Bước tới nội dung

Diệp Kiếm Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Diệp Kiếm Anh
葉劍英
Nguyên soái Diệp Kiếm Anh
Chức vụ
Nhiệm kỳ5 tháng 3, 1978 – 18 tháng 6, 1983
Tiền nhiệmChu Đức (Ủy viên trưởng)
Tống Khánh Linh (Chủ tịch nước)
Kế nhiệmLý Tiên Niệm (Chủ tịch nước)
Bành Chân (Ủy viên trưởng)
Nhiệm kỳ7 tháng 10, 1976 – 12 tháng 9, 1982
Tiền nhiệmHoa Quốc Phong
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
Nhiệm kỳ5 tháng 3, 1978 – 6 tháng 6, 1983
Tiền nhiệmChu Đức
Kế nhiệmBành Chân
Nhiệm kỳ1975 – 1978
Tiền nhiệmLâm Bưu
Kế nhiệmTừ Hướng Tiền
Thị trưởng Quảng Châu
Nhiệm kỳ1949 – 1952
Kế nhiệmHà Vĩ (何伟)
Vị tríQuảng Châu
Thông tin cá nhân
Quốc tịchTrung Quốc
Sinh28 tháng 4 năm 1897
Mai Huyện, Quảng Đông, Đại Thanh
Mất22 tháng 10 năm 1986 (89 tuổi)
Bắc Kinh, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
Nguyên nhân mấttuổi già sức yếu biến chứng suy đa tạng.
Nghề nghiệpChính trị gia, quân nhân
Dân tộcKhách Gia
Tôn giáokhông
Đảng chính trịĐảng Cộng sản Trung Quốc
Vợ
  • Người vợ cả (Họ phụ mẫu đặt đâu con ngồi đấy, hai người kết hôn khi ông còn trẻ, không rõ tên tuổi, không có con chung và sớm ly hôn, kết hôn 1912-ly hôn 1914)
  • Phùng Hoa (冯华) (kết hôn 1924-ly hôn 1927)
  • Tăng Hiến Thực (曾宪植) (kết hôn 1927-ly hôn 1937)
  • Ngụy Củng Chi (危拱之) (kết hôn 1936-ly hôn 1937)
  • Ngô Bác (吴博) (kết hôn 1940-ly hôn 1946)
  • Lý Cương (李刚) (kết hôn 1948-ly hôn 1955)
Con cái
  • Diệp Tuyển Bình (Con trai cả của ông và bà Phùng Hoa)
  • Diệp Sở Mai (Con gái cả của ông và bà Phùng Hoa)
  • Diệp Tuyển Ninh (Con trai thứ hai của ông và bà Tăng Hiến Thực)
  • Diệp Hướng Chân (Con gái thứ hai của ông bà Ngô Bác)
  • Diệp Tuyển Liêm (Con trai út của ông và bà Lý Cương)
  • Diệp Văn Nhã (Con gái út của ông và bà Lý Cương)
Học vấn
  • Học viện Quân sự Giảng võ Vân Nam
  • Trường Quân sự Đặc biệt Moskva (1928-1930)
Alma materTrường quân sự Hoàng Phố

Diệp Kiếm Anh (giản thể: 叶剑英, phồn thể: 葉劍英, bính âm: Yè Jiànyīng, Wade-Giles: Yeh Chien-ying; 28 tháng 4 năm 1897 - 22 tháng 10 năm 1986) là một vị nguyên soái của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Nhân đại từ năm 1978 đến 1983. Ông là một trong 10 nguyên soái của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Tên khai sinh là Diệp Nghi Vĩ (葉宜偉), ông sinh trong một gia đình buôn bán giàu có theo đạo Cơ đốc ở huyện Mai, tỉnh Quảng Đông, tên tự của ông là Thương Bạch (滄白). Ông thuộc về một cộng đồng người Khách Gia.

Quá trình hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]
Diệp Kiếm Anh năm 1921

Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Vân Nam năm 1919, ông theo Tôn Trung Sơn và gia nhập Quốc Dân Đảng. Ông đã giảng dạy tại Học viện Quân sự Hoàng Phố và gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1927. Trong chiến tranh Bắc phạt, ông là sư đoàn trưởng Quân Cách mạng Quốc dân, tham mưu trưởng quân đoàn.

Tháng 12-1927, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Quảng Châu. Ông theo học ở Liên Xô (1928-30) rồi tham gia Vạn lý trường chinh (1934-1936), giúp Chu Ân Lai giải quyết hòa bình sự biến Tây An ngày 12 tháng 12 năm 1936.

Trong chiến tranh chống Nhật, năm 1941 ông là Tham mưu trưởng Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, thành viên phái đoàn Đảng Cộng sản Trung Quốc đàm phán đình chiến với Quốc dân Đảng.

Năm 1947-1952, ông là Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, Thị trưởng thành phố Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Phân cục Hoa Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Quảng Đông, Tư lệnh Quân khu Hoa Nam; quyền Tư lệnh Quân khu, Phó Chủ tịch Hội đồng Quân chính, quyền Bí thư Trung ương cục Trung Nam. Đồng thời là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông (tên gọi cũ của chức vụ Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân), kiêm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông từ 1949 đến 1951.

Năm 1954-1975, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng khóa I-III, Phó Chủ tịch Ủy ban Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc khóa IV, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương (từ 1966), Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Năm 1975-1978, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đóng vai trò quan trọng trong việc lật đổ bè lũ bốn tên. Sau đó ông làm Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khóa V (chức vụ này lúc đó đóng vai trò như Nguyên thủ quốc gia), Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương khóa VI. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VII-XII, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII-XII, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa X-XI.

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nguyên phối: Phùng Hoa (馮華), kết hôn năm 1924 trong một cuộc hôn nhân sắp đặt.
  • Tăng Hiến Thực và con trai
    Kế phối: Tăng Hiến Thực (曾憲植; 1910 - 1989), người Hồ Nam, xuất thân hiển hách, là huyền tôn nữ của Tăng Quốc Thuyên, em trai đại thần Tăng Quốc Phiên nhà Thanh. Kết hôn năm 1927, về sau đảm nhiệm vai trò thư ký cho Đặng Dĩnh Siêu, từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Toàn quốc Trung Quốc.
  • Tam kế phối: Ngụy Củng Chi (危拱之; 1905 - 1973), nguyên danh Ngọc Thần (玉辰), người Tín Dương, Hà Nam, một nữ chiến sĩ Vạn lý Trường chinh. Kết hôn năm 1937 tại Diên An, từng giữ chức Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Nam.
  • Tứ kế phối: Ngô Bác (吳博; 1917 - 2023), người Giang Tô, kết hôn năm 1940 khi bà đang là nhân viên cơ yếu của Cục Phương Nam.
  • Ngũ kế phối: Lý Cương (李剛), kết hôn năm 1948, ly hôn năm 1955.

Từ sau năm 1955, Diệp Kiếm Anh không kết hôn chính thức thêm lần nào nữa. Tuy nhiên, bên cạnh ông lần ước xuất hiện thêm ba người phụ nữ. Họ chủ yếu đảm nhận vai trò chăm sóc sinh hoạt thường ngày cho Diệp Soái mà không có danh phận chính thức; việc họ có con cái với ông hay không cũng không được ghi chép rõ ràng. Con trai của Đại tướng La Thụy Khanh là La Vũ (羅宇) từng hồi tưởng lại rằng: Vào năm 1956 tại Bắc Đới Hà, do Diệp Kiếm Anh có mối quan hệ ngoài luồng với nữ y tá khác, một vị "tiểu phu nhân" (vợ bé) khác của ông đã trong trạng thái khỏa thân định nhảy xuống biển tự vẫn, nhưng may mắn được lực lượng cảnh vệ kịp thời ngăn cản. Sự việc này từng gây ra những cuộc bàn tán xôn xao, "huyên náo một thời" tại Bắc Đới Hà. Chính vì có nhiều người vợ và hồng nhan tri kỷ bên đời, Diệp Kiếm Anh còn được dân gian gọi bằng biệt danh "Hoa Soái" (花帥) (vị Nguyên soái hào hoa).

Khen thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương Bát Nhất hạng Nhất

Huân chương Độc lập và Tự do hạng Nhất

Huân chương Giải phóng hạng Nhất

Nguyên soái Diệp Kiếm Anh rất đông con và đều giữ những chức vụ quan trọng:

Con cả Diệp Tuyển Bình, Phó chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân toàn quốc;

Con trai Diệp Tuyển Ninh, Trung tướng, từng là Cục trưởng Liên lạc thuộc Tổng bộ chính trị, Ủy viên thường vụ quốc hội;

Con trai Diệp Tuyển Liêm, ủy viên Chính Hiệp toàn quốc, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ công ty Khải Lợi;

Con gái Diệp Sở Nam, nguyên Phó Cục trưởng thuộc Bộ CN Cơ khí (chồng là Trâu Gia Hoa, nguyên Phó thủ tướng);

Con gái Diệp Hướng Trân;

Con gái Diệp Văn San, Chủ tịch HĐQT Công ty đầu tư Hoa kiều Hải Nam, (chồng Dư Phương Phương là con trai trung tướng Dư Thu Lý, nguyên Bộ trưởng Bộ Dầu khí)

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]