Đặng Tiểu Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đặng Tiểu Bình
邓小平
Deng Xiaoping.jpg
Đặng Tiểu Bình năm 1979
Chức vụ
Nhiệm kỳ 13 tháng 9 năm 1982 – 2 tháng 11 năm 1987
5 năm, 50 ngày
Tiền nhiệm Chức vụ được thành lập
Kế nhiệm Trần Vân
Phó Chủ nhiệm Bạc Nhất Ba
Hứa Thế Hữu
Đàm Chấn Lâm
Lý Duy Hán
Nhiệm kỳ 28 tháng 6 năm 1981 – 9 tháng 11 năm 1989
8 năm, 134 ngày
Tiền nhiệm Hoa Quốc Phong
Kế nhiệm Giang Trạch Dân
Phó Chủ tịch Diệp Kiếm Anh
Triệu Tử Dương
Dương Thượng Côn
Nhiệm kỳ 6 tháng 6 năm 1983 – 19 tháng 3 năm 1990
6 năm, 286 ngày
Tiền nhiệm Lưu Thiếu Kỳ (Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng,năm 1968)
Kế nhiệm Giang Trạch Dân
Phó Chủ tịch Diệp Kiếm Anh
Triệu Tử Dương
Dương Thượng Côn
Nhiệm kỳ 3/8/1978 – 17/6/1983
Tiền nhiệm Chu Ân Lai
Kế nhiệm Đặng Dĩnh Siêu
Phó Chủ tịch Ô Lan Phu
Vi Quốc Thanh
Bành Trùng
Triệu Tử Dương
Nhiệm kỳ 5/1/1975 – 7/4/1976
17/7/1977-2/3/1980
Tiền nhiệm Hoàng Vĩnh Thăng
Kế nhiệm Dương Đắc Chí
Phó Tổng Tham mưu trưởng Ngũ Tu Quyền
Vương Tranh
Trì Hạo Điền
Nhiệm kỳ 3/1954 – 10/1968
2/1973-4/1976
8/1977-9/1980
Tổng lý Chu Ân LaiHoa Quốc Phong
Nhiệm kỳ 10/1/1975 – 7/4/1976
19/8/1977-12/9/1982
Chủ tịch Mao Trạch ĐôngHoa Quốc PhongHồ Diệu Bang
Thông tin chung
Đảng phái Danghui.svg Đảng Cộng sản Trung Quốc
Sinh (1904-08-22)22 tháng 8, 1904
Mất 19 tháng 2, 1997(1997-02-19) (92 tuổi)
Học vấn Đại học
Học sinh trường Đại học Trung Sơn Moscow
Nghề nghiệp Chính trị gia, nhà Quân sự,nhà Ngoại giao,nhà Cách mạng
Vợ Trương Tích Viên (k. 1928–1929)
Kim Duy Ánh (k. 1931–1933)
Trác Lâm (k. 1939–1997)
Con cái Đặng Lâm (1941-)
Đặng Phác Phương (1944-)
Đặng Nam (1945-)
Đặng Dung (1950-)
Đặng Chất Phương (1952-)

Đặng Tiểu Bình ( giản thể: 邓小平; phồn thể: 鄧小平; bính âm: Dèng Xiǎopíng; 22 tháng 8 năm 1904 - 19 tháng 2 năm 1997) có tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, khi đi học mới đổi là Đặng Hi Hiền (邓希贤), là một lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tên gọi Đặng Tiểu Bình được ông dùng từ năm 1927, sau khi Tưởng Giới Thạch đàn áp phong trào cách mạng Cộng sản tại Thượng Hải[cần dẫn nguồn].

Tuy rằng ông chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ nhưng ông là người đã cầm quyền trên thực tế (lãnh tụ) tại Trung Quốc trong suốt những năm cuối thập niên 1970 đến đầu thập niên 1990. Ông từng giữ qua các chức vụ: Phó Chủ tịch Đảng, Tổng thư ký Trung ương Thư ký Xứ Đảng Cộng sản Trung Quốc (còn gọi là Tổng thư ký Ban Bí thư Trung ương), Phó Thủ tướng Quốc vụ viện (1952-1966, 1973-4/1976, 7/1977-1987), Tổng tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (1978-1983). Đặc biệt là Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng (1982-1987) và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (6/1981-6/1989). Với vai trò là lãnh tụ tối cao của đất nước, ông đã khởi xướng công cuộc cải cách nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa theo hướng "chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc", có công thu hồi Hồng KôngMa Cao với chính sách "một quốc gia hai chế độ". Ông cũng bị chỉ trích vì đã ra lệnh đàn áp các cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, Ông qua đời vào tháng 2 năm 1997, ở tuổi 92.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tại thôn Bài Phường, xã Hiệp Hưng, huyện Quảng An, phía đông tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, và là con trai ông Đặng Thiệu Xương (tự Văn Minh), một địa chủ khá giả và là hội viên của một hội nhóm hoạt động bí mật nhằm khích động lật đổ triều đình quân chủ,[1] và bà Đàm Thị, vợ thứ hai. Bà vợ đầu không có con, bà thứ hai (Đàm Thị) sinh được một gái đầu và 3 trai: Đặng Tiên Liệt, Đặng Tiểu Bình, Đặng Khẩn, Đặng Thục Bình. Bà thứ ba sinh được một trai, bà thứ tư (Hạ Bá Căn) sinh được 2 trai, 3 gái. Mẹ đẻ Đặng Tiểu Bình mất sớm, nên sau này ông đã mời mẹ kế Hạ Bá Căn từ quê lên thủ đô sống chung cùng gia đình ông.

Sau khi vào học trung học tại huyện nhà, cha Đặng Tiểu Bình đã xin cho Đặng Tiểu Bình theo học Trường dự bị cần công kiệm học Trùng Khánh để chuẩn bị xuất dương sang Pháp. Ngày 7 tháng 9 năm 1920, sau khi được Tổng lãnh sự Pháp tại Trùng Khánh trực tiếp sát hạch, Hi Hiền cùng 79 bạn khác lên tàu thủy đi Marseille. Ông đã học ở Pháp, giống như những nhà cách mạng có tiếng khác của Châu Á như Hồ Chí MinhChu Ân Lai. Tại đây ông đã đi theo học thuyết Marx-Lenin, gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản năm 1922 và Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1924.

Năm 1926, Đặng Tiểu Bình rời Paris sang Nga học trường Đại học Tôn Trung Sơn Moscow. Ông cùng học với Tưởng Kinh Quốc.

Quay lại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1927, Ông rời khỏi Nga để trở về Trung Quốc, nơi ông gia nhập quân đội của Phùng Ngọc Tường, một nhà lãnh đạo quân đội ở Tây Bắc Trung Quốc, người đã yêu cầu sự giúp đỡ của Liên Xô trong cuộc đấu tranh với các nhà lãnh đạo địa phương khác trong khu vực. Vào thời điểm đó, Liên Xô, thông qua Quốc tế cộng sản, một tổ chức quốc tế hỗ trợ các phong trào cộng sản, đã hỗ trợ liên minh của Cộng sản với Quốc dân đảng (KMT) được thành lập bởi Tôn Trung Sơn.

Ông đến Tây An, thành trì của Phùng Ngọc Tường, tháng 3 năm 1927 với nỗ lực ngăn chặn sự phá vỡ liên minh giữa Quốc Dân Đảng và Cộng sản. Sau khi liên minh giữa Quốc Dân Đảng và Cộng sản tan rã, Phùng Ngọc Tường đứng về phía Tưởng Giới Thạch và những người Cộng sản khác như Đặng Tiểu Bình, bị buộc phải chạy trốn. Năm 1929, Ông dẫn đầu cuộc nổi dậy ở tỉnh Quảng Tây chống lại chính quyền của Quốc dân đảng. Cuộc nổi dậy thất bại và Ông đã đi đến tỉnh Giang Tây.

Hoạt động ở Thượng Hải và Vũ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rời quân đội Phùng Ngọc Tường ở phía tây bắc, Ông đến thành phố Vũ Hán, trụ sở của những người Cộng sản. Vào thời điểm đó, ông bắt đầu sử dụng biệt danh "Tiểu Bình" và nắm giữ các vị trí nổi bật trong bộ máy Đảng. Ông tham gia phiên họp khẩn cấp lịch sử ngày 7 tháng 8 năm 1927, trong đó, theo chỉ thị của Liên Xô, Đảng cách chức Tổng bí thư của Trần Độc Tú, và Cù Thu Bạch. Ở Vũ Hán, Ông lần đầu tiên liên lạc với Mao Trạch Đông, người được các nhà lãnh đạo của Liên Xô ủng hộ.

Giữa năm 1927 và 1929, Ông sống ở Thượng Hải, nơi ông đã giúp tổ chức các cuộc biểu tình, tuy nhiên bị chính quyền Quốc dân đảng khủng bố tàn bạo. Cái chết của nhiều chiến sĩ Cộng sản trong những năm đó đã làm giảm số lượng thành viên của Đảng Cộng sản. Trong giai đoạn này ở Thượng Hải, Ông đã kết hôn với một người phụ nữ Ông gặp ở Matxcova, Trương Tích Viên.

Chiến dịch quân sự ở Quảng Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ năm 1929, ông tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại Quốc dân đảng ở Quảng Tây. Sự vượt trội của quân Tưởng Giới Thạch đã gây ra thương vong to lớn cho quân Cộng sản. Chiến lược đối đầu của lãnh đạo Đảng là một thất bại vì đã gây nhiều thương vong. Câu trả lời cho thất bại này đã xúc tác cho một trong những thời kỳ khó hiểu nhất trong tiểu sử của Đặng Tiểu Bình: tháng 3 năm 1931, ông rời tiểu đoàn thứ bảy của Quân đội Cộng sản và chỉ xuất hiện một thời gian sau đó tại Thượng Hải.

Tiểu sử chính thức của ông nói rằng Đặng Tiểu Bình đã bị các cấp trên của ông buộc tội bỏ trốn khỏi khu vực chiến đấu trước khi chạy trốn đến Thượng Hải, nơi có các lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mặc dù ông không bị trừng phạt ở Thượng Hải, thời kỳ này vẫn chưa rõ ràng và nó được sử dụng chống lại ông về sự tận tụy của ông cho Đảng Cộng sản trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

Tại Giang Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở về Thượng Hải, Ông biết được vợ ông bị sốt hậu sản và qua đời. Ngoài ra, ông phát hiện ra rằng nhiều đồng đội cũ của ông đã chết vì cuộc đàn áp của Quốc dân đảng chống lại Cộng sản.

Các chiến dịch chống Cộng sản ở các thành phố là một trở ngại đối với Đảng cộng sản và đặc biệt đối với các cố vấn Liên Xô. Trái ngược với cuộc cách mạng tổ chức tại thành thị, dựa trên kinh nghiệm của Liên Xô, nhà lãnh đạo Cộng sản Mao Trạch Đông đã nhìn nhận nông dân nông thôn như một lực lượng cách mạng ở Trung Quốc. Ở một vùng miền núi của tỉnh Giang Tây, nơi Mao Trạch Đông đã thiết lập một hệ thống cộng sản, đã phát triển phôi của một quốc gia tương lai của Trung Quốc dưới chủ nghĩa cộng sản.

Tại một trong những thành thị quan trọng nhất ở Giang Tây, Thụy Kim, Đặng Tiểu Bình đã đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng ủy vào mùa hè năm 1931. Năm 1933, ông trở thành giám đốc bộ phận tuyên truyền của Tỉnh ủy Giang Tây. Đó là lúc ông kết hôn với một phụ nữ trẻ ông gặp ở Thượng Hải tên là Kim Duy Ánh.

Những thành công tại Giang Tây khiến các nhà lãnh đạo đảng quyết định chuyển đến Giang Tây. Cuộc đối đầu giữa Mao Trạch Đông, các nhà lãnh đạo đảng, và các cố vấn Liên Xô ngày càng căng thẳng và cuộc đấu tranh quyền lực giữa hai phe phái đã dẫn đến việc loại bỏ Đặng Tiểu Bình, người ủng hộ ý tưởng của Mao. Bất chấp sự xung đột trong đảng, Giang Tây đã trở thành thí nghiệm thành công đầu tiên. Giang Tây thậm chí còn phát hành tem và tiền giấy dưới danh nghĩa chính quyền cộng sản và quân đội Tưởng Giới Thạch cuối cùng đã quyết định tấn công Giang Tây.

Vạn lý trường chinh[sửa | sửa mã nguồn]

Được gọi là Vạn lý trường chinh tên đầy đủ là Nhị vạn ngũ thiên lý trường chinh, tháng 10 năm 1934 bị bao vây bởi quân đội của Tưởng Giới Thạch, những người Cộng sản đã buộc phải rời khỏi Giang Tây. Sử thi đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc. Việc sơ tán rất khó khăn vì Quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm giữ các vị trí trọng yếu. Vượt qua địa hình núi non và xa xôi, khoảng 100.000 người đã trốn thoát khỏi Giang Tây, bắt đầu một cuộc rút lui chiến lược dài qua nội địa Trung Quốc, và kết thúc một năm sau, khi khoảng 8.000 đến 9.000 người sống sót đến tỉnh Thiểm Tây.

Trong hội nghị vào đầu tháng Ba, một nhóm chính trị được gọi là 28 người Bolshevik (những người theo chủ nghĩa Marx chính thống), do Bác CổVương Minh dẫn đầu, bị lật đổ khỏi quyền lực và Mao Trạch Đông đã trở thành lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Đảng Cộng sản Trung Quốc thân Liên Xô đã kết thúc và một đảng mới lấy cảm hứng từ nông thôn nổi lên dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Đặng Tiểu Bình đã một lần nữa trở thành một nhân vật hàng đầu trong Đảng.

Cuộc đối đầu giữa Quân Tưởng và Quân Mao đã tạm thời bị gián đoạn, do cuộc xâm lược của Nhật Bản, buộc Quốc dân đảng phải thành lập một liên minh lần thứ hai với những người cộng sản để bảo vệ quốc gia chống lại sự xâm lăng bên ngoài.

Cuộc xâm lược của Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc xâm lược của quân Nhật vào năm 1937 đánh dấu sự khởi đầu của cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai. Trong cuộc xâm lược, Ông vẫn còn trong khu vực được kiểm soát bởi những người Cộng sản ở phía bắc. Từ tháng 9 năm 1937 cho đến tháng 1 năm 1938, ông sống trong các tu viện Phật giáo và các ngôi chùa ở dãy núi Ngũ đài sơn. Vào tháng 1 năm 1938, ông được bổ nhiệm làm Ủy viên chính trị của bộ phận 129 của Bát Lộ Quân do Lưu Bá Thừa chỉ huy, bắt đầu một quan hệ đối tác lâu dài với Lưu.

Trong một chuyến đi đến Diên An vào năm 1939, ông kết hôn lần thứ ba và lần cuối cùng trong đời với Phố Trác Lâm, người Tuyên Uy, tỉnh Vân Nam.

Tiếp tục chiến tranh chống Quốc dân đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại của Nhật Bản trong Thế chiến II, Ông đã đi đến Trùng Khánh, thành phố nơi Tưởng Giới Thạch thành lập chính phủ của mình trong cuộc xâm lược của Nhật Bản, để tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản. Kết quả của những cuộc đàm phán này không tích cực và cuộc đối đầu quân sự giữa hai đảng đối lập tiếp tục ngay sau cuộc họp tại Trùng Khánh.

Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, Ông lại thực hiện một vai trò quan trọng là lãnh đạo chính trị và là ủy viên chính trị của Quân đội số 2 do Lưu Bá Thừa chỉ huy. Ông cũng tham gia phổ biến những ý tưởng của Mao Trạch Đông, biến thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản. Công việc chính trị và ý thức hệ của ông, cùng với tư cách là cựu chiến binh của Vạn lý trường chinh, đã đặt ông vào một vị trí đặc quyền trong đảng để chiếm giữ các vị trí quyền lực sau khi Đảng Cộng sản đánh bại Tưởng Giới Thạch và thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Những năm tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

Đăng Tiểu Bình bên cạnh tổng thống Jimmy Carter

Sau giải phóng, ông làm Bí thư thứ nhất Cục Tây Nam Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Tây Nam, Chính ủy Quân khu Tây Nam (đóng trụ sở tại Trùng Khánh), kiêm thành viên Chính phủ Nhân dân Trung ương.

Tháng 7 năm 1952, ông được cử làm Phó Tổng lý (Phó Thủ tướng) Chính vụ viện (sau đổi là Quốc vụ viện), kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-kinh tế. Năm 1955, ông cùng Lâm Bưu được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1956, ông vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, làm Tổng Bí thư Ban bí thư Trung ương, đứng cuối cùng (thứ 6) trong Ban Thường vụ, sau Mao Trạch Đông (Chủ tịch Đảng), Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Chu ĐứcTrần Vân (đều là Phó Chủ tịch Đảng).

Năm 1966, trong Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán nặng nề là "tên số hai trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản", rồi bị cách tuột hết mọi chức vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, hai vợ chồng ông bị đưa về Giang Tây, con cái đều bị đưa đi cải tạo ở các tỉnh khác.

Ngày 20 tháng 3 năm 1973, ông rời Giang Tây, quay trở lại Trung Nam Hải (Bắc Kinh), sau khi được phục hồi công tác. Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ tịch Đảng. Về mặt chính quyền, ông trở lại cương vị Phó Thủ tướng, rồi Phó Thủ tướng thứ nhất. Khi Chu Ân Lai lâm bệnh nặng, ông chủ trì công việc của Quốc vụ viện.

Năm 1976, sau khi Chu Ân Lai mất, thế lực chống đối viện cớ ông có tư tưởng phản cách mạng và tác động đến Mao Trạch Đông, vì vậy ông lại bị Mao Trạch Đông cách hết các chức vụ, chỉ còn danh hiệu đảng viên và hộ khẩu Bắc Kinh. Ông là người phát động phong trào biểu tình ủng hộ cố thủ tướng Chu Ân Lai ngày 5 tháng 4 năm 1976.

Sau khi nhóm người được gọi là "bè lũ bốn tên" bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình được khôi phục tất cả các chức vụ (1978): Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng.

Thời kỳ đổi mới[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Trung ương lần thứ 3, khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 18-12-1978 diễn ra tại Bắc Kinh với quyết định cải cách và mở cửa đã mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước. Quyết định của Hội nghị đã khơi mào đưa Trung Quốc vươn lên từ sự sụp đổ kinh tế sau Cách mạng văn hóa (1966-1976). Đặng Tiểu Bình là cha đẻ của công cuộc hiện đại hóa, kiến trúc sư của công cuộc cải cách, mở cửa vĩ đại tại đất nước đông dân nhất thế giới. Ông chủ trương "Cải cách và cởi mở", mục tiêu của cải cách này tóm tắt bằng tiêu đề "Bốn hiện đại" gồm các thay đổi về nông nghiệp, kỹ nghệ, khoa học-kỹ thuật và quân sự.

Lúc đó, ông Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Chúng ta phải học cách quản lý kinh tế bằng các phương tiện kinh tế”. Theo đó, ở bước đi đầu tiên, chính sách công xã trong nông nghiệp và công nghiệp được hủy bỏ, thay vào đó là các trang trại tư nhân quy mô nhỏ... Ông khuyến khích người dân tự vươn lên sản xuất, làm giàu bởi theo ông, “nghèo không phải là xã hội chủ nghĩa”.

Chính ông đã thiết lập một nền tảng vững chắc cho công cuộc cải tổ và các chính sách mở cửa, xây dựng học thuyết hiện đại. Ông chủ trương hòa bình và phát triển là 2 vấn đề quan trọng của thế giới đương đại, tạo cơ sở cho Đảng và chính phủ Trung Quốc chuyển trọng tâm sang hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Ông kiên định quan điểm phải mở cửa để hội nhập với thế giới bên ngoài, mở rộng trao đổi với các nước khác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi... Năm 1980, Thâm Quyến - đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc - được thành lập, là sự thử nghiệm của mô hình kinh tế thị trường. Từ một làng chài với 30.000 dân, Thâm Quyến đã trở thành một trung tâm kinh tế có 12 triệu người, kéo theo sự ra đời sau đó của các đặc khu kinh tế khác: Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn, tạo ra động lực phát triển cho toàn bộ đất nước Trung Quốc.

Xung đột Việt - Trung (1979-1990)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979

Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Quốc để vừa thúc đẩy Bốn Hiện đại và vừa dọn đường đánh Việt Nam. Ngày 28 tháng 01 năm 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước. Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2 năm 1979 Đặng Tiểu Bình triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân tấn công Việt Nam. Sự kiện này được ghi nhận là chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 mà kéo dài cho tới 1990 (xem Xung đột Việt–Trung 1979–90).

Động cơ chính của Trung Quốc trong tấn công Việt Nam là kiềm chế tham vọng Việt Nam ở Đông Nam Á, ngăn chặn mối đe dọa Việt Nam đối với an ninh quốc gia Trung Quốc và phơi bày chỗ yếu của Liên Xô. Ý định của Đặng Tiểu Bình nêu công khai là “dạy cho Việt Nam một bài học” đã tạo ra một ấn tượng sai lệch rằng mục đích chính của cuộc chiến chỉ đơn giản là một “hành động trả thù”. Ngay từ đầu, Bắc Kinh đã hạn chế nghiêm ngặt các mục tiêu, thời gian và phạm vi, và tiến hành chiến tranh tránh vượt hơn một cuộc xung đột biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam đã đưa quân dánh đuổi chế độ Pol PotCampuchia, một đồng minh của Trung Quốc.[2] Trung Quốc mở rộng mục tiêu gồm cả việc xâm lược vùng Tây Bắc Việt Nam. Suốt một thời gian dài sau đó, chính sách bao vây kinh tế và pháo kích biên giới của Đặng Tiểu Bình đã gây nhiều khó khăn cho Việt Nam.[3]

Hồng Kông - Ma Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 12 năm 1984 Trung Quốc và Anh đã ký một thỏa ước theo đó, phần đất Hồng Kông sẽ được trả về cho Trung Quốc vào năm 1997 sau khi thỏa ước thuê đất trong 99 năm hết hạn. Đặng Tiểu Bình cũng cam kết không can thiệp vào hệ thống chính trị của Hồng Kông trong 50 năm. Thỏa thuận tương tự cũng được ký kết với Bồ Đào Nha để nước này trả thuộc địa Ma Cao. Với chính sách là "Một quốc gia, hai chế độ"

Sự kiện Thiên An Môn[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên An Môn - 1989

Vào năm 1989, Sự kiện Thiên An Môn diễn ra, đây là cuộc biểu tình đòi dân chủ của các sinh viên Trung Quốc. Một số nguồn cho rằng Đặng Tiểu Bình theo phe ủng hộ sự thay đổi trong nền kinh tế Trung Quốc, cùng với một số đồng minh như Triệu Tử Dương. Không có một báo cáo chính xác về vai trò của Đặng Tiểu Bình trong cuộc biểu tình, dù có một số người tin rằng ông ta đã tham gia vào việc ra lệnh cho quân đội trấn áp cuộc biểu tình. Theo ước đoán của tờ New York Times thì có khoảng 400 đến 800 thường dân thiệt mạng. Sau sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc thực hiện lùng bắt một cách có quy mô những người ủng hộ phong trào đòi dân chủ, giới hạn các nhà báo nước ngoài và kiểm duyệt tất cả báo chí trong nước. Sự kiện này bị cả thế giới lên án, cho đến tận ngày nay đa số người dân Trung Quốc không biết đến sự kiện này do Trung Quốc kiểm duyệt rất gắt gao.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 11 năm 1989 Đặng Tiểu Bình chính thức về hưu khi không còn là Chủ tịch của Quân ủy trung ương rồi rút lui khỏi hoạt động chính trị vào năm 1992. Tuy nhiên Ông vẫn được coi là nhà lãnh đạo tối cao và nhiều người tin rằng Ông vẫn kiểm soát Trung Quốc ở phía sau.

Đặng Tiểu Bình qua đời vào ngày 19 tháng 02 năm 1997 ở tuổi 92 vì bệnh Parkinson và bệnh phổi. Sau đám tang thi hài của Ông được hỏa táng và tro tàn được rãi xuống biển như theo mong ước của chính Ông.

Niên biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 22/8/1904: Đặng Tiểu Bình (tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, khi đi học mới đổi thành Đặng Hy Hiền) sinh tại thôn Bài Phường, huyện Quảng An, phía tây nam tỉnh Tứ Xuyên. Ông là con trai cả của một cảnh sát trưởng ở huyện.
  • Năm 1920: Mới 16 tuổi, Đặng Hy Hiền đã rời Tứ Xuyên để lên Thượng Hải, từ đó đón tàu sang Pháp để học. Trong thời gian học tập tại Pháp, Đặng Tiểu Bình làm rất nhiều nghề chân tay để kiếm tiền trang trải sinh hoạt, từ công nhân nhà máy sản xuất vũ khí, bồi bàn, thu vé trên xe lửa và lắp ráp ủng cao su.
  • Tháng 6/1922: Đặng Tiểu Bình gia nhập đảng Cộng sản của Thanh niên Trung Quốc tại châu Âu. Một năm sau, ông được bầu làm chủ tịch liên đoàn. Với một tư duy rất thực tế, Đặng đã tìm cách tăng gấp đôi số lượng bản tin của đảng này và phân phát rộng rãi.
  • Năm 1924: Gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc tại Pháp.
  • Năm 1926: Sang Moscow để học và sau đó trở về Trung Quốc.
  • Năm 1927: Sau khi Tưởng Giới Thạch đàn án phong trào cách mạng tại Thượng Hải, Đặng Hy Hiền đổi tên thành Đặng Tiểu Bình.
  • Tháng 1/1928: Đặng Tiểu Bình kết hôn với người vợ đầu là Trương Tích Viên.
  • Năm 1930: Trương Tích Viên chết sau một ca đẻ non đứa bé gái của hai người.
  • Năm 1931: Đặng Tiểu Bình bắt đầu cùng Mao Trạch Đông thành lập căn cứ của Hồng Quân tại tỉnh Giang Tây.
  • Năm 1932: Đặng Tiểu Bình kết hôn với Kim Duy Ánh, người vợ thứ hai của ông.
  • Năm 1933: Tháng 10, Tưởng Giới Thạch phái 1 triệu quân tấn công căn cứ của Mao Trạch Đông tại tỉnh Giang Tây. Lúc này, trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc có nảy sinh một số mâu thuẫn. Cùng với Mao, Đặng Tiểu Bình bị khai trừ khỏi ban lãnh đạo đảng. Trước tình cảnh này, người vợ thứ hai đã yêu cầu ly dị Đặng để kết hôn với người khác.
  • Năm 1939: Đặng Tiểu Bình kết hôn với người vợ thứ 3 là Trác Lâm. Bà sinh cho ông 3 người con gái và hai con trai.
  • Năm 1945: Đặng Tiểu Bình chỉ huy sư đoàn 129 xuống khu vực miền trung Trung Quốc, buộc lực lượng Quốc Dân Đảng rút chạy.
  • Năm 1948: Tham gia chỉ huy chiến dịch Hoài Hải, mở rộng mặt trận sang bên kia sông Dương Tử.
  • Năm 1950: Mao Trạch Đông trở thành người lãnh đạo Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình được giao nhiệm vụ tại Tây Tạng.
  • Năm 1952: Ông trở về Bắc Kinh và được bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng.
  • Năm 1956: Đặng Tiểu Bình trở thành Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, kiêm Tổng Bí thư Ban Bí thư.
  • Năm 1957: Đặng Tiểu Bình tháp tùng Mao Trạch Đông trong chuyến thăm Moscow.
  • Năm 1960: Sau 2 năm thực hiện chính sách "Đại nhảy vọt", nền kinh tế Trung Quốc rơi vào khủng hoảng. Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ cùng Đặng Tiểu Bình đưa ra đề xuất cải cách kinh tế. Trong chuyến đi Quảng Châu, Đặng đã đưa ra quan điểm thực tế của mình về việc cứu đói cho dân bằng bất cứ giá nào.
  • Năm 1966: Tháng 5, Mao Trạch Đông chỉ thị tiến hành cuộc Đại cách mạng văn hoá. Lần thứ hai trong cuộc đời chính trị của mình, Đặng Tiểu Bình bị khai trừ vì mâu thuẫn trong nội bộ đảng Cộng sản và những tư tưởng thực tế của ông trong cải cách kinh tế. Đặng Tiểu Bình bị buộc phải đội mũ tai lừa diễu hành trên phố, sau đó bị đưa về nông thôn để làm việc tại xưởng máy kéo. (Trong lúc này Lưu Thiếu Kỳ bị giam lỏng).
  • Năm 1968: Con trai cả của Đặng Tiểu Bình là Đặng Phác Phương đang học đại học Bắc Kinh bị những sinh viên cực đoan cùng trường trùm đầu và khống chế cho tới khi bị ngã khỏi cửa sổ tầng 4. Kể từ tai nạn đó, Đặng Phác Phương trở thành người tàn phế.
  • Năm 1969-1972: Hai vợ chồng Đặng Tiểu Bình bị đưa về Giang Tây. Tại đây, hai người đã phải nỗ lực giúp con trai phục hồi, song không thành công.
  • Năm 1973: Tháng 8, Mao Trạch Động cho phép Đặng Tiểu Bình quay trở lại Bắc Kinh để giúp ông kiểm tra mức độ ảnh hưởng của Quân đội Giải phóng Nhân dân. Đặng Tiểu Bình tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng và trong vòng 2 năm sau đó, ông giúp Chu Ân Lai thực hiện "4 Hiện đại hoá".
  • Năm 1976: Tháng 4, lần thứ 3, Đặng Tiểu Bình lại bị khai trừ sau khi chỉ trích cuộc Cách mạng Văn hóa. Ngày 9/9, Mao Trạch Đông từ trần, Hoa Quốc Phong là người thay thế.
  • Năm 1977: Ngày 22/7, Đặng Tiểu Bình được phục chức Phó Thủ tướng, vị trí giúp ông có đủ quyền lực cần thiết để tiếp tục những ý tưởng cải cách kinh tế của mình.
  • Năm 1978: Đặng Tiểu Bình nêu kế hoạch cải cách kinh tế trước phiên họp toàn thể đảng Cộng sản Trung Quốc, đánh dấu sự mở đầu của chính sách "mở cửa".
  • Năm 1979: Thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước.
  • Năm 1980: Bè lũ bốn tên do Giang Thanh cầm đầu bị xét xử. Giang Thanh lãnh án tử hình. Lúc này, Thâm Quyến đã trở thành đặc khu kinh tế đầu tiên tại Trung Quốc, bước đầu chứng minh sự đúng đắn của cuộc cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình đề xuất.
  • Năm 1987: Thôi giữ các chức vụ trong chính phủ, trừ vị trí của ông trong quân đội.
  • Năm 1990: Chính thức thôi giữ các chức vụ cuối cùng.
  • Năm 1994: Lần cuối cùng xuất hiện trước công chúng trong lễ mừng Tết Nguyên đán.
  • Ngày 19/2/1997: Đặng Tiểu Bình từ trần lúc 9h08' tối.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cha mẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Người vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Người vợ thứ ba của ông là Trác Lâm, có năm con.

Những người con[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Lâm (trưởng nữ)
  • Đặng Phác Phương (con thứ nhưng là trưởng nam)
  • Đặng Nam (nữ)
  • Đặng Dung (nữ)
  • Đặng Chất Phương (nam).

Những câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

Câu nói có tầm ảnh hưởng nhất của ông là:

Câu nói của Đặng Tiểu Bình được nhiều người biết đến là:

Tháng 12 năm 1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chỉ vài tháng trước cuộc chiến với Việt Nam, ông nói một câu được Trung Quốc truyền hình trực tiếp:

Nhận xét về việc Liên Xô tan rã, ông nói Trung Quốc cần phải lấy đó làm bài học để răn dạy các thế hệ tiếp theo tránh lặp lại bi kịch:

Sách viết về Đặng Tiểu Bình[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt." do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2003, tái bản 2015.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Một góc nhìn khác về vai trò lịch sử của Đặng Tiểu Bình, nghiencuuquocte
  2. ^ Đặng Tiểu Bình với Việt Nam, BBC, 23.08.2014
  3. ^ Đặng Tiểu Bình và Thiên An Môn, BBC, 28.05.2004
  4. ^ “Nhớ lại đêm 17 tháng 2 năm 1979”. BBC tiếng Việt. 
  5. ^ Tính trước nguy cơ 20 năm, suy ngẫm về Đảng Cộng sản Liên Xô mất đảng. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Trang 33, 42
  6. ^ Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?, bbc, 6 tháng 3 năm 2016

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ
Tiền nhiệm:
Bạc Nhất Ba
Bộ trưởng Bộ Tài chính
1953 – 1954
Kế nhiệm:
Lý Tiên Niệm
Tiền nhiệm:
Hoàng Vĩnh Thắng
Tổng tham mưu trưởng
1975 – 1980
Kế nhiệm:
Dương Đắc Chí
Tiền nhiệm:
Chu Ân Lai
Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc
1978—1983
Kế nhiệm:
Đặng Dĩnh Siêu
Tiền nhiệm:
Lưu Thiếu Kỳ
(Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng)
Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương
1983 – 1990
Kế nhiệm:
Giang Trạch Dân
Chức vụ Đảng
Tiền nhiệm:
Nhiêu Thấu Thạch
Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
1954 – 1956
Kế nhiệm:
An Tử Văn
Tiền nhiệm:
Mao Trạch Đông
(Chủ tịch Ban Bí thư Trung ương)
Tổng Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
1956 – 1967
Kế nhiệm:
Hồ Diệu Bang năm 1982
Tiền nhiệm:
Chu Ân Lai, Khang Sinh, Lý Đức Sinh, Diệp Kiếm Anh, Vương Hồng Văn
Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc
1975 – 1982
Kế nhiệm:
Không
Tiền vị
Hoa Quốc Phong
Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương
1981 – 1989
Kế vị
Giang Trạch Dân
Tiền nhiệm:
Không
Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
1982 – 1987
Kế nhiệm:
Trần Vân