Trương Xuân Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trương Xuân kiều
1967-07 1967年4月20日北京市革命委员会成立 张春桥-上海革委会主任.jpg
Phó Thủ tướng Quốc vụ viện
(Xếp hạng thứ hai)
Nhiệm kỳ
4 tháng 1 năm 1975 – 6 tháng 10 năm 1976
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000276.000000276 ngày
Bí thư Thành ủy Thượng Hải
Nhiệm kỳ
1971 – 1976
Tiền nhiệmTrần Phi Hiển
Kế nhiệmTô Chấn Hoa
Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng Thành phố Thượng Hải
Nhiệm kỳ
1967 – 1976
Tiền nhiệmTào Địch Thu
Kế nhiệmTô Chấn Hoa
Thông tin cá nhân
Sinh(1917-02-01)1 tháng 2 năm 1917
Hà Trạch, Sơn Đông, Trung Hoa Dân quốc
Mất21 tháng 4 năm 2005(2005-04-21) (88 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc

Trương Xuân Kiều (tiếng Trung giản thể: 张春桥; phồn thể: 張春橋; bính âm: Zhāng Chūnqiáo; Wade-Giles: Chang Ch'un-chiao) (1917–21 tháng 4 năm 2005). Ông nguyên là ủy viên Bộ chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc một trong bốn người thuộc tứ nhân bang một thời gian dài làm bất ổn tình hình kinh tế, chính trị Trung Quốc. Sau khi Mao Trạch Đông qua đời; trong nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc diễn ra một cuộc đấu tranh nhằm lật đổ tứ nhân bang; kết quả là Trương Xuân Kiều cùng ba ủy viên bộ chính trị khác là Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên bị bắt với tội danh phản quốc. Ông là một nhà văn ở Thượng Hải thập niên 1930. Sau hội nghị Diên An năm 1938, ông đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ông đã trở thành một nhà báo nổi bật ở Thượng Hải phụ trách Giái phóng Nhật báo. Ông đã gặp Giang ThanhThượng Hải và giúp bà triển khai Cách mạng văn hóa.

Tháng 2 năm 1967, ông đã tổ chức Công xã Thượng Hải. Tháng 4 năm 1969, ông được bầu làm ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng và năm 1973 ông đã được bầu vào Thường vụ Bộ chính trị. Tháng 1 năm 1975, ông trở thành Phó thủ tướng thứ hai. Nỗ lực vươn lên chức vụ cao hơn của ông trong Đảng đã chấm dứt khi ông bị bắt giữ vào tháng 10 năm 1976. Ông bị xử tử hình, cùng với Giang Thanh năm 1981 nhưng sau đó đã được giảm án xuống còn chung thân. Giang Thanh mất năm 1991 ngay sau khi được thả do sức khỏe yếu. Ông cũng được thả với lý do tương tự vào tháng 8 năm 2002 và sống ẩn dật ở Thượng Hải.

Tháng 5 năm 2005, người ta thông báo ông đã qua đời do bị ung thư tháng trước đó

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]