Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chuỗi Ngọc Trai dùng để chỉ các tuyến giao thông hàng hải Trung Quốc kéo dài đến Port Sudan. Đường biển chạy qua eo biển chiến lược điểm nút thắt của eo biển Mandab, eo biển Malacca, eo biển Hormuzeo biển Lombok cũng như các lợi ích hải quân chiến lược quan tâm khác như Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives và Somalia. Thuật ngữ này được sử dụng trong một báo cáo nội bộ của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có tiêu đề "Năng lượng tương lai ở châu Á"[1].

"Chiến lược "Chuỗi Ngọc Trai" mô tả các biểu hiện ảnh hưởng địa chính trị đang gia tăng của Trung Quốc tăng thông qua các nỗ lực để tăng sự tiếp cận vào các cảng và sân bay, phát triển các mối quan hệ đặc biệt ngoại giao, và hiện đại hoá lực lượng quân sự mà mở rộng từ biển Nam Trung Hoa thông qua eo biển Malacca, qua Ấn Độ đại dương, và đến vịnh Ba Tư.

— Christopher Pehrson, [2]

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố là mục tiêu của chiến lược hải quân của Trung Quốc, một "đại dương hài hòa" và "Trung Quốc không bao giờ tìm kiếm sự bá quyền, cũng như không biến mình thành một thế lực bành trướng quân sự hay các cuộc đua vũ trang với các quốc gia khác "[3]. Một số người Ấn Độ lo sợ rằng Chuồi Ngọc Trai có thể đưa Ấn Độ vào thế bất lợi quân sự[4], và thiếu một chiến lược lớn của Ấn Độ cho phép Trung Quốc phát triển các mối quan hệ với các nước khác trong khu vực[5].

Bản đồ Chuỗi Ngọc Trai Trung Quốc.

An ninh năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến giao thông đường biển từ Hồng Kông đến Port Sudan đã trở thành một nguồn của cuộc xung đột đối với an ninh năng lượng trong tương lai của Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ nhì thế giới và là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ ba thế giới. Trung Quốc nhập khẩu 15% lượng dầu từ Tây Phi[6], và là khách hàng tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất của Sudan[7], và đã ký các hợp đồng dài hạn để phát triển các mỏ dầu Iran[8].

Với một làn sóng cướp biển ngoài khơi Somalia[9] cuối năm 2008, cuộc chiến đang diễn ra ở Darfur và sự đàn áp của chế độ Robert MugabeZimbabwe[10], chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi theo hướng một cách tiếp cận trực tiếp hơn để đối phó với các hành động thù địch như vậy.

Căn cứ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Đông[sửa | sửa mã nguồn]

David Eshel cho rằng các cơ sở hải quân ở đảo Hải Nam (căn cứ tàu ngầm Hải Nam) ở Biển Đông là viên ngọc trai thứ nhất trong Chuỗi Ngọc Trai.[11]

Hạt ngọc thứ nhì là Sihanoukville nếu Campuchia đồng ý hợp tác.[12]

Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bên Ấn Độ Dương thì hạt trai thứ ba là quân cảng trên đảo Coco thuộc Miến Điện; tiếp theo là Chittagong, Bangladesh; Hambantota, Sri Lanka rồi đến Gwadar, Pakistan, trọn hải lộ từ Trung Đông sang Trung Hoa.[12] Ngoài ra là các hải cảng Sittwe, Miến Điện; Marao, MaldivesLamu, Kenya cũng là những khâu trong chuỗi quân cảng chiến lược của Trung Quốc.[13]

Phản ứng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dean Cheng thuộc Heritage Foundation cho rằng Hoa Kỳ nên tìm cách hợp tác với Ấn Độ để đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương.[14][15]

Đối với Ấn Độ thì hải cảng Hambantota gây chú ý như trong bài phân tích Asian Security của Nilanthi Samaranayake thuộc CNA.[16] Daniel Kostecka thì lại cho rằng các cơ sở Trung Quốc lập nên trên Ấn Độ Dương là có mục đích thương mại chứ không phải quân sự.[17]

Ngoài tầm vóc quân sự, chuỗi ngọc trai của Trung Quốc cũng tác động đến bố cục Cuộc chơi vĩ đại mớiTrung Á. Với nguồn năng lượng dầu mỏkhí đốt dồi dào khiến các nước Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, khối NATO, NgaTrung Quốc đều muốn tiếp cận, Trung Á có nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên địa thế khó khăn hiểm trở của Trung Á là một thử thách. Hơn nữa khu vực này là cứ điểm của các nhóm khủng bố như Al-Qaeda khiến việc vận chuyển dầu và khí tự nhiên bằng đường ống dễ bị gián đoạn. Kể từ khi sự kiện của 11 tháng 9 xảy ra thì Hoa Kỳ đã trực tiếp tham chiến ở Afghanistan. Trong khi đó Nga cũng tiến quân xâm lăng Gruzia, đe dọa đường ống Baku-Tbilisi-Ceyhan.

Trung Quốc đã đề ra chiến lược chuỗi ngọc trai để đối phó với nguồn năng lượng Trung Á bằng cách mở một thông lộ khác qua ngả Pakistan mà trọng điểm là cảng nước sâu quy mô ở Gwadar.[18] Từ Gwadar Trung Quốc sẽ có căn cứ chiến lược chắc chắn để hoạt động ở Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư. Gwadar cũng là trung tâm hạ nguồn cho các đường ống nối các mỏ khí thiên nhiênTrung Á qua Afghanistan để thông ra biển. Trung Quốc đã hoàn thành thiết lập ống dẫn dầu Kazakhstan-Trung Quốc năm 2009. Ống dẫn này chạy từ biên giới Trung Quốc-Kazakhstan đến phía bắc biển Caspi hầu khai thác nguồn dầu lửa khổng lồ ở khu vực Tengiz đầy tiềm lực.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Dung. Chiến tranh Đông Dương III, cuộc chiến Việt-Hoa-Miên 1979-1989. Falls Church, VA: Tiếng Quê hương, 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]