Phó Tổng lý Quốc vụ viện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phó Tổng lý Quốc Vụ Viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
National Emblem of the People's Republic of China.svg
Cristina Fernández junto a Han Zheng, el alcalde de Shanghai (cropped).jpg
Đương nhiệm
Hàn Chính(Phó Tổng lý thứ nhất phụ trách công tác thường vụ Quốc Vụ viện,Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị、Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Quốc vụ viện)
Khác:Tôn Xuân LanHồ Xuân HoaLưu Hạc

từ 19 tháng 3 năm 2018
Đề cử bởi Tổng lý Quốc Vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Bổ nhiệm bởi Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
(Căn cứ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc quyết định)
Nhiệm kỳ Nhiệm kỳ 5 năm,1 nhiệm kỳ liên tiếp
Thành lập tháng 9 năm 1954
Dinh thự Trung Nam Hải
Website Quốc Vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
National Emblem of the People's Republic of China.svg

Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Xem thêm
   Chính trị Hồng Kông
   Chính trị Ma Cao
   Chính trị Trung Hoa Dân Quốc

Các nước khác

Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华人民共和国国务院副总理) hay còn được gọi là Phó Thủ tướng Quốc vụ viện là chức vụ quan trọng cấu thành Quốc Vụ viện, Quốc vụ viện Thường vụ Hội nghị, là lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Theo luật "Tổ chức Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" quy định Phó Tổng lý giúp đỡ Tổng lý trong công việc. Phó Tổng lý do Tổng lý đề xuất và được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc bầu theo hệ thống phổ thông đầu phiếu, do Chủ tịch nước căn cứ vào Hội nghị Nhân Đại Toàn quốc bổ nhiệm. Như các thành viên khác thuộc Quốc vụ viện, Phó Tổng lý có nhiệm kỳ 5 năm, liên tiếp không quá 2 nhiệm kỳ. Trong thời gian Tổng lý đi thăm nước ngoài, Phó Tổng lý phụ trách quản lý toàn bộ công việc của Tổng lý.

Kể từ Quốc vụ viện thứ 7 Nội các của Lý Bằng bắt đầu, Phó Tổng lý đều do Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhiệm và Phó Tổng lý thứ nhất là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

Danh sách Phó Tổng lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chính vụ viện Chính phủ Nhân dân Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

(1 tháng 10 năm 1949 tới 27 tháng 9 năm 1954)

  • Tổng lý :Chu Ân Lai (1 tháng 10 năm 1949 tại Hội nghị thứ nhất Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương quyết định);

Quốc Vụ viện thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

(27 tháng 9 năm 1954 tới 27 tháng 4 năm 1959)

Quốc Vụ viện thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

(27 tháng 4 năm 1959 tới 3 tháng 1 năm 1965 )

Quốc Vụ viện thứ 3[sửa | sửa mã nguồn]

(3 tháng 1 năm 1965 tới 17 tháng 1 năm 1975 )

Quốc Vụ viện thứ 4[sửa | sửa mã nguồn]

(17 tháng 1 năm 1975 tới 5 tháng 3 năm 1978 )

  • Tổng lý:Chu Ân Lai(17 tháng 1 năm 1975 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 4 quyết định);
  • 8 tháng 1 năm 1976, Tổng lý Chu Ân Lai mất
  • Tổng lý sau bổ nhiệm: Hoa Quốc Phong (2 tháng 2 năm 1976, Hoa Quốc Phong được chỉ định làm quyền Tổng lý, 7 tháng 4 cùng năm được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Đảng, Tổng lý Quốc vụ viện)
    • Phó Tổng lý:Đặng Tiểu Bình, Trương Xuân Kiều, Lý Tiên Niệm, Trần Tích Liên, Kỷ Đăng Khuê, Hoa Quốc Phong, Trần Vĩnh Quý, Ngô Quế Hiền (nữ), Vương Chấn, Dư Thu Lý, Cốc Mục, Tôn Kiện (17 tháng 1 năm 1975 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 4 quyết định);
    • 7 tháng 4 năm 1976 Đặng Tiểu Bình bị thu hồi hết toàn bộ chức vụ. 21 tháng 7 năm 1977 phiên họp thứ 3 Đại hội Đảng lần thứ 10 khôi phục toàn bộ chức vụ như cũ
    • 21 tháng 7 năm 1977 Phiên họp thứ 3 Đại hội Đảng lần thứ 10, đánh đổ bè lũ bốn tên. Trương Xuân Kiều bị cắt mọi chức vụ

Quốc Vụ viện thứ 5[sửa | sửa mã nguồn]

(5 tháng 3 năm 1978 tới 10 tháng 6 năm 1983)

Trước khi cải tổ năm 1982[sửa | sửa mã nguồn]

(5 tháng 3 năm 1978 tới 4 tháng 5 năm 1982)

  • Tổng lý:Hoa Quốc Phong (5 tháng 3 năm 1978 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 5 quyết định)
  • 10 tháng 9 năm 1980 tại Hội nghị thứ 3 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5 Hoa Quốc Phong từ chức,
  • Tổng lý bổ nhiệm:Triệu Tử Dương (10 tháng 9 năm 1980 tại Hội nghị thứ 3 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5 quyết định)
    • Phó Tổng lý: Đặng Tiểu Bình,Lý Tiên Niệm,Từ Hướng Tiền,Kỷ Đăng Khuê,Dư Thu Lý,Trần Tích Liên,Cảnh Biểu,Trần Vĩnh Quý,Phương Nghị,Vương Chấn,Cốc Mục,Khang Thế Ân,Trần Mộ Hoa (nữ)
    • Phó Tổng lý sau quyết định:Vương Nhậm Trọng (26 tháng 12 năm 1978 tại Hội nghị thứ 5 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 5 quyết định), Trần Vân,Bạc Nhất Ba,Diêu Y Lâm (1 tháng 7 năm 1979 tại Hội nghị thứ 2 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5 quyết định), Cơ Bằng Phi (13 tháng 9 năm 1979 tại Hội nghị thứ 11 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 5 quyết định), Triệu Tử Dương,Vạn Lý (16 tháng 4 năm 1980 tại Hội nghị thứ 14 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc quyết định),Dương Tĩnh Nhân,Trương Ái Bình,Hoàng Hoa (10 tháng 9 năm 1980 tại Hội nghị thứ 3 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5)
    • 16 tháng 4 năm 1980 tại Hội nghị thứ 14 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc quyết định miễn chức Kỷ Đăng Khuê,Trần Tích Liên
    • 10 tháng 9 năm 1980 tại Hội nghị thứ 3 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5,
      • Đặng Tiểu Bình,Lý Tiên Niệm,Trần Vân,Từ Hướng Tiền,Vương Chấn,Vương Nhậm Trọng từ chức
      • Trần Vĩnh Quý buộc từ chức

Sau khi cải tổ năm 1982[sửa | sửa mã nguồn]

(4 tháng 5 năm 1982 tới 20 tháng 6 năm 1983) 4 tháng 5 năm 1982 tại Hội nghị thứ 23 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 5 quyết định tiến hành điều chỉnh Ban thành viên Quốc vụ viện,tăng thêm Ủy viên Quốc vụ. "Ủy viên Quốc vụ" được đại ngộ tương đương Phó Tổng lý cùng cấp, Quốc vụ viện thứ 5 sau cải cách:

  • Tổng lý: Triệu Tử Dương
    • Phó Tổng lý: Vạn Lý, Diêu Y Lâm

Quốc vụ viện thứ 6[sửa | sửa mã nguồn]

(18 tháng 6 năm 1983 tới 9 tháng 4 năm 1988)

  • Tổng lý: Triệu Tử Dương (18 tháng 6 năm 1983 tại Hội nghị thứ nhất Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 6 quyết định)
  • 24 tháng 11 năm 1987,tại Hội nghị 23 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc Triệu Tử Dương từ chức
  • Tổng lý bổ nhiệm: Lý Bằng (24 tháng 11 năm 1987,tại Hội nghị 23 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc)
    • Phó Tổng lý: Vạn Lý, Diêu Y Lâm, Lý Bằng, Điền Kỷ Vân (20 tháng 6 năm 1983 tại Hội nghị thứ nhất Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 6 quyết định)
    • Phó Tổng lý sau bổ nhiệm: Kiều Thạch (12 tháng 4 năm 1986 Hội nghị thứ 4 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa 6 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 7[sửa | sửa mã nguồn]

(9 tháng 4 năm 1988 tới 28 tháng 3 năm 1993)

  • Tổng lý: Lý Bằng (9 tháng 4 năm 1988 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 7 quyết định)
    • Phó Tổng lý: Diêu Y Lâm, Điền Kỷ Vân, Ngô Học Khiêm (12 tháng 4 năm 1988 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 7 quyết định)
    • Phó Tổng lý sau bổ nhiệm: Trâu Gia Hoa, Chu Dung Cơ (8 tháng 4 năm 1991 tại Hội nghị thứ 4 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 7 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 8[sửa | sửa mã nguồn]

(28 tháng 3 năm 1993 tới 17 tháng 3 năm 1998)

  • Tổng lý: Lý Bằng (28 tháng 3 năm 1993 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 8 quyết định)
    • Phó Tổng lý: Chu Dung Cơ, Trâu Gia Hoa, Tiền Kỳ Sâm, Lý Lam Thanh (29 tháng 3 năm 1993 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 8 quyết định)
    • Phó Tổng lý sau bổ nhiệm: Ngô Bang Quốc, Khương Xuân Vân (28 tháng 3 năm 1995 tại Hội nghị thứ 3 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 8 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 9[sửa | sửa mã nguồn]

(17 tháng 3 năm 1998 tới 16 tháng 3 năm 2003)

  • Tổng lý: Chu Dung Cơ (17 tháng 3 năm 1998 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 9 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 10[sửa | sửa mã nguồn]

(16 tháng 3 năm 2003 tới 17 tháng 3 năm 2008)

  • Tổng lý: Ôn Gia Bảo (16 tháng 3 năm 2003 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 10 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 11[sửa | sửa mã nguồn]

(16 tháng 3 năm 2008 tới 15 tháng 3 năm 2013)

  • Tổng lý: Ôn Gia Bảo (16 tháng 3 năm 2008 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 11 quyết định)
    • Phó Tổng lý: Lý Khắc Cường, Hồi Lương Ngọc, Trương Đức Giang, Vương Kỳ Sơn (17 tháng 3 năm 2008 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 11 quyết định)

Quốc vụ viện thứ 12[sửa | sửa mã nguồn]

(15 tháng 3 năm 2013 tới 18 tháng 3 năm 2018)

Quốc vụ viện thứ 13[sửa | sửa mã nguồn]

(18 tháng 3 năm 2018 tới nay)

  • Tổng lý: Lý Khắc Cường (18 tháng 3 năm 2018 tại Hội nghị thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc khóa thứ 13 quyết định)[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Phó Thủ tướng Trung Quốc Hoàng Cúc qua đời”. Thanh Niên Online. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  2. ^ “Ông Lý Khắc Cường được bầu làm Thủ tướng Trung Quốc”. Thanh Niên Online. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  3. ^ a ă “Trung Quốc bầu chọn các chức danh trong Chính phủ”. Đài Tiếng nói Việt Nam. 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]