổi 15–49
Đạt đến tuổi
quân sự hàng năm
10,406,544 nam,
9,131,990 nữ
Số quân tại ngũ 2,285,000 chính quy[1]
Số quân dự phòng 800,000 dự bị[1]
1,500,000 Vũ cảnh[1]
Phí tổn
Ngân sách $132 tỷ US(2014)[2] (thứ 2)
Phần trăm GDP 1.4% (năm 2014)
Công nghiệp
Nhà cung cấp trong nước Tập đoàn Công nghiệp vũ khí Trung Quốc (Công ty Công nghiệp phương Bắc)
Tập đoàn trang bị vũ khí Trung Quốc (Công ty Công nghiệp phương Nam)
Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Trung Quốc
Tập đoàn Công nghiệp đóng tàu Trung Quốc
Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Trung Quốc
Tập đoàn Công nghiệp và khoa học vũ trụ Trung Quốc
Tập đoàn Công nghiệp cơ giới Trung Quốc[3]
Nhà cung cấp nước ngoài  Ukraine
 Nga[4][5]
Xuất khẩu bình quân  Indonesia
 Campuchia
 Malaysia
 Venezuela
 Pakistan
 Bangladesh
 Singapore
 Turkmenistan
 Sudan
 Eritrea
 Kyrgyzstan
Các bài viết liên hệ
Lịch sử Lịch sử Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hiện đại hóa của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hạng Cấp bậc và Quân hàm Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Trung văn giản thể: 中国人民解放军, Trung văn phồn thể: 中國人民解放軍, phiên âm Hán Việt: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng Quân), gọi tắt là Nhân dân Giải phóng quân hoặc Giải phóng quân, là lực lượng vũ trang chủ yếu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đây là quân thường trực lớn nhất thế giới và bao gồm 5 lực lượng: Lục quân, hải quân, không quân, tên lửa chiến lược và chi viện chiến lược. Trong chiến tranh thì cảnh sát vũ trang sẽ là một nhánh của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Quân huy, quân kỳ, quân ca[sửa | sửa mã nguồn]

Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là "quân huy bát nhất", hình ngôi sao năm cánh màu đỏ viền vàng, bên trong khảm hai chữ "bát nhất" (八一_. Ngôi sao đỏ tượng trưng cho nhân dân Trung Quốc đã được giải phóng, hai chữ "bát nhất" biểu thị ngày mồng 1 tháng 8 năm 1927, ngày Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động cuộc khởi nghĩa Nam Xương, được xem là ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc [6].

Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là "quân kỳ bát nhất", nền màu đỏ, hình chữ nhật, tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng là 5:4, góc trên bên phải gần cán cờ có một ngôi sao vàng năm cánh và hai chữ "bát nhất" màu vàng, biểu thị kể từ ngày thành lập đến nay ánh sao xán lạn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếu rọi khắp Trung Quốc [7][8].

Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là bài "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc", nguyên thủy là ca khúc thứ tám có tên là "Hành khúc Bát lộ quân", trong tổ ca "Đại hợp xướng Bát lộ quân" do nhà thơ Công Mộc (公木) và nhạc sĩ người Triều Tiên Trịnh Luật Thành (鄭律成) cùng hợp tác sáng tác[9][10][11][12].

Thể chế[sửa | sửa mã nguồn]

Một quân nhân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc tại trại huấn luyện ở Thẩm Dương, tháng 3 năm 2007

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống chỉ huy của Quân đội Trung Quốc. Giải phóng quân Trung Quốc không chịu sự cai quản của Quốc vụ viện mà chịu sự cai quản của hai Ủy ban Quân sự Trung ương (Quân ủy Trung ương), một cơ quan thuộc Nhà nước (Quốc gia Trung ương Quân ủy), còn một cơ quan thì thuộc Đảng (Trung cộng Trung ương Quân ủy). Trên thực tế, hai cơ quan này không xung đột vì ủy viên của hai cơ quan này thường đồng nhất với nhau. Thông thường, chỉ có một vài tháng trong mỗi năm năm thì ủy viên của hai hội đồng này mới khác nhau, đó là trong giai đoạn giữa một đại hội đảng, khi uỷ viên của Quân ủy Trung ương thay đổi và kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc, khi Quốc hội bầu ra Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện trách nhiệm theo quyền hạn được quy định trong Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và theo Luật Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[13]

Tháng 12 năm 1982, Đại hội lần thứ 5 của Quốc hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã sửa đổi Hiến pháp quy định rằng Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương lãnh đạo toàn bộ các lực lượng vũ trang của quốc gia. Chủ tịch của Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương được bầu chọn và miễn nhiệm bởi Hội nghị toàn thể của Quốc hội Trung Quốc trong khi các ủy viên thì do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chọn ra. Tuy nhiên, Quân ủy Trung ương thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn là một cơ quan của Đảng, trực tiếp lãnh đạo quân đội và các lực lượng vũ trang khác. Trên thực tế, Quân ủy Trung ương Đảng sau khi hiệp thương với các bên, đề cử các ủy viên Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước để khi những người này thông qua các thủ tục pháp lý bầu cử có thể được Quốc hội Trung Quốc bầu vào Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Điều đó có nghĩa Quân ủy Trung ương thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước là một nhóm và một tổ chức. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài theo tổ chức thì hai Ủy ban này trực thuộc hai hệ thống khác nhau - hệ thống Đảng và hệ thống Nhà nước.

Do đó, các lực lượng vũ trang nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và cũng như thế đối với các lực lượng vũ trang của Nhà nước. Chế độ lãnh đạo chung này phản ánh xuất thân của Giải phóng quân Trung Quốc là một nhánh quân sự của Đảng và chỉ thành quân đội Nhà nước sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.

Theo lệ thường, chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương là các ủy viên dân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhưng những người này không nhất thiết là những người đứng đầu của chính quyền dân sự. Cả Giang Trạch DânĐặng Tiểu Bình nắm giữ cương vị này ngay cả sau khi họ đã thôi giữ chức trong bộ máy Nhà nước và Chính phủ. Tất cả các ủy viên khác của Ủy ban Quân sự Trung ương đều sỹ quan đương nhiệm. Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không phải là người đứng đầu quân đội và thường chỉ là phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương.

Chế độ quân đội Nhà nước kế thừa và duy trì nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với các lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng và Nhà nước cùng lập nên Ủy ban Quân sự Trung ương để thực hiện sự lãnh đạo quân sự tối cao đối với các lực lượng vũ trang. Hiến pháp năm 1954 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng Chủ tịch nước thống soái các lực lượng vũ trang và quy định Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (Hội đồng Quốc phòng là một cơ quan cố vấn, không lãnh đạo các lực lượng vũ trang). Ngày 28 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập lại Ủy ban Quân sự Trung ương làm lãnh đạo Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. Kể từ đó trở đi, chế độ lãnh đạo chung giữa Đảng và Nhà nước đối với quân đội đã được thiết lập. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mọi công việc quân đội. Chủ tịch nước thống soái các lực lượng quân đội nhà nước và phát triển các lực lượng quân đội do Quốc vụ viện quản lý.

Để đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với quân đội, mỗi cấp ủy đảng trong các lực lượng quân sự thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các đơn vị và ban cấp trên xây dựng bộ máy chính uỷ và đảm bảo rằng các tổ chức cấp dưới hoạt động đồng nhất.

Kỳ hạn quân dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt lý thuyết thì tất cả công dân của CHNDTH có trách nhiệm phải đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên trong thực tế, việc thi hành nghĩa vụ quân sự với QĐGPNDTH lại là tự nguyện; tất cả công dân 18 tuổi đều phải đăng kí với nhà cầm quyền, tương tự như Hệ thống tuyển quân của Hoa Kỳ. Trừ một ngoại lệ dành cho các tân sinh viên đại học (cả nam và nữ), là phải tham gia đợt tập huấn quân sự (thường kéo dài một tuần hoặc hơn) trước khi bắt đầu học đại học hoặc sau đó một năm. Thời hạn phục vụ trong lục quân là 36 tháng, trong không quân và hải quân là 48 tháng, trong lực lượng tên lửa chiến lược không ấn định thời hạn.[14]

Lịch sử tác chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Các sự kiện và các cuộc chiến lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2016, các cấp tổng cục của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bao gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị. Tổng cục Chính trị duy trì một hệ thống các chính ủy, đảm bảo sự trung thành với đảng và chính quyền dân sự. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện quyền lãnh đạo quân đội ở cả Hải, Lục, Không quân và Tên lửa Đạn đạo Chiến lược (Nhị pháo, 二炮) thông qua bốn quân chủng. Ngoại trừ quân chủng Tên lửa Đạn đạo Chiến lược thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự Trung ương; trong một quân khu, các đơn vị thuộc 3 quân chủng đầu phối hợp với nhau trong hiệp đồng tác chiến dưới sự chỉ huy thống nhất của quân khu đó. Các đơn vị Lục quân thuộc sự chỉ đạo của quân khu đó. Các đội Hải quân và Không quân thuộc sự lãnh đạo chung của quân khu và của quân chủng mình (ngành dọc).

Địa bàn các quân khu Trung Quốc trước 2016

Ở hệ thống quân khu, toàn quốc được chia thành 7 đại quân khu gồm Thẩm Dương, Bắc Kinh, Nam Kinh, Tế Nam, Thành Đô, Quảng Châu, Lan Châu. Đứng đầu mỗi quân khu gồm Tư lệnh và Chính ủy mang quân hàm từ Trung tướng đến Thượng tướng.

Từ ngày 11 tháng 1 năm 2016, tổ chức lãnh đạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được cải tổ lại. Tổ chức lãnh đạo cao nhất vẫn là tổ chức "2 trong 1" Quân ủy Trung ương (của Đảng và của Nhà nước). Bộ máy giúp việc được tổ chức lại thành 15 cơ quan chuyên môn, 5 bộ tư lệnh quân chủng, 5 bộ tư lệnh quân khu, gồm có:

  1. Văn phòng Quân ủy Trung ương, đương kim Chủ nhiệm là Trung tướng Tần Sinh Tường
  2. Bộ Tham mưu liên hợp (tiền thân là Bộ Tổng tham mưu), đương kim Tham mưu trưởng là Thượng tướng Phòng Phong Huy
  3. Bộ Công tác chính trị (tiền thân là Tổng cục Chính trị), đương kim Chủ nhiệm là Thượng tướng Trương Dương
  4. Bộ Bảo vệ hậu cần (tiền thân là Tổng cục Hậu cần), đương kim Bộ trưởng là Thượng tướng Triệu Khắc Thạch
  5. Bộ Phát triển trang bị (tiền thân là Tổng cục Trang bị), đương kim Bộ trưởng là Thượng tướng Trương Hựu Hiệp
  6. Bộ Quản lý huấn luyện
  7. Bộ Động viên quốc phòng
  8. Ủy ban Kiểm tra kỷ luật, đương kim Bí thư là Thượng tướng Đỗ Kim Tài
  9. Ủy ban Chính trị Luật pháp
  10. Ủy ban Khoa học kỹ thuật, đương kim Chủ nhiệm là Trung tướng Lưu Quốc Trị
  11. Văn phòng Hoạch định chiến lược
  12. Văn phòng Cải cách biên chế
  13. Văn phòng Hợp tác quân sự quốc tế
  14. Vụ Kiểm toán
  15. Tổng cục Quản lý sự vụ
Các bộ tư lệnh quân chủng
  • Tư lệnh: Trung tướng Cao Tân
  • Chính ủy:
Các bộ tư lệnh tác chiến
Địa bàn các quân khu Trung Quốc sau 2016.[cần dẫn nguồn][nghiên cứu chưa công bố?]
Các học viện
  • Đại học Quốc phòng
  • Viện Khoa học Quân sự
  • Đại học Khoa học kỹ thuật Quốc phòng

[15]

Quân số và biên chế[16][sửa | sửa mã nguồn]

- Tổng quân số lực lượng vũ trang chính quy: 2.300.000 người

- Tổng quân số dự bị động viên cục bộ: 10.000.000 người

- Tổng quân số dự bị động viên toàn quốc: 198.400.000 người

- Các đơn vị bán vũ trang:

+ Cảnh sát vũ trang: 110.000 người

+ Dân quân, dân cảnh: 3.000.000 người

+ Các đơn vị đặc biệt thuộc Bộ An ninh: 50.000 người

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quân số: năm 2000 là 1.8; năm 2008 còn 1.5 triệu người; năm 2013 còn 850.000

Biên chế tổ chức[17]

Các đơn vị cấp quân đoàn: có 21 quân đoàn quân chính quy gồm:

- 44 sư đoàn bộ binh

- 10 sư đoàn xe tăng

- 5 sư đoàn pháo binh

Các đơn vị cấp sư đoàn, lữ đoàn độc lập

- 13 lữ đoàn xe tăng

- 15 lữ đoàn bộ binh

- 23 lữ đoàn pháo binh

- 3 sư đoàn đổ bộ đường không

- 5 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa

- 1 sư đoàn pháo binh đặc biệt

- 4 lữ đoàn pháo + tên lửa phòng không lục quân

- 7 trung đoàn máy bay trực thăng

Các đơn vị tác chiến cấp quân khu

- 12 sư đoàn bộ binh

- 1 sư đoàn bộ binh sơn cước

- 4 lữ đoàn bộ binh độc lập

- 87 tiểu đoàn bộ binh độc lập

- 50 trung đoàn công binh

- 30 trung đoàn thông tin liên lạc

Khung các đơn vị dự bị:

- 50 khung sư đoàn bộ binh, pháo binh, phòng không

- 80 khung trung đoàn bộ binh, pháo binh độc lập

Trang bị vũ khí của bộ binh[18]

- Xe tăng: Tổng số 9.800 chiếc; trong đó có 5.000 xe tăng T54/59, 2.400 xe tăng lội nước PT76, 1.200 xe tăng T62/63, 800 xe tăng chủ lực T72, 200 xe tăng chủ lực ZYZ98/99.

- Xe bọc thép: 5.500 chiếc gồm các loại xe xích BMP-1, BMP-3, WN-3; bánh hơi: Honghe-70 (mẫu BTR-70), Honghe-80 (mẫu BTR-80), WZ-551

- Pháo lớn: hơn 14.500 khẩu, gồm các loại: lựu pháo 85 mm, lựu pháo 105 mm, lựu pháo 155 mm, pháo nòng dài 122 mm, pháo nòng dài 130 mm, pháo tự hành 152 mm đặt trên bệ xe tăng T54/59, pháo chống tăng 57 mm và 100 mm.

- Súng cối: hơn 100.000 khẩu các cỡ nòng: 60 mm, 82 mm, 120 mm và 160 mm.

- Hoả tiễn đất đối đất bắn loạt: 2.300 giàn các loại BM12-13, BM-27, BM-40

- Súng và tên lửa chống tăng: RPG-2, RPG-7B, AT-3 Sagger, Jevelin, Gustav...

- Súng phòng không bộ binh: 15.000 cao xạ các loại 24 mm, 37 mm, 57 mm, 100 mm; 180 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa Hongqi-2 (SAM-2); 15 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa 9K330 (Tor-M1), 100 bộ khí tài + bệ phóng Hongqi-3 (SAM-3).

- Trực thăng: 243 chiếc các loại Mi-8 (trực thăng đa chức năng), Mi-17(trực thăng vận tải) và Mi-24 (trực thăng chiến đấu)

- Vũ khí hạng nhẹ của bộ binh: Đại liên Trường An (mẫu đại liên Goriunov), đại liên SK-75; trung liên RPD, RPK; các loại súng trường chiến đấu, Type56sao chép AK-47 AK-47(Kalasnicov), AK-74(Nikonov), M-4 sao chép sử dụng hạn chế ở một số lực lượng nhất định QBZ-95, K63, K89, K95; các loại súng trường SKS, K84.v.v...

Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế, tổ chức

- Tổng quân số: 398.000 người

- Tổ chức:

+ 195 phi đội tiêm kích và tiên kích - bom

+ 120 phi đội cường kích

+ 42 phi đội ném bom

+ 15 phi đội trinh sát

+ 50 phi đội vận tải, tiếp dầu

+ 24 phi đội trực thăng

+ 8 trung đoàn cao xạ phòng không

+ 2 Trung đoàn tên lửa Hongqi-2

+ 2 trung đoàn tên lửa S-300RMU

+ 8 tiểu đoàn tên lửa SA-20RMU2

Vũ khí, khí tài

- Máy bay ném bom:

+ 120 chiếc H-6 (TU-16)

+ 120 chiếc H-7 (IL-28)

+ 400 chiếc Q-5 (TU-16)

- Máy bay tiêm kích và tiêm kích - bom

+ 150 chiếc J-5 (MIG-17)

+ 1.800 chiếc J-6 (MIG 19)

+ 500 chiếc J-7 (MIG 21)

+ 180 chiếc J-8

+ 120 chiếc J-10 (FT-2000)

+ 24 chiếc J-11 (SU-27)

+ 48 chiếc SU-27

+ 23 chiếc SU-30MK

- Máy bay trinh sát:

+ 18 chiếc BA-1E

+ 12 chiếc KJ-200

+ 8 chiếc KJ-2000

- Máy bay vận tải quân sự:

+ 44 chiếc vận tải IL-76

+ 4 chiếc tiếp dầu trên không IL-78

+ 10 chiếc vận tải IL-18

+ 300 chiếc Y-5 (AN-2)

+ 56 chiếc Y-7 (AN-24)

+ 24 chiếc Y-8 (AN-12)

+ 15 chiếc Y-11

+ 2 chiếc Y-12

- Máy bay trực thăng:

+ 6 chiếc AS-332

+ 4 chiếc BELL-214

+ 80 chiếc Mi-8

+ 24 chiếc Mi-17

+ 25 chiếc Z-5 (Mi-4)

+ 18 chiếc Mi-24

+ 50 chiếc Z-9 (SA-365N)

- Máy bay huấn luyện:

+ Hơn 150 chiếc các loại YAK-51, L-39 và YAK-18

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

- Tổng quân số: 235.000 người; trong đó

+ Hải quân hạm tàu: 230.000 người

+ Không quân của hải quân: 25.000 người, gồm 24 trung đoàn

+ Hải quân đánh bộ: 9.000 người gồm 2 lữ đoàn (mỗi lữ đoàn gồm 3 tiểu đoàn TQLC, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn xe lội nước, 1 tiẻu đoàn pháo binh)

+ Hải quân tuần duyên: 28.000 người gồm 28 trung đoàn chia làm 28 vùng phòng thủ.

Các căn cứ, quân cảng chính

Liễu Sơn, Hồ Lô Đảo, Thanh Đảo (căn cứ chỉ huy hạm đội Bắc Hải), Thượng Hải, Ninh Ba (căn cứ chỉ huy hạm đội Đông Hải), Chu Sơn, Vân Châu, Tây Dân, Quảng Châu, Trạm Giang (căn cứ chỉ huy hạm đội Nam Hải), Tam Á (căn cứ tàu ngầm).

Vũ khi, trang bị

- Tàu ngầm hạt nhân:

+ 3 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm xa: K-092/Xia (lớp Hạ), K-93/Shang (lớp Thương), K-94/Jin (lớp Tấn)

+ 5 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm trung K-91/Han (lớp Hán).

+ 13 tàu ngầm diezel-điện K-30 lớp ROMEO

+ 18 tàu ngầm diezel-điện K-35 lớp Ming

+ 17 tàu ngầm diezen-điện K-51 lớp Kilo

+ 15 tàu ngầm diezel-điện lớp Yuan (Nguyên)

- Tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu trợ chiến

+ 3 soái hạm K-052C lớp Luyang (Lữ Dương)

+ 2 tuần dương hạm K-51C lớp Luzhou (Lữ Châu)

+ 43 tàu khu trục tên lửa lớp K-22 lớp Houbei (Hồng Bại, 紅稗)

+ 8 tàu khu trục tên lửa lớp K-054A/Meenshan Mẫn Sơn)và K-054B/Jiangkai (theo mẫu tàu Sovremenny của Nga)

+ 3 tàu khu trục tàng hình K-021 lớp Houku

+ 7 tàu khu trục K-18 lớp Luda (Lữ Đại).

+ 27 tàu với mìn K-010 lớp T-43.

+ 234 tàu tuần duyên kiểu Hải tuần

+ 28 tàu phóng lôi các loại.

+ 6 tàu chở dầu, 48 tàu vận tải (huy động từ tàu dân sự khi có chiến sự)

- Tàu đổ bộ:

+ 36 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng nặng kiểu K-072-II và K072-III lớp Yuting

+ 32 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng trung kiểu K-071

+ 9 tàu đổ bộ bộ binh kiểu LCU

+ 44 cano hạng trung

+ 9 tàu đổ bộ chạy bằng đệm khí.

- Máy bay của hải quân

+ 180 chiếc tiêm kích - bom J-8, J-10

+ 36 chiếc Su-27UKN

+ 40 trực thăng Ka-25

+ 360 trực thăng Mi-8, Mi-17

+ 220 trực thăng Z-9C

- Phương tiện chiến đấu trên bộ của hải quân

+ Xe tăng T59, T63

+ Xe thiết giáp WZ-551

+ Pháo lựu 122 mm

+ Pháo tầm xa 130 mm

+ Hỏa tiễn phóng loạt HM-12

- Các loại tên lửa

+ 120 tên lửa đất đối hạm YJ-62 và YJ-62C,

+ Tên lửa hạm đối hạm các loại: HHQ-7 (Con tằm), YJ-83.

+ Tên lửa hạm đối không SA-N-20

+ Tên lửa đạn đạo hạm đối đất Julang-1,

+ Tên lửa hành trình SS-N-22/SUNBURN và SS-N-27/SIZZLER phóng từ tàu ngầm.

Hiện nay, Trung Quốc vừa hoàn thành việc thử tên lửa hạm đối đất mang đầu đạn hạt nhân Julang-2 (JL-2 trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm lớp Kilo; đồng thời, trang bị loại tên lửa YJ-1 (Ying ji-1) (âm Hán Việt là Ưng Kích 1) cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược.

Lực lượng Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng tên lửa (RF) của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), trước đây được gọi là lực lượng pháo binh thứ hai (Đệ nhị pháo binh bộ đội) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Bộ Quốc phòng CHND Trung Hoa có trách nhiệm chỉ huy, quản lý các phương tiện phóng, đầu đạn và các phương tiện, vật chất, kỹ thuật bảo đảm khác.

Biên chế, tổ chức

Toàn bộ RF của PLA có biên chế 11.000 người (không kể lực lượng khoa học kỹ thuật dân sự phục vụ có thời hạn). Tổ chức SMF của PLA được phân thành 4 cấp:

- Bộ Tư lệnh;

- Căn cứ khu vực: gồm 4 vùng tác chiến, 2 vùng bán quân sự và 1 vùng huấn luyện mang các mật danh Cxx:

+ Căn cứ C51 ở vùng Đông Bắc: Sở chỉ huy đặt tại Cáp Nhĩ Tân; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80301 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Mãn Châu bằng đường sắt và đường bộ.

+ Căn cứ C52 ở Hoa Trung: Sở chỉ huy đặt tại [Tây An?], thuộc tỉnh An Huy; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80302 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Hoàng Sơn, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Bắc sông Trường Giang bằng đường sắt và đường bộ.

+ Căn cứ C53 ở Thanh Hải: Sở chỉ huy đặt tại Lan Châu, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80306 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Thiểm Tây - Ninh Hạ, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Thanh Hải - Tân Cương bằng đường bộ.

+ Căn cứ C54 ở Cao nguyên Vân - Quý: Sở chỉ huy chính đặt tại Côn Minh, thuộc tỉnh Vân Nam, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80303 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Vân - Quý và Tứ Xuyên bằng đường bộ.

+ Căn cứ C55 ở vùng Nội Mông; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 1992.

+ Căn cứ C56 ở tỉnh ven biển Phúc Kiến; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 2008 (sau khi Mã Anh Cửu, người của Quốc dân Đảng lên cầm quyền ở Đài Loan)

+ Vùng tác chiến thử nghiệm, nơi huấn luyện, căn cứ hàng không vũ trụ đồng thời là nơi dự trữ đầu đạn C22 tại khu vực Bảo Kê (Baoji) tỉnh Thiểm Tây.

- Lữ đoàn tác chiến (gồm 12 lữ đoàn tác chiến); mỗi căn cứ quân sự có 2 lữ đoàn có bệ phóng cố định và 1 lữ đoàn có bệ phóng di động.

- Tiểu đoàn tác chiến, (mỗi lữ đoàn có 2 tiểu đoàn tác chiến và 1 tiểu đoàn kỹ thuật bảo đảm);

Trang bị vũ khí, khí tài

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-3 (CSS-2) IRBMs (Đông Phong-3) có cự ly tác xạ tối đa 4.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-21)

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-4 (CSS-3) IRBMs có cự ly tác xạ từ 5.500 - 7.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-31)

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-5 (CSS-4) IRBMs có cự ly tác xạ tối đa 13.000 km;

- 80 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21 (CSS-5) MRBMs có cự ly tác xạ 1.500 km;

(Các loại tên lửa này đều mang đầu đạn đơn)

- 300 tên lửa đạn đạo Dongfeng-15 (CSS-6) SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 600 km;

- 600 tên lửa đạn đạo Dongfeng-11 (CSS-7)SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 300 km;

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21C (CSS-5 Mod-3) MRBMs có cự ly tác xạ 4.500 km;

- 30 tên lửa đạn đạo Dongfeng-31 (CSS-9) và Dongfeng 31-A có cụ ly tác xạ từ 8000 km - 12000 km.

- 45 tên lửa hành trình phóng từ mặt đất DH-10

(Các loại tên lửa này đều có thể mang từ 5 đến 7 đầu đạn, tiến đánh cùng lúc từ 5 đến 7 mục tiêu)

Hiện nay, Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo và thử thành công loại tên lửa Dongfeng-32 (DF-32) có tầm bắn xa đến 11.500 km, có khả năng vượt qua hệ thống tên lửa đánh chặn SMD của Mỹ.

Một số vấn đề mới về vũ khí bộ binh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đỉnh điểm khoảng những năm 1980-1990, PLA có khoảng 10.000 xe tăng, giảm dần còn khoảng 6.000-8.000 xe tăng trong vòng vài năm qua. Số xe tăng Trung Quốc sản xuất theo mẫu xe tăng Liên Xô T-54A (Type 59Type 69) chiếm đến hơn hai phần ba tổng số xe tăng. Đồng thời với việc cho nghỉ hưu các xe tăng loại cũ Type-59/69, thay thế bằng thế hệ hai Type 88Type 96, PLA cũng nâng cấp số xe tăng Type-59/69 còn lại với những công nghệ mới, bao gồm hệ thống liên lạc và kiểm soát hỏa lực cải tiến, thiết bị nhìn đêm, giáp ERA, động cơ được nâng cấp, và hỏa tiễn chống tăng bắn bằng pháo chính, khiến cho chúng có thể tiếp tục phục vụ như các giàn hỏa lực cơ động. Loại xe tăng mới nhất là Type 99, bắt đầu phục vụ từ năm 2001.

PLA cũng có chừng 2.000 xe tăng hạng nhẹ, kể cả loại Type-62 hạng nhẹ và xe tăng lội nước Type-63, bắt đầu đưa vào sản xuất từ những năm 1960s. Loại Type-63 được nâng cấp đặc biệt với hỏa lực được máy tính hóa, trang bị tên lửa chống tăng (ATGM), thiết bị tác chiến đêm, hệ thống định vị bằng vệ tinh, và nâng cấp mã lực.

Vũ khí hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là một thành viên của Nhóm Australia, một tổ chức được thành lập năm 1985 để theo dõi sự phát triển nhanh chóng của việc sử dụng hóa chất vào mục đích kép (dùng trong dân sự và quân sự) và để kết hợp việc quản lý mặt hàng hóa chất xuất khẩu cũng như các thiết bị được sử dụng trong ngành hóa học. Vào tháng tư 1997, PRC thông qua Quy ước vũ khí Hóa học (CWC) và trong tháng chín năm 1997, Trung Quốc đã công bố một chỉ thị quản lý hàng xuất khẩu vũ khí hóa học mới.

Hệ thống cơ bản không gian[sửa | sửa mã nguồn]

PLA đang triển khai một số chương trình không gian tạo cơ sở cho việc sử dụng hệ thống này vào mục đích quân sự bao gồm:

Vào ngày 11 tháng Giêng, 2007 tại trung tâm vũ trụ Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tiến hành thử nghiệm thành công một tên lửa chống vệ tinh.[21]

Chuyến bay vào không gian có người[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm đối với Chương trình Bay vào không gian có người lái của Trung Quốc. Đến này, tất cả các taikonautđã được tuyển chọn trong số Không quân Quân đội Nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ 3 duy nhất đưa người vào vũ trụ bằng các trang thiết bị do mình chế tạo với chuyến bay của trung tá Dương Lợi Vĩ trên tàu vũ trụ Thần Châu 5 vào ngày 15 tháng 10 năm 2003. Sau chuyến bay thành công, Dương Lợi Vĩ được phong cấp hàm đại tá.

Ngân sách quốc phòng Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Trung Quốc công bố chính thức thì ngân sách quốc phòng của nước này trong một số năm gần đây như sau: năm 2000 là 13 tỷ USD, năm 2007 là 52 tỷ USD, năm 2008 là 61 tỷ USD, năm 2009 là 70,27 tỷ USD, năm 2013 là hơn 100 tỷ USD. Tuy nhiên, Mỹ, Nhật Bản và một số nước phương Tây cho rằng những con số đó rất thấp so với thực tế. Theo phía Mỹ, ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm 2008 có thể đạt đến 122 tỷ USD vì chỉ riêng việc trang bị động cơ mới cho toàn bộ 273 chiếc SU-27, SU-30MK và J-11 (loại máy bay sao chép từ SU-27) đã tiêu tốn không dưới 2 tỷ USD. Phía Trung Quốc cho rằng, nguy cơ quân sự từ phía họ đã bị phương Tây thổi phồng.

Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nguồn tin từ các chuyên gia quân sự Nga (được Interfax-ABN trích dẫn), Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch thành lập 2 hạm đội xuyên đại dương hùng mạnh trước năm 2050 với tên gọi: Kế hoạch Con rồng đỏ (Xích long). Hạm đội này có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng có kế hoạch hiện đại hóa các "hạm đội nước vàng" (hạm đội ven bờ) của họ thành "hạm đội nước sâu" (hạm đội biển khơi) trước năm 2020 với 2 nhiệm vụ "Mạch đảo" nhiệm vụ kiểm soát đến các tuyến chiến lược:

- Mạch đảo thứ nhất: phía Bắc đến Vladivostok (Nga), Hokkaido (bắc Nhật Bản), Nampo (thuộc Hàn Quốc), Ryukiu (Trung Quốc gọi là Lưu Câu Kiều, quần đảo Điếu Ngư Đài (Trung Quốc đang tranh chấp với Nhật Bản)Quần đảo Nansi (Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam), quần đảo Philippines; các vùng biển Hoàng hải, Đông Hải (tức biển Hoa Đông), Nam Hải (tức Biển Đông) đến eo biển Malacca (Singapore) và quần đảo Indonesia. Trọng điểm của giai đoạn "Mạch đảo thứ nhất" là Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa)

- Mạch đảo thứ hai: phía Bắc đến quần đảo Aleutians (Hoa Kỳ), qua các vùng đảo Kuril (quần đảo đang có sự tranh chấp Nga-Nhật), Mariana, Carolina (thuộc Mỹ) và New Guinea (Bắc Australia). Trọng điểm của giao đoạn "Mạch đảo thứ hai"" là khống chế Hawai và bờ Tây nước Mỹ.

Kế hoạch này còn bao gồm các hoạt động bảo vệ lợi ích của Trung Quốc (bằng sức mạnh) đối với các ngồn tài nguyên thiên nhiên trên biền, trong lòng biển và dưới đáy đại dương mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ cũng như việc đảm bảo an ninh của ngành vận tải đường biển Trung Quốc.

Cùng với việc hiện đại hóa các hạm tàu, Trung Quốc cũng chú trọng phát triển không quân của hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ. Trung Quốc đang cố gắng tự đóng tàu sân bay trước năm 2020 (do việc họ không tranh được với Ấn Độ hợp đồng mua tàu sân bay Admiral Goskov của Nga); nâng cấp, cải tiến các máy bay SU-30MK và J-10 thành máy bay dùng cho hàng không mẫu hạm; phát triển chế tạo các loại tàu đổ bộ cỡ lớn hoặc mua các tàu này từ Đông Âu (UKRAINA đã nhận đơn đặt hàng đóng cho Trung Quốc 12 tàu loại này).

Dự kiến các hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc sẽ được biên chế, trang bị 1 tàu sân bay có khả năng đảm bảo hoạt động cho 45 đến 50 máy bay chiến đấu của hải quân, 1 tàu ngầm nguyên tử chiến lược, 4 tàu ngầm nguyên tử đa chức năng, 12 tàu ngầm diezel-điện, 29 tàu tuần dương, 49 tàu khu trục, 234 tàu tuần tiễu trang bị tên lửa, 15 tàu phóng lôi, 48 tàu quét mìn, 120 tàu, cano, xuồng đổ bộ các loại.

Cương lĩnh quân sự của Trung Quốc thời đại mới[sửa | sửa mã nguồn]

Lanzhou (DDG170) is a Type 052C destroyer of the PLAN
A Chengdu J-20 5th generation stealth fighter currently under development for the PLAAF.

Về đổi mới và hiện đại hóa quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Trọng tâm là cơ cấu lại các lực lượng theo hướng giảm biên chế quân số, tăng cường chất lượng, triệt để áp dụng các biện pháp cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa các loại vũ khí thông thường; cải tiến cơ cấu hành chính quân sự, biên chế tổ chức và bố trí, phân phối binh lực hợp lý. Tập trung hoàn thiện khả năng đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện ứng dụng công nghệ cao và vũ khí thông minh.

Chương trình hành động[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 2020, đạt mục tiêu phát triển bộ máy quân sự có trình độ tiên tiến, có khả năng tiến hành các hoạt động tác chiến có quy mô châu lục, cách biên giới quốc gia (của Trung Quốc) từ 3.000 đến 10.000 km. Kết hợp tự lực phát triển hệ thống vũ khí, trang bị với việc mua sắm từ nước ngoài; chú trọng phát triển hiện đại hóa các hệ thống vũ khí phòng không, vũ khí chống tàu ngầm và tàu nổi; phát triển hệ thống vũ khí chống vệ tinh, phóng thêm các loại vệ tinh phục vụ chỉ huy quân sự, định vị, dẫn đường và vệ tinh do thám tín hiệu, do thám hình ảnh; phát triển lực lượng tên lửa đạn đạo mang nhiều đầu đạn hạt nhân và tên lửa, bom hạt nhân chiến thuật. Phát triển lực lượng kinh tế - quân sự, lấy lực lượng tài chính-ngân hàng quân sự để có nguồn thu lớn bù đắp cho chi phí quân sự ngay cả trong thời gian đang có chiến tranh cục bộ.

Chiến lược hành động[cần dẫn nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

Phương sách xuyên suốt áp dụng cho cả thời bình và thời chiến là phản công quyết liệt, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Triệt để tận dụng các cơ hội và điều kiện thuận lợi để tấn công, khi tấn công thì không đặt vấn đề biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ. Tập trung hỏa lực vào những điểm trọng yếu của đối phương; triển khai cùng lúc các hoạt động phòng thủ và tấn công, không chờ phòng thủ xong mới tấn công. Thực hành tấn công trả đũa ngay sau khi bị tấn công với thời hạn nhanh nhất. Nhất thiết chỉ sử dụng lực lượng của chính mình để tấn công đối phương.

Phối hợp chặt chẽ hoạt động quân sự với hoạt động ngoại giao để chủ động chấm dứt chiến sự trên thế mạnh, thế có lợi.

Phối hợp các hoạt động quân sự với hoat động kinh tế quân đội. Triệt để lợi dụng sự rối loạn trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế do việc chủ động phát động chiến sự gây ra để tổ chức các hoạt động buôn bán, môi giới tài chính, ngân hàng, thu lợi nhuận cho quân đội.

Chiến lược phát triển hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

(xem Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc)

Hệ thống cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống quân hàm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập cho đến trước 1955, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc không duy trì hệ thống quân hàm, vốn được cho là sản phẩm của thế giới tư bản, không phù hợp với Quân đội công nông. Trong chiến tranh Triều Tiên, nhiều bất cấp nảy sinh, chính quyền Trung Quốc nhận thấy rõ sự cần thiết phải áp dụng một hệ thống quân hàm trong Quân đội. Năm 1955, Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đầu tiên được chính thức ra đời, hệ thống này được xem là chịu nhiều ảnh hưởng của Quân đội Liên Xô.

Sĩ Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên soái
    • Đại Nguyên soái (không ai được phong)
    • Nguyên soái (10 người được phong)
  • Tướng quan
    • Đại tướng (10 người được phong)
    • Thượng tướng(57 người được phong)
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Đại úy
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng sĩ
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Hệ thống này đến khi Cách mạng văn hóa nổ ra thì bãi bỏ.

Hệ thống quân hàm hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay được xây dựng và áp dụng từ năm 1988 trên cơ sở đoạn tuyệt với hệ thống cấp bậc cũ đặt ra năm 1955, gồm các cấp:

Sĩ Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tướng quan
    • Nhất cấp Thượng tướng (bãi bỏ năm 1994).
    • Thượng tướng
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cao cấp
    • Nhất cấp Quân sĩ trưởng
    • Nhị cấp Quân sĩ trưởng
    • Tam cấp Quân sĩ trưởng
  • Trung cấp
    • Tứ cấp Quân sĩ trưởng
    • Thượng sĩ
  • Sơ cấp
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Quy định về tương quan chức vụ và quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ tịch Quân uỷ Trung ương (thường do Tổng bí thư kiêm nhiệm): không cấp quân hàm.
  • Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Ủy viên Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Tư lệnh Đại quân khu: Thượng tướng hoặc Trung tướng
  • Phó Tư lệnh Đại quân khu: Trung tướng hoặc Thiếu tướng
  • Tư lệnh Quân đoàn: Thiếu tướng hoặc Trung tướng.
  • Phó Tư lệnh Quân đoàn:Thiếu tướng hoặc Đại hiệu.
  • Sư đoàn trưởng: Đại hiệu hoặc Thiếu tướng.
  • Lữ đoàn trưởng (Sư đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Đại hiệu.
  • Trung đoàn trưởng (Lữ đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Trung đoàn phó: Trung hiệu hoặc Thiếu hiệu.
  • Tiểu đoàn trưởng: Thiếu hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Tiểu đoàn phó: Thượng úy hoặc Thiếu hiệu.
  • Đại đội trưởng: Thượng úy hoặc Trung úy.
  • Đại đội phó: Trung úy hoặc Thượng úy.
  • Trung đội trưởng: Thiếu úy hoặc Trung úy.

Các chức vụ không được nêu sẽ được đối chiếu xem tương đương với chức vụ nào ở trên để áp dụng quân hàm phù hợp.Chính ủy,phó chính ủy một đơn vị sẽ áp dụng quân hàm y như với chỉ huy trưởng, chỉ huy phó của đơn vị đó.

Văn hiến tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â IISS 2010, pp. 398–404
  2. ^ “China's Xi ramps up military spending in face of worried region”. Reuters. Ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014. 
  3. ^ “China's top 10 state-owned defence group”. chicagotribune.com. Ngày 16 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  4. ^ http://www.washingtontimes.com/news/2014/mar/13/inside-china-why-putins-intervention-in-ukraine-is/?page=all
  5. ^ “China / Aircraft / Jianjiji / Fighter”. GlobalSecurity.org. 
  6. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  7. ^ 中国人民解放军军旗军徽的诞生, 新华网。2007年8月2日[2013年8月13日]。
  8. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  9. ^ 《人民解放军进行曲》 军歌嘹亮永向前, 新华网。2008年7月9日[2013年8月13日]。
  10. ^ 《八路军进行曲》:军歌嘹亮七十载, 中国文化传媒网。2012年9月18日[2013年8月13日]。
  11. ^ 战史今日7月25日:中国人民解放军军歌确定, 中国新闻网。2013年7月25日[2013年8月13日]。
  12. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  13. ^ Chế độ chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa [Zhonghua Renmin Gongheguo Zhengzhi Zhidu] Chief Editor Pu Xingzu, Shanghai, 2005, Shanghai People’s Publishing House. ISBN 7-208-05566-1]Chapter 11, the State Military System, pp. 369 - 392]
  14. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Dịch từ guyên tác tiếng Nga của Nhà xuất bản Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. Nhà xuất bản Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  15. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. Nhà xuất bản Popury (Nga). 2002. Bản dịch của Đại Vỹ. Nhà xuất bản Thông tấn. Hà Nội. 2004
  16. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của Nhà xuất bản Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. Nhà xuất bản Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  17. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của Nhà xuất bản Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. Nhà xuất bản Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449-450.
  18. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của Nhà xuất bản Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. Nhà xuất bản Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 450-451.
  19. ^ Squadron Leader KK Nair, "Space: The Frontiers of Modern Defence", Knowledge World Publishers, New Delhi, Chap-6, Pgs123-126
  20. ^ Squadron Leadr KK Nair, Space:The Frontiers of Modern Defence, pg 123
  21. ^ China plays down fears after satellite shot down, AFP via Yahoo! News, January 19

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]