Tuyên bố chung Trung-Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tuyên bố chung Trung-Anh
中英聯合聲明(tiếng Trung)
Ngày kí19 tháng 12 năm 1984
Nơi kíBắc Kinh,  Trung Quốc
Ngày đưa vào hiệu lực27 tháng 5 năm 1985
Điều kiệnCác bên ký kết xác nhận
Bên kíTriệu Tử Dương, Thủ tướng
Margaret Thatcher, Thủ tướng
Bên tham gia Trung Quốc
 Anh Quốc
Tuyên bố chung Trung-Anh
Phồn thể 中英聯合聲明
Giản thể 中英联合声明
Joint Declaration of the Government of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and the Government of the People's Republic of China on the Question of Hong Kong
Phồn thể 中華人民共和國政府和大不列顛及北愛爾蘭聯合王國政府關於香港問題的聯合聲明
Giản thể 中华人民共和国政府和大不列颠及北爱尔兰联合王国政府关于香港问题的联合声明

Tuyên bố chung Trung-Anh, tên gọi chính thức là Tuyên bố chung của Chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về vấn đề Hồng Kông, là một hiệp ước song phương quốc tế được ký kết giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Vương quốc Anh (Anh) vào ngày 19 tháng 12 năm 1984 tại Bắc Kinh.[1] Bản tuyên bố quyết định vấn đề chủ quyền và thỏa thuận quản lý đối với Hồng Kông sau ngày 1 tháng 7 năm 1997, khi thời hạn thuê Tân Giới kết thúc theo Công ước mở rộng lãnh thổ Hồng Kông.

Bản tuyên bố được ký bởi Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thay mặt cho chính phủ của mình. Nó bắt đầu có hiệu lực sau khi trao đổi các văn kiện phê chuẩn vào ngày 27 tháng 5 năm 1985, và được chính phủ Trung Quốc và Anh đăng ký với Liên Hiệp Quốc vào ngày 12 tháng 6 năm 1985. Trong Bản tuyên bố chung, chính phủ Trung Quốc tuyên bố đã quyết định tiếp quản quyền chủ quyền đối với Hồng Kông (bao gồm Đảo Hồng Kông, Cửu Long, và Tân Giới) kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1997, và chính phủ Anh tuyên bố họ sẽ trao Hồng Kông cho Trung Quốc kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1997. Chính phủ Trung Quốc cũng tuyên bố những chính sách cơ bản đối với Hồng Kông trong Bản tuyên bố.

Theo nguyên tắc "một quốc gia, hai chế độ" mà hai nước đã đồng ý, hệ thống hệ thống xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ không được thực hiện ở Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Đặc khu) và hệ thống tư bản và lối sống trước đó của Hồng Kông sẽ không thay đổi trong khoảng thời gian 50 năm cho đến năm 2047. Tuyên bố chung quy định rằng các chính sách cơ bản này phải được quy định trong Luật Cơ bản Hồng Kông.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Anh chiếm đoạt Đảo Hồng Kông năm 1842, Bán đảo Cửu Long năm 1860, và thuê Tân Giới vào năm 1898 trong vòng 99 năm.

Bối cảnh của Tuyên bố chung Trung-Anh là việc hạn cho thuê Tân Cảng sắp kết thúc vào ngày 1 tháng 7 năm 1997.[2] Thỏa thuận thuê này do Anh và Hoàng đế Quang Tự của Trung Quốc thực hiện, kéo dài 99 năm kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1898 trong Công ước Bắc Kinh lần hai. Vào thời điểm ký kết thỏa thuận thuê, Đảo Hồng Kông đã được giao cho Anh vĩnh viễn theo Điều ước Nam Kinh vào năm 1842 sau Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, và phần phía nam của Bán đảo Cửu Long cũng như Bãi Ngang Thuyền được giao cho Anh vĩnh viễn theo Điều ước Bắc Kinh năm 1860 sau Chiến tranh nha phiến lần thứ hai.

Vào đầu những năm 1980 lãnh thổ và nền kinh tế đang phát triển mạnh tại đây bắt đầu khiến người ta lo ngại về tương lai của Hồng Kông.[3] Tình trạng không chắc chắn về chính trị làm dấy lên những lo ngại về quyền tài sản và hợp đồng khi sắp đến thời hạn trả Tân Giới về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[4] Vào tháng 3 năm 1979, Toàn quyền Hồng Kông, Murray MacLehose, viếng thăm Bắc Kinh. Trong chuyến thăm đó, đã có những cuộc thảo luận không chính thức về tương lai Hồng Kông. Sau khi quay về, MacLehose cố gắng trấn an các nhà đầu tư về việc trao trả sắp đến, nhưng cũng nhắc lại rằng Trung Quốc dự định sẽ lấy lại chủ quyền đối với Hồng Kông.[4] Cuộc thương thuyết chính thức đầu tiên bắt đầu khi Thủ tướng Anh thăm Trung Quốc và gặp Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình vào tháng 9 năm 1982.[4]

Trong các cuộc thảo luận tiếp theo với sự có mặt của Toàn quyền Hồng Kông với tư cách thành viên phái đoàn Anh, ngày càng chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận sự tiếp tục quản lý của Anh sau năm 1997 dưới bất cứ hình thức nào.[5] Chính phủ Trung Quốc nhất quán quan điểm rằng toàn bộ Hồng Kông phải là lãnh thổ của Trung Quốc, do chúng đã bị tước đoạt trong những hiệp ước bất bình đẳng trước đây.[6] Hai bên chuyển sang thảo luận các giải pháp khác và đi đến khái niệm Hồng Kông trở thành một Đặc khu Hành chính của Trung Quốc. Vào tháng 4 năm 1984, hai bên kết thúc thảo luận ban đầu về vấn đề này, và thỏa thuận rằng Hồng Kông sẽ được giữ mức độ tự trị cao thuộc quyền chủ quyền của Trung Quốc và giữ nguyên lối sống tại Hồng Kông.[5] Đến ngày 18 tháng 9 năm 1984, hai bên đã chấp thuận nội dung văn kiện bằng tiếng Anh và tiếng Trung cùng với bản Trao đổi Ghi nhớ.

Việc ký kết Tuyên bố chung đã gây ra những tranh cãi tại Anh vì Thủ tướng thuộc Đảng Bảo thủ Margaret Thatcher đã ký thỏa thuận với chính quyền Cộng sản Trung Quốc với đại diện là Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, những nhà phân tích chính trị tin rằng bà không còn sự lựa chọn nào khác là phải đồng ý thỏa thuận vì "thứ thay thế cho việc chấp nhận bản thỏa thuận hiện tại là không có thỏa thuận nào cả",[7] một tình huống không thể chấp nhận được nếu xét đến thế yếu của Anh trong thương thuyết. Vì Hồng Kông không thể được bảo vệ bằng biện pháp quân sự và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thực phẩm và nước sạch từ tỉnh Quảng Đôngđại lục,[7] hoàn toàn không khả thi về mặt kinh tế nếu chia tách Hồng Kông (tức là nước Anh giữ quyền kiểm soát Đảo Hồng KôngCửu Long còn Tân Giới được trả về cho Trung Quốc). Hơn nữa, việc có được một thỏa thuận là một điều cấp thiết vì có lo ngại rằng nền kinh tế Hồng Kông sẽ sụp đổ trong những năm 1980 nếu không đạt được thỏa thuận. Những lo ngại về quyền sở hữu đất đai trong khu vực Tân Giới càng làm vấn đề trở nên khó khăn hơn. Mặc dù những thảo luận về tương lai của Hồng Kông đã được bắt đầu từ cuối thập niên 1970, thời điểm chốt lại Tuyên bố chung phụ thuộc vào yếu tố tài sản và kinh tế nhiều hơn là các nhu cầu về địa chính trị.[7]


Nội dung của Hiệp ước[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên bố chung[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên bố chung Trung-Anh bao gồm tám đoạn, ba Phụ lục về Các chính sách cơ bản đối với Hồng Kông, Nhóm liên lạc Trung-Anh và Việc thuê đất cũng như hai Bản ghi nhớ của hai bên. Mỗi phần có sự quan trọng ngang nhau, và "Toàn bộ tạo thành một thỏa thuận quốc tế chính thức, có ràng buộc pháp lý đối với từng phần. Một thỏa thuận quốc tế kiểu như vậy là hình thức cam kết cao nhất giữa hai quốc gia có chủ quyền."[8] Trong các tuyên bố, Đặc khu Hành chính Hồng Kông sẽ được đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và sẽ được hưởng quyền tự quyết cao ngoại trừ vấn đề ngoại giao và quốc phòng. Nó được cho phép có quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp độc lập, bao gồm cả quyền phán quyết cuối cùng. Luật Cơ bản giải thích rằng ngoài tiếng Trung, tiếng Anh cũng sẽ được dùng trong các cơ quan chính quyền và rằng bên cạnh quốc kỳ và quốc huy của Trung Quốc, Đặc khu cũng sẽ có lá cờ và huy hiệu riêng. Nó sẽ duy trì hệ thống kinh tế và thương mại tư bản như đã được vận hành trước đây tại Hồng Kông.

Đoạn thứ ba liệt kê các chính sách cơ bản của Trung Quốc đối với Hồng Kông:

  • Sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ sẽ được duy trì và Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Đặc khu) sẽ được thành lập.[9]
  • "[Đặc khu] sẽ được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ Nhân dân Trung ương của [Trung Quốc và] sẽ được hưởng mức độ tự quyết cao, ngoại trừ các vấn đề về đối ngoại và quốc phòng." "[10]
  • "[Đặc khu] sẽ được trao quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập, bao gồm cả quyền phán xử cuối cùng. Pháp luật hiện hành tại Hồng Kông về cơ bản sẽ không thay đổi." [11]
  • "Chính quyền [Đặc khu] sẽ bao gồm cư dân tại địa phương. Trưởng Đặc khu sẽ do Chính phủ Nhân dân Trung ương chỉ định dựa trên kết quả bầu cử hoặc tư vấn diễn ra tại Đặc khu. Các viên chức chính yếu sẽ do Trưởng [Đặc khu] đề cử lên Chính phủ Nhân dân Trung ương để được chỉ định. Những người mang quốc tịch Trung Quốc và ngoại quốc trước đây làm việc trong cơ quan hành chính và cảnh sát tại các cơ quan chính quyền Hồng Kông vẫn được tiếp tục làm việc. Những người mang quốc tịch Anh và các ngoại quốc khác cũng vẫn có thể tiếp tục làm việc với vai trò cố vấn hoặc giữ những chức vụ công cộng nhất định trong chính quyền [Đặc khu]."[12]
  • "Hệ thống xã hội và kinh tế, cũng như lối sống hiện tại ở Hồng Kông sẽ không thay đổi. Các quyền lợi và quyền tự do, bao gồm tự do cá nhân, ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, du lịch, đi lại, thư tín, đình công, lựa chọn việc làm, nghiên cứu học thuật và niềm tin tôn giáo sẽ được đảm bảo bằng pháp luật tại [Đặc khu]. Quyền tư hữu về tài sản, quyền sở hữu doanh nghiệp, quyền thừa kế chính đáng và đầu tư ra nước ngoài sẽ được pháp luật bảo hộ." [13]
  • "[Đặc khu] sẽ được giữ tình trạng cảng tự do và lãnh thổ hải quan riêng rẽ." [14]
  • "[Đặc khu] sẽ được giữ tình trạng trung tâm tài chính quốc tế" với dòng vốn tự do và đô-la Hồng Kông sẽ tiếp tục được chuyển đổi tự do.[15]
  • Nó sẽ có tài chính độc lập với ngân sách và tài khoản quyết toán riêng, nhưng phải báo cáo lên Chính phủ Nhân dân Trung ương. Ngoài ra, "Chính phủ Nhân dân Trung ương sẽ không đánh thuế lên [Đặc khu]." [16]
  • "[Đặc khu] có thể lập quan hệ tài chính đôi bên cùng có lợi với Vương quốc Anh và các nước khác [...]" [17]
  • Tên gọi dùng trong các quan hệ quốc tế sẽ là 'Hồng Kông, Trung Quốc'. Với tên gọi đó, Đặc khu được phép tự duy trì và phát triển các mối quan hệ kinh tế và văn hóa và ký kết các thỏa thuận với các quốc gia, lãnh thổ và các tổ chức quốc tế tương ứng và có thể cấp tài liệu du lịch cho Hồng Kông. Các thỏa thuận quốc tế mà Trung Quốc không phải là bên tham gia nhưng Hồng Kông là bên tham gia thì vẫn được thực hiện tại Đặc khu.
  • Chính quyền Đặc khu chịu trách nhiệm duy trì trật tự xã hội. Các lực lượng quân đội do Chính phủ Nhân dân Trung ương gửi đến để đóng quân tại Đặc khu Hành chính Hồng Kông với mục đích quốc phòng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của [Đặc khu].
  • Các chính sách cơ bản đó sẽ được quy định trong Luật Cơ bản của Đặc khu Hành chính Hồng Kông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bởi Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc và sẽ không thay đổi trong vòng 50 năm.

Chính phủ Vương quốc Anh sẽ chịu trách nhiệm trong việc điều hành Hồng Kông với mục đích duy trì và bảo tồn sự thịnh vượng về kinh tế và ổn định về chính trị cho tới ngày 30 tháng 6 năm 1997 và Chính phủ Trung Quốc sẽ hợp tác với cùng mục tiêu này.

Ngoài ra, tuyên bố này cũng điều chỉnh quyền định cư, quyền hộ chiếu và nhập cư. Tất cả những công dân Trung Quốc được sinh ra hoặc định cư tại Hồng Kông trong thời gian liên tục từ 7 năm trở lên sẽ đủ điều kiện có thẻ căn cước lâu dài. Những người có thẻ này cũng có thể có hộ chiếu Đặc khu và có hiệu lực đối với mọi quốc gia và lãnh thổ. Nhưng việc nhập cảnh vào Hồng Kông của những người từ những nơi khác của Trung Quốc sẽ tiếp tục được điều chỉnh như cách làm hiện tại.

Các chính sách cơ bản của Trung Quốc đối với Hồng Kông (Phụ lục I)[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ lục này được gọi là Giải thích của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về các chính sách cơ bản đối với Hồng Kông. Nó được đề cập một phần trong phần tóm tắt bên trên và nói chi tiết về cách Hồng Kông sẽ vận hành sau ngày 1 tháng 7 năm 1997. Phụ lục gồm các phần: (1) Thỏa thuận hiến pháp và cấu trúc chính quyền; (II) pháp luật; (III) hệ thống tư pháp; (IV) dịch vụ công; (V) hệ thống tài chính; (VI) hệ thống kinh tế và các mối quan hệ kinh tế bên ngoài; (VII) hệ thống tiền tệ, (VIII) vận tải hàng hải, (IX) hàng không dân dụng; (X) giáo dục; (XI) đối ngoại; (XII) quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội; (XIII) quyền cơ bản và quyền tự do; (XIV) quyền định cư, du lịch và nhập cư.

Nhóm liên lạc chung Trung-Anh (Phụ lục II)[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ lục II thiết lập Nhóm liên lạc chung. Nhóm này bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 1988 cho đến ngày 1 tháng 1 năm 2000. Các chức năng bao gồm

a) thực hiện tham vấn để hiện thực Tuyên bố chung;
b) thảo luận các vấn đề liên quan đến việc chuyển giao chính quyền một cách suôn sẻ vào năm 1997;
c) trao đổi thông tin và thực hiện tham vấn về các chủ đề đã được đồng ý bởi hai bên.[18]

Nhóm này là một cơ quan để liên lạc chứ không phải cơ quan quyền lực, trong đó mỗi bên có thể cử tối đa 20 nhân viên hỗ trợ. Nhóm sẽ gặp nhau ít nhất một lần tại ba địa điểm (Bắc Kinh, Luân Đôn và Hồng Kông) mỗi năm. Từ ngày 1 tháng 7 năm 1988 trở về sau sẽ đặt tại Hồng Kông. Nó cũng hỗ trợ Đặc khu duy trì và phá triển mối quan hệ kinh tế và văn hóa và đạt được thỏa thuận về các vấn đề trên với các quốc gia, khu vực và các tổ chức quốc tế phù hợp và do đó có thể lập các nhóm chuyên môn nhỏ. Từ năm 1985 đến năm 2000 Nhóm liên lạc chung đã có 47 cuộc gặp toàn thể trong đó 18 cuộc gặp diễn ra tại Hồng Kông, 15 tại Luân Đôn và 14 tại Bắc Kinh.

Một trong những thành tựu chính của Nhóm là đảm bảo tính liên tục của quyền tư pháp độc lập tại Hồng Kông, bao gồm các thỏa thuận trong các lĩnh vực luật về Vận tải hàng hóa, Hàng không dân dụng, Vật liệu hạt nhân, Săn bắt cá voi, Điện báo tàu ngầm, Không gian và các luật khác. Ngoài ra, Nhóm đã thỏa thuận một mạng lưới thỏa thuận song phương giữa Hồng Kông và các nước khác. Trong các thỏa thuận này là việc tiếp tục áp dụng khoảng 200 điều ước quốc tế với Đặc khu sau ngày 30 tháng 6 năm 1997. Hồng Kông cũng tiếp tục tham gia vào các tổ chức quốc tế khác nhau sau khi được chuyển giao.

Việc thuê đất (Phụ lục III)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Phụ lục này, tất cả đất cho thuê, do Chính quyền Hồng Kông thuộc Anh thực hiện, kéo dài đến sau ngày 30 tháng 6 năm 1997 và mọi quyền liên quan đến việc thuê đất sẽ tiếp tục được công nhận và bảo vệ theo luật pháp của Đặc khu với thời hạn không được sau ngày 30 tháng 6 năm 2047. Ngoài ra, một Ủy ban Đất đai cũng sẽ được thành lập với số viên chức bằng nhau giữa Chính phủ Anh và Chính phủ Trung Quốc và sẽ được giải thể vào ngày 30 tháng 6 năm 1997. Ủy ban này được thành lập năm 1985 và nhóm họp tại Hồng Kông với 35 cuộc họp chính thức và đồng ý 26 tài liệu pháp lý, trong đó có việc giao đất để xây dựng sân bay mới tại Xích Lạp Giác (Chek Lap Kok) vào năm 1994.

Bản ghi nhớ của Vương quốc Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bản ghi nhớ này, Vương quốc Anh tuyên bố rằng tất cả những ai đang giữ quyền Công dân Lãnh thổ thuộc Anh do có liên hệ với Hồng Kông sẽ không còn là công dân vào ngày 1 tháng 7 năm 1997. Sau tuyên bố, Đao luật Hồng Kông, 1985 và Chỉ thị (Quốc tịch Anh của) Hồng Kông, 1986 tạo ra loại Quốc tịch Anh (Hải ngoại). Những Công dân Lãnh thổ thuộc Anh được nộp đơn xin Quốc tịch Anh (Hải ngoại) cho đến tháng 7 năm 1997, nhưng địa vị này chỉ riêng nó không đủ để cấp quyền định cư ở bất cứ đâu, bao gồm cả Vương quốc Anh lẫn Hồng Kông. Sau khi được chuyển giao, phần lớn những công dân Lãnh thổ thuộc Anh trở thành công dân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Những người không đủ điều kiện trở thành công dân Trung Quốc và chưa nộp đơn xin tình trạng Quốc tịch Anh (Hải ngoại) sẽ tự động trở thành Công dân Hải ngoại của Anh.

Bản ghi nhớ của Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

"Theo Luật Quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả những đồng hương Trung Quốc Hồng Kông, dù cho họ có sở hữu 'Hộ chiếu Công dân Lãnh thổ thuộc Anh' hay không, đều là công dân Trung Quốc." Những người này nếu sử dụng tài liệu du lịch do Chính phủ Vương quốc Anh cấp được phép dùng chúng với mục đích du lịch đến các quốc gia và lãnh thổ khác, nhưng không được phép nhận sự bảo hộ lãnh sự của Anh tại Đặc khu và những phần khác của Trung Quốc.

Thời gian sau Tuyên bố[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ký kết bản tuyên bố, Nhóm liên lạc chung Trung-Anh được thành lập theo Phụ lục II của tuyên bố.

Việc chuyển giao quyền chủ quyền của Hồng Kông (tùy vào báo chí Trung Quốc hay Anh mà được gọi là "sự trở về" hoặc "sự chuyển giao") diễn ra như kế hoạch vào ngày 1 tháng 7 năm 1997. Từ khi trở về, chỉ có một số điều bị thay đổi, như cờ Hồng Kông và Tòa nhà Công tước xứ Wales được đổi tên thành Tòa nhà Quân đội Giải phóng Nhân dân. Các hòm thư được sơn lại thành màu xanh, theo thông lệ tại Trung Quốc. Tên đường vẫn được giữ nguyên và Câu lạc bộ Thuyền buồm Hồng Kông Hoàng gia vẫn được giữ tiền tố "Hoàng gia", dù Câu lạc bộ Đua ngựa Hồng Kông và các tổ chức khác đã bị bỏ tiền tố này.[19]

Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, biện pháp Hồng Kông đã được thực hiện với sự hợp tác hoàn toàn của chính phủ Trung Quốc. Điều này không có nghĩa là chính phủ Trung Quốc quy định Hồng Kông phải làm gì và do đó vẫn phù hợp với các quy định của tuyên bố.[20]

Mặc dù có quyền tự quyết, chính quyền Đặc khu Hành chính Hồng Kông đôi khi vẫn yêu cầu chính phủ Trung Quốc cho lời khuyên. Vào năm 1999 chính quyền Đặc khu yêu cầu Quốc vụ viện Trung Quốc giải thích một điều trong Luật Cơ bản của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Chính phủ Trung Quốc nói rằng một phán quyết của Tòa Chung thẩm Hồng Kông sẽ cho phép 1,6 triệu người đại lục nhập cư vào Hồng Kông. Sau đó, chính quyền Trung Quốc đã ra lệnh và phát quyết của Hồng Kông sau đó đã bị bãi bỏ.[cần giải thích][21]

Những áp lực từ chính quyền đại lục cũng khá rõ, như vào năm 2000, sau khi ứng cử viên ủng hộ độc lập Trần Thủy Biển được bầu làm Tổng thống Đài Loan, một quan chức cấp cao của đại lục tại Hồng Kông đã cảnh báo các nhà báo không được thông báo tin này. Một quan chức cấp cao khác đã khuyên các doanh nhân không làm ăn với những người Đài Loan ủng hộ độc lập.[21]

Với những sự việc như vậy,[21] trong dịp kỷ niệm 10 năm trở về, vào năm 2007, báo The Guardian viết rằng một mặt, "khong có gì thay đổi kể từ khi chuyển giao sang Trung Quốc 10 năm trước", nhưng đó là khi so sánh với tình hình trước khi toàn quyền cuối cùng Chris Patten thực hiện các cải cách dân chủ ba năm trước khi chuyển giao. Cơ hội có được dân chủ đã bị mất khi Hồng Kông chỉ vừa mới có được ba yếu tố quan trọng cho một nền dân chủ kiểu phương Tây (pháp trị, sự chịu trách nhiệm của quan chức và một tầng lớp chính trị bên ngoài hệ thống độc đảng) nhưng thỏa thuận Trung-Anh đã ngăn không cho bất cứ thay đổi nào trong đó được tiếp tục.[22]Bản mẫu:Opinion

Ngô Bang Quốc, chủ tịch Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đã nói trong một hội thảo tại Bắc Kinh năm 2007 rằng "Hồng Kông có được sự tự trị đáng kể chỉ vì chính quyền trung ương đã quyết định cho phép sự tự trị đó".[23]

Các thay đổi vào thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2014, sau cuộc Cách mạng dù, Ủy ban đối ngoại của Anh đã bị Trung Quốc cấm không cho nhập cảnh vào Hồng Kông trong chuyến thăm đã định trước vào tháng 12 để kiểm tra tiến độ thực hiện Tuyên bố chung Trung-Anh. Trong một cuộc tranh luận khẩn cấp tại nghị viện về vụ cấm này, chủ tịch ủy ban Richard Ottaway tiết lộ rằng các quan chức Trung Quốc xem Tuyên bố chung là "vô hiệu và chỉ có hiệu lực từ ngày ký năm 1984 cho đến khi chuyển giao năm 1997."[24]

Vào năm 2016, Caroline Wilson, Tổng lãnh sự Anh tại Hồng Kông và Ma Cao, nói rằng vụ mất tích của chủ hiệu sách Causeway Bay là một sự vi phạm tuyên bố chung.[25]

Vào tháng 7 năm 2017, khi Ngoại trưởng Anh Boris Johnson đòi hỏi phải có tiến triển dân chủ tại Hồng Kông,[26][27] phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng nói rằng hiệp ước trao trả Hồng Kông với Anh chỉ là 'một tài liệu của lịch sử, không còn có ý nghĩa thực tế nữa,' và rằng 'Nó hoàn toàn không có tính ràng buộc đối với sự quản lý của chính quyền trung ương đối với Hồng Kông. Vương quốc Anh không còn có quyền chủ quyền, quyền lãnh đạo và quyền giám sát Hồng Kông sau khi trao trả.'[28][29][30][31][32] Phản hồi lại, Bộ ngoại giao Anh nói rằng: "Nó là một hiệp ước có tính ràng buộc pháp lý, được đăng ký với Liên Hiệp Quốc và tiếp tục còn hiệu lực. Là một bên ký kết, chính phủ Anh cam kết giám sát việc thực hiện nó một cách cặn kẽ." Johnson cũng nhắc lại cam kết của Anh đối với Hồng Kông đã được ghi rõ trong "hiệp ước" và "vẫn mạnh vào hôm nay" như vào 20 năm trước.[29][32]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cục pháp chế và Sự vụ đại lục, Chính quyền Đặc khu Hành chính Hồng Kông. "Tuyên bố chung" và các trang trong đó, 1 tháng 7 năm 2007.
  2. ^ United States (1997). Hong Kong's reversion to the People's Republic of China: hearing before the Subcommittee on Asia and the Pacific of the Committee on International Relations, House of Representatives, One Hundred Fifth Congress, first session, February 13, 1997. Washington: U.S. Government Printing Office. ISBN 0160556651. 
  3. ^ Simpson, Andrew (2007). “Hong Kong”. Trong Andrew Simpson (ed.). Language and National Identity in Asia. Oxford; New York: Oxford University Press. tr. 168‒185. ISBN 9780191533082. 
  4. ^ a ă â Tsang, Steve (2005). A Modern History of Hong Kong, 1841–1997. London: I.B. Tauris & Co. ISBN 9780857714817. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ a ă Tucker, Nançy Bernkopf (2001). China Confidential: American Diplomats and Sino-American Relations, 1945–1996. Columbia University Press. ISBN 9780231106306. 
  6. ^ Mushkat, Roda (1997). One country, two international legal personalities: the case of Hong Kong. HKU Press law series. Hong Kong: Hong Kong University Press. ISBN 9622094279. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  7. ^ a ă â “Sino–British Joint Declaration”. Hong Kong Baptist University. tr. 29. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ Sino–British Joint Declaration Lưu trữ 8 December 2003 tại Wayback Machine., para. 19. Retrieved 8 August 2011
  9. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.1
  10. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.2
  11. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.3
  12. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.4
  13. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.5
  14. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.6
  15. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.7
  16. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.8
  17. ^ The Joint Declaration Paragraph 3.9
  18. ^ Constitutional and Mainland Affairs Bureau, The Government of the HKSAR. "The Joint Declaration and its Implementation, 1 July 2007.
  19. ^ A Battle Royal Rocks Imperial Yacht Club, Christian Science Monitor, 10 June 1996
  20. ^ McLaren, Robin. "Hong Kong 1997–2007: a personal perspective", retrieved at 17 April 2010.
  21. ^ a ă â Ching, Frank. "The System Works – More or Less", 1 January 2006. Lưu trữ 14 April 2009 tại Wayback Machine.
  22. ^ “Hong Kong's business as usual”. The Guardian. 1 tháng 7 năm 2007. .
  23. ^ Keith Bradsher, 7 June 2007, "World Briefing. Asia: China Reminds Hong Kong Who's Boss", The New York Times, New York, online.
  24. ^ “China says British complaints over Hong Kong visit ban 'useless'. South China Morning Post. 3 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ “吳若蘭:港獨不切實際 李波被帶返大陸首違聯合聲明 - 立場報道 - 立場新聞”. thestandnews.com. 
  26. ^ “Hong Kong Special Administrative Region 20th anniversary: written ministerial statement - GOV.UK”. www.gov.uk. 
  27. ^ “Video: UK Foreign Min. Boris Johnson urges democratic progress in Hong Kong”. hongkongfp.com. 30 tháng 6 năm 2017. 
  28. ^ “2017年6月30日外交部发言人陆慷主持例行记者会 — 中华人民共和国外交部”. www.fmprc.gov.cn. 
  29. ^ a ă “China says legally binding Hong Kong handover treaty with Britain has 'no practical significance'. The Daily Telegraph. 30 tháng 6 năm 2017. 
  30. ^ “China says Sino-British Joint Declaration on Hong Kong no longer has meaning”. 30 tháng 6 năm 2017 – qua Reuters. 
  31. ^ “外交部指中英聯合聲明是歷史文件 不再具任何現實意義 - RTHK”. 
  32. ^ a ă Phillips, Tom (30 tháng 6 năm 2017). “China attacks Boris Johnson over 'incorrect' views on Hong Kong”. The Guardian.