Người Thái (Trung Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc
ᦺᦑᦟ ᥖᥭᥰ
中国境内傣族
Tổng số dân
Khoảng chừng 8 triệu người
Khu vực có số dân đáng kể
 Myanmar 6.345.236
 Trung Quốc 1.158.989[1]
 Lào 126.229
 Thái Lan 145.236
Ngôn ngữ
Tiếng Thái Lặc (phía Việt Nam gọi là Tiếng Lự), tiếng Thái Na, Tiếng Thái Đen, Tiếng quan thoại, Tiếng Lào, Tiếng Thái Lan
Tôn giáo
Phật giáo Thượng toạ bộ Nam Tông và tín ngưỡng tông giáo nguyên thuỷ [2]

Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc (chữ Anh: Dai people, tiếng Lự: ᦺᦑᦟ /tai˥˩/, tiếng Thái Na: ᥖᥭᥰ /tai˥/, chữ Hán: 傣族, Hán - Việt: Thái tộc, chữ Thái: ไทย hoặc ไท), còn gọi là giống người Thái quốc nội Trung Quốc, là tên gọi được công nhận chính thức cho một vài nhóm sắc tộc sinh sống trong khu vực châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành cùng huyện tự trị dân tộc Thái và dân tộc Va Cảnh Mã thuộc địa cấp thị Lâm Thươnghuyện tự trị dân tộc Thái, dân tộc Lạp Hỗ và dân tộc Va Mạnh Liên thuộc địa cấp thị Tư Mao (cả hai châu, huyện tự trị này đều ở phía tây nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), nhưng có thể áp dụng mở rộng cho các nhóm tại Lào, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện khi chữ Thái được đặc biệt sử dụng để chỉ người Đàn (Miến Điện), người Lự, người Đàn Trung Hoa, Thái Đen, Thái Trắng hoặc thậm chí sắc tộc nói tiếng Thái nói chung.

Ngôn ngữ dân tộc là tiếng Thái, thuộc về nhánh ngữ Tráng - Thái, tông ngữ Tráng - Động.

Giống người Thái coi chim côngvoi là vật cát tường, truyện kể dân gian phong phú đa dạng, người dân Thái thích dựa nước mà ở, họ yêu dòng nước trong sạch, hay tắm gội, phụ nữ thường gội đầu, cho nên có danh xưng đẹp đẽ là "dân tộc của nước", tín ngưỡng phổ biến của giống người Thái là Phật giáo Thượng toạ bộ Nam Tông và tông giáo nguyên thuỷ.

Giống người Thái là dân tộc chủ thể của nước Thái Lannước Lào, chiếm 40% tổng dân số của nước Thái Lan, giống người Thái lại còn là dân tộc lớn thứ hai ở Miến Điện, là dân tộc thiểu số ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Campuchia, v.v. Dựa vào Tổng điều tra nhân khẩu cả nước Trung Quốc lần thứ sáu năm 2010, giống người Thái có hơn 1,26 triệu người ở bên trong biên giới Trung Quốc.[3][4]

Tên gọi người Thái ở Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc chiếu theo khu vực phân bố có các tên gọi tự xưng như Thái Lặc, Thái Na, Thái Á, Thái Banh, Thái Đoan. Vùng châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp tự xưng "Thái Lặc", vùng châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành tự xưng "Thái Na", vùng huyện tự trị dân tộc Ha Ni, dân tộc Di và dân tộc Thái Nguyên Giang và vùng huyện tự trị dân tộc Di và dân tộc Thái Tân Bình ở thượng du sông Hồng tự xưng "Thái Á", vùng men theo đường biên giới thị xã Thuỵ Lệ, huyện Lũng Xuyênhuyện tự trị dân tộc Thái và dân tộc Va Cảnh Mã tự xưng "Thái Banh", vùng xã Mang Cảnh và xã Mang Na ở bờ sông Lan Thương tự xưng phân nhánh Thái Banh. Giống người Hán gọi Thái Lặc là Thái nước (Thuỷ Thái), Thái Na là Thái khô (Hạn Thái), Thái Á là Thái lưng bông hoa (Hoa Yêu Thái).

Đầu thế kỉ I công nguyên, sổ sách ghi chép lịch sử bằng chữ Hán đã có liên quan đến tư liệu ghi trong sách vở của giống người Thái cổ đại. Sách vở văn chương của triều nhà Đườngtriều nhà Tống gọi dân tộc Thái bằng một hàng danh xưng như Kim Xỉ, Hắc Xỉ, Ngân Xỉ, Tú Cước, Tú Diện, Mang Man, Bạch Y. Thời kì triều nhà Nguyêntriều nhà Minh vẫn gọi là Kim Xỉ và Bạch Y. Chữ Bạch Y lại được viết thêm thành Bách Di, Bạch Di, Bá Di, cũng gọi sai thành Bặc Di, kết quả là làm cho lẫn lộn với tên gọi dân tộc Bạch. Từ triều nhà Thanh tới nay gọi là "Bãi Di". Mặt khác, sổ sách ghi chép lịch sử Việt Nam gọi giống người Thái là Ai Lao; sổ sách ghi chép lịch sử Miến Điện gọi giống người Thái là Đàn; sổ sách ghi chép lịch sử Ấn Độ gọi giống người Thái là A Hồng Mỗ (Ahom).

Sau Đại chiến tranh thế giới lần thứ hai, Chính phủ các nước lấy sự phân bố giống người Thái ở bên trong biên giới của nước mình gọi tên không giống nhau. Thái Lan, Việt NamCampuchia gọi là Thái (Thai, 泰), Lào gọi là Lão (Lao), Miến Điện gọi là Đàn (Shan), Trung Quốc gọi là Thái (Dai, 傣), Ấn Độ gọi là A Hồng Mỗ (Ahom), nhưng mà tất cả đều tự xưng là Tai.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc giống người Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Liên quan đến khởi nguyên của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, chủ yếu có hai loại luồng quan điểm chính cùng với rất nhiều thuyết pháp (đường lối giải thích).

Học thuyết di dời[sửa | sửa mã nguồn]

Một loại thuyết pháp ảnh hưởng lớn nhất trong đó là "Học thuyết đi đến phương nam", thuyết pháp đó cho biết là người cổ đại của giống người Thái có nguồn gốc ở các địa phương của phương bắc Trung Quốc hoặc xa thêm như vùng đất Thiểm Nam Xuyên Bắc và vùng đất mạch núi Altai. Dưới sự xua đuổi của dân tộc khác, giống người Thái đi đến phương nam liên miên không dứt, trong quá trình di dời, giống người Thái một lần dừng lại ở tỉnh Vân Nam, rồi đồng thời kiến lập lên Vương quốc Nam Chiếu, về sau Hốt Tất Liệt trị loạn dẹp yên Vương quốc Đại Lí, giống người Thái bị ép bức liên tục dời về phương nam cho đến phía nam của tỉnh Vân Nam và một khu vực Đông Nam Á, quan điểm đó đã bị vứt bỏ bởi vì càng ngày càng nhiều học giả đi sâu vào nghiên cứu.

Các thuyết pháp khác lại còn có khởi nguyên ở Indonesia, vùng đất Lưỡng Quảng, vùng đất Vân Quý (tên gọi chung của tỉnh Vân Namtỉnh Quý Châu), v.v

Thuận theo sự thâm nhập nghiên cứu về sách vở văn chương dân tộc giống người Thái, Học thuyết di dời đã được sự chống đỡ của càng ngày càng nhiều chứng cứ, ví như "Bản mãnh Thái Lặc tây song bang" (本勐傣泐西双邦, ᦟᦹᧉᦉᦲᧇᦉᦸᧂᦔᦱᧂ), "Tây hạ mãnh long" (西贺勐龙), "Ba sa thản" (巴沙坦), v.v Một ít sách vở văn chương này biểu thị thổ dân ở khu vực mà giống người Thái cư trú chủ yếu là người Lạp Ngoã (Lawa), người Khơ Mú, người Môn, người Khổng, v.v giống người Thái chính là người di dời đến sau tiến vào.[5][6][7][8][9]

Học thuyết thổ dân[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm đó cho biết là giống người Thái từ xưa tới nay đã cư trú về phía tây của sông Vàng đến thượng du của sông Ayeyarwaddy, đi sát đến khu vực hình vòng cung của sườn dốc bang Manipur, Ấn Độ, sự hình thành của nó là kết quả tự nhiên của sự phát triển văn hoá và kinh tế, hoàn toàn không phải là kết quả di dời. Tuy nhiên dù giống người Thái là tiến hoá của thổ dân hay cư dân nào đi nữa thì có thuyết pháp không giống nhau, ví như nhà nghiên cứu Hoàng Huệ Hỗn cho biết người cổ đại của giống người Thái là người Bách Việt, Trần Lữ Phạm thì cho biết giống người Thái là do tiến hoá của người Đàn mà ra.

Trong đó ảnh hưởng lớn nhất là từ nguồn gốc ở người Bách Việt, thuyết pháp đó cho biết là Điền Việt, Đàn Quốc, Việt Thường, Bồng Quốc, v.v ở trong sổ sách ghi chép lịch sử bằng chữ Hán là quốc gia mà người cổ đại giống người Thái kiến lập, nhưng mà cũng có học giả đã đưa ra chất vấn về quan điểm đó, ví như nhà nghiên cứu Hà Bình cho biết là Điền Việt, Đàn Quốc, Việt Thường, Bồng Quốc, v.v không có quan hệ với người cổ đại của giống người Thái; Trịnh Hiểu Vân cho biết là người Bách Việt hoàn toàn không phải là một dân tộc, tự nhiên cũng không có tập tính noi theo nếp cũ của dân tộc.[8][9]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều học giả cho biết là, một ít dân tộc phân bố ở bên trong phạm vi của Nam ChiếuĐại Lí thống trị ở thời kì triều nhà Tống được nêu ra trong sách xưa Trung Quốc là người cổ đại của giống người Thái ở Trung Quốc, "Bộ lạc Mang Man được ghi chép trong "Man thư" là người cổ đại của giống người Thái ở một khu vực Tây Song Bản Nạp ngày nay;[10] Trịnh Hiểu Vân cho biết Điền quốcvương quốc đầu tiên do giống người Thái kiến lập.[8] Căn cứ vào "Lặc sử" ghi chép, khoảng chừng năm 1180 công nguyên, giống người Thái ở một khu vực Tây Song Bản Nạp ngày nay đã thống nhất các bộ lạc của giống người Thái ở dưới sự cầm đầu của Bá Chân (biệt xưng Phách Nhã Chân), rồi kiến lập Kim điện quốc Cảnh Lũng (biệt xưng Cảnh Lũng quốc, Lặc quốc). Việc kiến lập chính quyền Mãnh Lặc, đã đánh dấu người Lự (phía Trung Quốc hay gọi là người Thái Lặc) - chủ thể của giống người Thái ở Tây Song Bản Nạp, chính thức hình thành. Mặt khác, một ít học giả lại còn cho biết, người Ai Lao (cách gọi của sách sử Việt Nam chỉ Lào) được ghi chép trong sách xưa của Trung Quốc rất có khả năng là một trong các sắc tộc Thái ở thời kì đầu, một bộ phận của chúng nó rất có khả năng đã dung hợp vào trong giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc.[9]

Vào thời kì triều nhà Nguyêntriều nhà Minh, việc giao lưu văn hoá và kinh tế giữa giống người Hán và giống người Thái, cũng làm tăng thêm sự mật thiết, đặc biệt là số lượng nhiều người dân của giống người Hán hay dời nhà đi ở chỗ biên cương, khoa học văn hoá và kĩ thuật sản xuất tiên tiến của nội địa được truyền bá rộng rãi ở vùng đất của giống người Thái, đã xúc tiến rất nhanh chóng sự phát triển của kinh tế xã hội của giống người Thái. Tư liệu ghi trong sách vở ở thời kì ban đầu nhà Nguyên, giống người Thái ở vùng châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành vẫn sử dụng nô lệ để lao động, làm nghề. Vùng đất của giống người Thái ở các nơi vào thời kì giáp giới triều nhà Nguyêntriều nhà Minh đã nối tiếp tiến vào xã hội chế độ lãnh chúa phong kiến. Việc sinh sản xã hội đã có sự phát triển lên một bước. Việc sử dụng đồ sắt đã phổ biến tương đương. Sản vật làm nông cũng đã gia tăng chủng loại sản phẩm mới. Hoa cây bông đã trồng trọt phổ biển. Nghề thủ công cũng có sự phát triển mới, đã xuất hiện các sản phẩm thủ công mĩ nghệ đẹp vượt trội như "gấm làm ở biên giới", "màn che làm bằng tơ", v.v. Nghề buôn bán đẩy mạnh, đã xuất hiện xóm chợ nghề buôn bán khá lớn như Xa Lí.

Vùng đất của giống người Thái ở vào biên cương, đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc xâm nhập của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc không chỉ tiến hành xâm lược kinh tế, cướp lấy tài nguyên thiên nhiênbán phá giá vật phẩm mua bán trên thị trường với số lượng nhiều, lại còn tiến hành xâm lược chính trị, quân sự và văn hoá, sai khiến gián điệp và đặc vụ, mượn các danh nghĩa như tham hiểm, khảo sát, lữ hành, truyền giáo, để tiến sâu vào vùng đất biên cương, tìm kiếm gom góp tình báo, đo lường vẽ bản đồ, lôi kéo họp lại cấp trên của dân tộc, phá hoại quan hệ dân tộc, thậm chí tiến hành xâm nhập vũ trang trần trùng trục. Để cho bảo vệ lãnh thổ Trung Quốc, người dân của các giống người như giống người Thái, giống người Hán, giống người Cảnh Pha, giống người Va, v.v vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đã triển khai đấu tranh vũ trang nhiều lần với sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Anhchủ nghĩa đế quốc Pháp.

Giữa thời kì chiến tranh chống Nhật ở Trung Quốc, người dân của giống người Thái lại cùng chung đường lối với người dân cả nước Trung Quốc, đã nhảy vào đấu tranh vũ trang phản đối phát xít Nhật Bản, đã làm cống hiến để cho bảo vệ lãnh thổ thần thánh biên cương Trung Quốc. Năm 1938 xây dựng đường sắt Vân Nam - Miến Điện. Các dân tộc lớn nhỏ như giống người Thái, giống người Va mà Thổ ti Cảnh Mã ông Hãn Phú Đình và Thổ ti xóm Mạnh Định ông Hãn Vạn Hiền cai quản cầm đầu, tham gia xây dựng một đoạn đường sắt nhỏ. Sau khi quân Nhật chiếm lĩnh phía Tây tỉnh Vân Nam, đội du kích chống Nhật của các dân tộc đã tiến hành đấu tranh quật cường với kẻ thù, trong đó Đội cứu nước thanh niên dân tộc Thái và Hán có ông Dương Bỉnh Nam là người cầm đầu, Quân tự vệ vùng biên giới phía tây Vân Nam có Thổ ti giống người Thái ông Đao Kinh Bản lãnh đạo, Chi đội Cảnh Mã - Lan Thương có Thổ ti Cảnh Mã ông Hãn Dụ Khanh tập họp nên, v.v Trong chiến tranh chống Nhật ở Trung Quốc, quốc lộ Vân Nam - Miến Điện là giao thông trọng yếu nhất ở Trung Quốc để tiếp nhận vật tư viện trợ bên ngoài, được gọi là "động mạch lớn của chiến tranh chống Nhật ở Trung Quốc", người dân của giống người Thái nhiều lần tham dự vào việc sửa chữa gấp gáp với quốc lộ Vân Nam - Miến Điện, đã bảo chứng sự thông suốt của giao thông. Năm 1944, chiến dịch Bắc Miến Điện - Tây Vân Nam chuyển vào đại phản công, cuối cùng vào ngày 20 tháng 01 năm 1945, đem giặc thù Nhật Bản đuổi ra khỏi thị xã Uyển Đinh cửa ngõ quốc gia, cuối cùng đã giành lấy thắng lợi của chiến dịch Bắc Miến Điện - Tây Vân Nam. Chiến dịch Bắc Miến Điện - Tây Vân Nam được khen ngợi là "khuôn mẫu mới giết hết kẻ thù bảo vệ cứ điểm, khai sáng mở đường thu phục lãnh thổ quốc gia", là thắng lợi của cuộc kháng chiến cả nước Trung Quốc đã dựng lên nền móng trọng yếu.[3]

Vương quốc Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Thái mà giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc dời đến vào thời gian nào hoàn toàn không có chứng cứ trực tiếp có thể chứng minh, nhưng mà rất nhiều học giả cho biết là, giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc tiến vào vùng đất Vương quốc Thái ngày nay đồng thời kiến quốc ở chỗ đó nên phải là trước hoặc sau thế kỉ X.[9]

Sách vở văn chương của miền bắc Thái Lan hiển thị, năm 1150 công nguyên, ở ven sát bờ sông của gần sát tỉnh Nam Bôn Phủ đã xuất hiện một xóm của giống người Thái quốc nội Trung Quốc. Năm 1263, Vua Mang Lai (biệt xưng Mạnh Lai), mà có quan hệ thân thuộc với vị vua ở Mãnh Lặc, Tây Song Bản Nạp (bây giờ là thị xã Cảnh Hồng, châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp), đã kiến lập thành phòng vệ của Vua Mang Lai, theo sau là đã chiếm lĩnh Nam Bôn Phủ. Năm 1296, Vua Mang Lai kiến lập thành phòng vệ mới Thanh Mại, năm 1350, Thanh Mại đã khống chế vùng đất Lan Na.[8]

Nước Cộng hoà Liên bang Myanmar[sửa | sửa mã nguồn]

Phổ thông cho biết là, sau thế kỉ VI công nguyên, giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc đã mở đầu liên miên không dứt từ tỉnh Vân Nam dời vào phía bắc Miến Điện. Thế kỉ VII đến X, giống người Thái quốc nội Trung Quốc tại Miến Điện ở vào dưới sự thống trị của nước Nam Chiếu, nhưng mà nước Nam Chiếu có phải là chính quyền mà người cổ đại của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc kiến lập hay không đang là tồn tại tranh biện nghị luận, học giả Trung Quốc phổ biến cho biết nước Nam Chiếu không phải là chính quyền mà người cổ đại của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc kiến lập, về phía nước ngoài cũng có học giả chống giữ quan điểm đó. Thế kỉ X đến XI công nguyên, giống người Thái quốc nội Trung Quốc ở phía bắc Miến Điện đã kiến lập lên nhà nước gọi tên là Mạnh Mão Long, tức là chính quyền Lộc Xuyên được ghi chép trong sổ sách lịch sử của Trung Quốc. Năm 1229, Tang Long tiến vào vùng đất A Tát Mỗ, nước Ấn Độ ngày nay.[8]

Thời kì triều nhà Nguyên, tuyệt đại bộ phận giống người Đàn ở bên ngoài biên giới Miến Điện cùng một loài với giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, ở bên trong phạm vi khống chế của vương triều trung ương Trung Quốc như cũ. Năm cuối của triều nhà Nguyên, giống người Thái quốc nội Trung Quốc và giống người Đàn của vùng đất ở biên cương Trung Quốc - Miến Điện, phía tây bắc tỉnh Vân Nam ngày nay, lấy Lộc Xuyên làm trung tâm dần dần thoát ra vòng khống chế của triều nhà Nguyên, rồi hình thành một cánh thế lực xé ra cắt chiếm riêng một vùng đất.

Sau khi triều nhà Minh thống nhất, Tư Luân Pháp (biệt xưng Tư Luân Phát) chiếm cứ Lộc Xuyên, trừ vùng đất như Xa Lí ra, vùng đất của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc và giống người Đàn mà hai bên vùng đất biên giới Trung Quốc - Miến Điện sở hữu tất cả đều bị thôn tính. Tư Luân Pháp xưng "Lộc Xuyên vương", nước Lộc Xuyên mà nó thống trị, phần nhiều có xu thế thoát li khỏi cương vực của triều nhà Minh và tự bản thân phát triển độc lập. Sau khi Tư Luân Pháp chết, đầu tiên nhất bị các bộ lạc của giống người Thái quốc nội Trung Quốc ở Lộc Xuyên thôn tính, đông đảo thoát li khỏi chính quyền Lộc Xuyên và tự lập, triều đình nhà Minh nắm lấy cơ hội này, đả tách ra kiến lập rất nhiều chính quyền thổ ti. Khi đến con trai của Tư Luân Pháp ông Tư Nhậm Pháp thống trị, thế lực Lộc Xuyên lại bành trướng thêm liên miên không dứt. Giữa năm Chính Thống, liên tục lấn cướp 278 xóm như xóm La Bốc Tư Trang mà thuộc phủ Nam Điện, lấn chiếm vào các vùng đất như Nam Điện, Can Nhai, Đằng Xung, Lộ Giang, Kim Xỉ, cướp lấy các vùng như Lộ Giang, hơn nữa, chuẩn bị chủ động tấn công châu Vân Long, lại thêm sai khiến thuộc hạ giết chết quân đội chính quyền đóng giữ như Ngoã Điện, Thuận Giang, Giang Đông, cuối cùng đã dẫn đến Chiến dịch Lộc Xuyên của triều nhà Minh.[11]

Thời kì thực dân Anh Quốc thống trị, vùng đất của giống người Đàn được gọi là Liên bang Đàn. Năm 1952, Quân Chính phủ Miến Điện mượn lí do xua đuổi quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, ra lệnh quân đội xâm nhập bang Đàn ở phía bắc Miến Điện. Năm 1958 Quân và dân bang Đàn ở trên ruộng đất của bang Đàn phát sinh xung đột vũ trang cường liệt với quân đội Miến Điện, tương đối có tiếng tăm là "Đại chiến Đương Dương", trong Đại chiến Na Tràng phía bang Đàn thương vong trầm trọng. Tháng 12 năm 1993, "Trùm ma tuý" Khôn Sa - lãnh tụ cuộc vận động độc lập dân tộc giống người Đàn dốc sức tranh đấu, sau khi có được hai vạn quân dù đem vùng đất mà nó khống chế tuyên bố cái gọi là "Nước độc lập bang Đàn", đồng thời tự phong là "Tổng thống". Tháng 04 năm 2005, quân bang Đàn công khai tuyên bố "thành lập Chính phủ Liên bang Giống người Đàn, thoát li Liên bang Miến Điện và độc lập", người lãnh đạo của nó Chiêu Diệu Thế trình bày lại vào năm 2006, ông ấy liên tục kháng cự với quân đội chính phủ Myanmar, "chiến đấu đến còn một quân một lính", "hoàn toàn không vứt bỏ giấc mơ tranh đoạt độc lập".[12]

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả Việt Nam Đặng Nghiêm Vạn cho biết là, nhóm sắc tộc giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc phân bố ở phía đông bắc Việt Nam và một ít vùng đất chung quanh nó hình thành vào thời kì đầu, tuy nhiên giới học thuật quyết không nhất trí thời gian mà giống người Thái phân bố ở vùng đất tây bắc Việt Nam cùng với thời gian xuất hiện và hình thành nhánh, hệ của nó, có học giả cho biết thời kì đầu là vào thế kỉ III đến IV trước công nguyên, người Lự - người Thái cổ dù đã kiến lập nhà nước ở vùng đất tây bắc Việt Nam, nhưng mà cũng có học giả cho biết là mãi cho đến thế kỉ X đến XIV công nguyên, người cổ đại của giống người Thái mới nối tiếp dời vào vùng đất tây bắc Việt Nam.

Ông Đặng Nghiêm Vạn cho biết là, người cổ đại của giống người Thái có thể truy nguyên đến người Lạc Việt cổ đại và một ít nhóm sắc tộc phân bố ở Quảng TâyVân Nam của Trung Quốc cùng với miền bắc Việt Nam tương quan với nó ngay thời gian đó, nhưng mà sự hình thành cuối cùng của nó thì là sự cố sau khi Nùng Trí Cao dấy binh thất bại vào thế kỉ XI công nguyên.[11]

Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Bình cho biết, Ai Lao trước đây rất có khả năng là một nhánh của giống người Lào sớm nhất. Lao Luân Đặc Tra Tây cho biết người Thái là mở đầu di dời về Lào từ thế kỉ IX công nguyên, vào thế kỉ XI công nguyên, di dân giống người Thái đến từ Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc cùng với miền bắc Việt Nam mở đầu ảnh hưởng Lào. Hà Bình cho biết, khoảng chừng vào thế kỉ X đến thế kỉ XIII thuận theo sự phát triển dung hợp của quần thể dân tộc nói tiếng Thái nguyên thuỷ, cùng với sự dung hợp giữa các dân tộc của họ cùng nói tông ngữ Môn - Khmer, đã hình thành sơ bộ giống người Lào hiện đại.[11]

Nước Cộng hoà Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhánh lớn nhất trong số người các sắc tộc Tháinước Ấn Độ được gọi là người A Hồng Mỗ (Ahom), rất nhiều học giả cho biết là họ dời vào từ một khu vực châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành, Trung Quốc vào ban đầu thế kỉ XIII, người A Hồng Mỗ (Ahom) mà dời đi về phía tây đã định cư ở lưu vực sông Brahmaputra cho tới nay, đồng thời kiến lập lên vương quốc tên là "Mãnh Đốn Tôn Hãn" (Mong Dun Shun Kham), năm 1838, Purandar Singha - một vị vua cuối cùng của vương quốc, bị người Anh Quốc phế truất, vương quốc tuyên cáo diệt vong.

Ở dưới sự thống trị của người Anh Quốc, quyền lợi và lợi ích của người A Hồng Mỗ (Ahom) bị tổn hại với mức độ không giống nhau, thậm chí bị coi xét là tầng lớp hạ đẳng. Do đó, người A Hồng Mỗ đấu tranh phản kháng sự thống trị của thực dân Anh Quốc từ một lúc mở đầu rồi thừa cơ hội nổi dậy liên miên không dứt, một ít cuộc đấu tranh này nối tiếp thất bại. Một ít cuộc đấu tranh thất bại, đã lộ rõ ra cuộc vận động chủ nghĩa dân tộc mới trong phần tử tri thức trong số người A Hồng Mỗ, ví như cuộc vận động phục hưng ngôn ngữ, lập ra tạp chí, v.v

Để bảo vệ quyền lợi của chính mình, năm 1893, tổ chức người A Hồng Mỗ đã thành lập "Hiệp hội người A Hồng Mỗ toàn bang Assam", rồi nổi lên "Cuộc vận động tranh đoạt quyền bầu cử độc lập", nhưng mà chưa có khả năng thực hiện. Sau khi nước Cộng hoà Ấn Độ độc lập vào ngày 15 tháng 08 năm 1947, người A Hồng Mỗ chưa được xếp vào danh sách "bộ lạc được soi xét xếp vào" (Scheduled Tribes). Cùng lúc tranh đoạt trở thành là bộ lạc được soi xét xếp vào (Scheduled Tribes), một bộ phận người A Hồng Mỗ và tổ chức của nó đã tiến hành một dãy cuộc vận động với ý hướng phục hưng đặc trưng dân tộc và văn hoá dân tộc của người A Hồng Mỗ (Ahom).[11]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Các vương triều phong kiến của châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp từ triều nhà Nguyên, triều nhà Minhtriều nhà Thanh thiết lập chế độ thổ ti cho tới nay, được vương triều trung ương sắc phong là "triệu phiến lĩnh" của "Xa Lí tuyên uý sứ" (nghĩa là vua của ruộng đất rộng lớn), thế hệ nối đời thành là lãnh chúa tối cao và người thống trị của châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp. Ở bên trong này, tất cả ruộng đất, núi rừng, nguồn nước, v.v đều thuộc về sở hữu của triệu phiến lĩnh (nghĩa là vua của một nước). Triệu phiến lĩnh lại thêm chia cắt đất đai và phong cho họ hàng và người gần gũi tin dùng của nó làm người thống trị của một khu vực, gọi là "triệu mãnh" (nghĩa là vua của một khu vực), người cầm đầu do nhiều đời kế thừa tước vị cha ông truyền lại có ruộng đất và người dân ở bên trong biên giới, ở dưới chế độ lãnh chúa phong kiến sở hữu ruộng đất lớn, một phần ruộng đất là lãnh chúa trực tiếp chiếm hữu, lãnh chúa lợi dụng hình thức của công xã nông thôn chi phối ruộng đất về phương diện lịch sử còn sót lại tới nay, thông qua thủ lĩnh của thôn trang đem ruộng đất phân phối cho nông nô để cày ruộng và gieo giống. Nông nô nhận lấy loại suất đất cần phải chịu vác các gánh nặng phong kiến, loại gánh nặng phong kiến này là thủ đoạn chủ yếu của lãnh chúa bóc lột nông nô.

Trước khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 01 tháng 10 năm 1949, lãnh chúa các cấp từ triệu phiến lĩnh, triệu mãnh, "ba lãng" (do triệu kiến lĩnh hoặc triệu mãnh sai khiến, coi sóc giám sát quan viên các cấp ở bên trong khu vực mà chúng nó cai quản đồng thời cưỡng chế nông dân thừa nhận quan viên gánh nặng phong kiến) cho đến thủ lĩnh đương quyền của làng xã cấu thành tập đoàn lãnh chúa, chiếm khoảng chừng 7% tổng nhân khẩu. Trong nông thôn ngoại trừ "nông dân tự do" - "người có ruộng nương của triệu" do tập đoàn lãnh chúa phân hoá ra mà chiếm 5,7% tổng số hộ nông dân ra, lãnh chúa đem nông nô rộng lớn tính toán và phân chia làm hai đẳng cấp "thái mãnh" và cổn ngận triệu". Thái mãnh (nghĩa là người bản địa hoặc người xây dựng thôn trang sớm nhất) chiếm khoảng chừng 55% tổng số hộ, là cư dân sớm nhất, địa vị của nó khá cao hơn đẳng cấp khác như nông nô, chiếm hữu "ruộng đất của chung nông trang" khá nhiều ruộng đất. Cổn ngận triệu (nghĩa là người của quan phủ hoặc người ở bên trong nhà của lãnh chúa) chiếm khoảng chừng 39% tổng số hộ, đây là một tập thể nông nô vì các loại nguyên nhân xã hội đã đánh mất ruộng đất và tự do thân thể nên lệ thuộc vào lãnh chúa, địa vị xã hội thấp nhất, tầng lớp bị bóc lột thì nó là nặng nhất. Toàn bộ nông nô trừ phải gánh vác thuế quan nặng nhất cùng với ruộng đất tư hữu và ruộng đất bổng lộc của lãnh chúa đã cày ruộng và gieo giống mà không hoàn trả lại ra, thì nông nô thuộc đẳng cấp thái mãnh lại còn cần phải gánh vác các loại lao dịch chung không hoàn trả lại như sửa chữa đường xá, bắc cầu, khởi công xây dựng công trình thuỷ lợi, v.v Nông nô thuộc đẳng cấp cổn ngận triệu bị cưỡng bách gánh vác các loại lao dịch gia đình của lãnh chúa, mọi loại như săn sóc ngựa, săn sóc voi, nấu cơm, khiêng kiệu, chèo thuyền cho đến vót gậy đi cầu, khóc tang, v.v, danh mục nhiều tới hơn hàng trăm loại, chia cắt thôn trang làm khoán, đời đời kế tục cho nhau.

Để cho chống cự lại trấn áp nông nô rộng lớn, lãnh chúa có một bộ cơ cấu chính trị giữ gìn bảo hộ phong kiến thống trị. Ở bề dưới của triệu phiến lĩnh có "toà án nghị sự", là cơ cấu quyền lực và cơ cấu sự vụ thương thảo, phụ trách xử lí tất cả sự vụ thường ngày. Các mãnh (mãnh, chữ Thái Lan: เมือง, chữ Lào: ເມືອງ), là đơn vị phân chia khu hành chính của quốc gia của các sắc tộc Thái cổ đại, ví như nước Cảnh Lũng (phía tây nam của tỉnh Vân Nam ngày nay) có 12 mãnh hợp thành; nước Lộc Xuyên (phía tây của tỉnh Vân Nam và phía bắc Myanmar ngày nay) có hàng chục mãnh lớn và nhỏ hợp thành; nước Lan Nạp (phía bắc của Thái Lan ngày nay) có trên hàng trăm mãnh nhỏ hợp thành) có "toà án nghị sự". Phía dưới mãnh có "tây hoả", quản lí một số xóm xã, thủ lĩnh của nó gọi là "bá hoả tây". Dưới "tây hoả" là xóm xã, có thiết lập thủ lĩnh các cấp như "bá", "trả", "tiên". Ngoài ra lại còn có quân đội, toà ánnhà tù.

Vùng đất ở bên ngoài châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc có các biên cương như châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành, huyện tự trị dân tộc Thái, dân tộc Lạp Hỗ và dân tộc Va Mạnh Liên, huyện tự trị dân tộc Thái và dân tộc Va Cảnh Mã, v.v về tổng quát tương hợp với châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, về cơ bản thuộc về một loại kinh tế lãnh chúa phong kiến, nhưng mà kinh tế và xã hội của một ít vùng đất này đã phát sinh biến hoá mới, một phần đất mà nông dân chiếm hữu dần dần có xu hướng ổn định, thậm chí có thể chiếm hữu thế tập, thuế đất - vật dụng thật tế cũng xuất hiện phổ biến. Ở các khu vực như thị xã Mang, huyện Doanh Giangchâu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành, bởi vì tiếp xúc khá nhiều với giống người Hán, nhận lấy ảnh hưởng khá lớn, sự phát triển kinh tế của địa chủ khá nhanh, kinh tế của phú nông cũng đã phát triển lên. Sự phát triển kinh tế của địa chủ và phú nông đã xúc tiến khiến cho chế độ sở hữu ruộng đất lớn có xu hướng giải thể, tổ chức xóm xã đã tan vỡ, hình thái kinh tế và xã hội của nó đã tiến lên một bước so với châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp.

Sự ép bức và bóc lột của chế độ phong kiến, đã dẫn đến người người của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc liên tục chống cự lại liên miên không dứt. Sự thù ghét của người dân giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc không có cái gì có thể so sánh với nhau đã chửi rủa chế độ phong kiến: "Mày là nước, bọn tao không uống; mày là đường cái, bọn tao không đi; mày là Mặt Trời, bọn tao không phơi hạt kê; mày là Phật, bọn tao không lạy !". Giữa thế kỉ XIX, người dân của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, người Cảnh Pha ở xã Hiên Cương, châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành ở dưới sự lãnh đạo của "Bố Hạnh Ngạch Môn", đã cử hành khởi nghĩa liên hợp chống cự lại thổ ti của thị xã Mang thống trị tàn bạo. Đã kiên trì đấu tranh 03 năm, cuối cùng bị thổ ti và người thống trị của triều nhà Thanh trấn áp liên tục không gián đoạn, nhưng mà ngọn lửa phản kháng của người dân quyết không dập tắt. Không lâu, ở một khu vực của thị xã Mang đã bùng phát khởi nghĩa liên hợp các dân tộc lấy "Hỗn Y Hải Hãn" - một ca sĩ nổi tiếng trong khu vực, làm người cầm đầu. Ông ấy dùng tiếng hát vạch rõ hành vi phạm tội của lãnh chúa phong kiến, gắng gỏi kích động giai cấp nông dân oán giận thù hằn, kêu gọi triệu tập mọi người đứng lên phản kháng, nông dân khắp chung quanh nghe được tiếng hát của ông ấy, đông đảo tham gia đội ngũ khởi nghĩa, cự tuyệt giao nộp thuế quan. Sau khi khởi nghĩa thất bại, thổ ti đã giết chết "Hỗn Y Hải Hãn". Tuy nhiên, người dân của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc mãi mãi tưởng nhớ ca sĩ anh dũng này, đem ông ấy tôn làm "ca thần". Gần 100 năm tới nay, người dân của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc nhìn mãi đã quen mắt và không còn gì mới lạ với cuộc đấu tranh của thổ ti phong kiến và thủ lĩnh.[3]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp tính lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Người cổ đại của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc thì đã nắm giữ quy luật vận động của mặt trời, mặt trăngsao, đồng thời căn cứ vào quy luật vận động của mặt trời, mặt trăng và sao mà sắp xếp việc sinh hoạt và sinh sản.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 51 công nguyên, "Mãnh Đạt Quang" (chữ Hán dịch là nước Ai Lao) - quốc gia liên minh của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc quy thuận phục tùng triều nhà Hán, sau khi lịch Thái sơ của triều nhà Hán truyền vào vùng đất của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, tiến một bước rồi hoàn thiện nhận thức của người cổ đại của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc về quy luật vận động của mặt trời, mặt trăngsao.

Năm 69 công nguyên, triều nhà Hán thôn tính "Mãnh Đạt Quang" (nước Ai Lao) rồi thiết lập quận Vĩnh Xương, lịch Thái sơ ở toàn diện vùng đất của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, dần dần dung hợp vào đến trong sinh hoạt và sinh sản của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, được giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc coi như là một bộ phận của văn hoá dân tộc của chính mình; nước Phiếu ở ranh giới phía nam của "Mãnh Đạt Quang" (quận Vĩnh Xương) cũng thông qua giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc đã dung nạp lịch Thái sơ của triều nhà Hán.

Vào thế kỉ VII công nguyên, nước Phiếu (vương triều Thất Lợi Sai Đán La) sáng chế lịch nước Phiếu trên nền móng của lịch Thái sơ; năm 832 công nguyên, nước Phiếu bị "Mãnh Xá Long" (chữ Hán dịch là nước Nam Chiếu) chiếm lĩnh, người nước Phiếu chia li chạy trốn tứ xứ, nước Đông Hu của giống người Miến mà kế thừa văn hoá của người nước Phiếu tiếp nối với nhau chinh phục các nước chư hầu lớn và nhỏ của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, lấy lịch nước Phiếu mang đến vùng đất của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc từ từ tiếp nhận lịch nước Phiếu.

Năm 1966 công nguyên, bang Đàn (một trong các bang gia nhập liên minh của nước Cộng hoà Liên bang Myanmar), đem lịch nước Phiếu sử dụng lúc ấy sau đó cải cách quyết định làm phương pháp tính lịch tiêu chuẩn; do dân tộc chủ thể của bang Đàngiống người Đàn, giống người Đàn tự khoe mình là "Đại Thái", do đó lịch tiêu chuẩn của bang Đàn gọi là "lịch Đại Thái", nhưng mà lịch nước Phiếu sử dụng trước đó thì hạ đẳng cấp, địa vị và tiêu chuẩn xuống thấp gọi là "lịch Tiểu Thái". Về sau, giống người Đàn ở các nơi Myanmar cũng lấy phương pháp tính lịch của chính mình sử dụng điều chỉnh làm tiêu chuẩn của bang Đàn. Cuối thế kỉ XX công nguyên, giống người Thái (Trung Quốc) ở phía tây tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và người A Tát Mỗ ở bang Assam, phía đông bắc của nước Ấn Độ với giống người Đànnước Cộng hoà Liên bang Myanmar cùng thuộc một đường máu chảy "Đại Thái" cũng đem phương pháp tính lịch của chính mình sử dụng điều chỉnh làm tiêu chuẩn của bang Đàn.[13]

Quy tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc tuy có sự khác biệt với "lịch Đại Thái" và "lịch Tiểu Thái", nhưng mà quy luật tính toán cơ bản nhất trí bảo lưu, duy trì nguyên trạng, chỉ có năm mở đầu ghi chép chuyện trong năm là không cùng một loại, "lịch Đại Thái" lấy năm 95 trước công nguyên là năm mở đầu ghi chép chuyện trong năm, "lịch Tiểu Thái" lấy năm 638 công nguyên làm năm mở đầu ghi chép chuyện trong năm. Trước mắt, giống người Thái ở phía tây tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, giống người Thái ở Myanmar (giống người Đàn), giống người Thái ở Ấn Độ (giống người A Tát Mỗ) tôn sùng "lịch Đại Thái"; giống người Thái ở phía nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, giống người Thái ở Lào (giống người Lào), giống người Thái ở Thái Lan (giống người nước Thái) và giống người Thái ở Campuchia tôn sùng "lịch Tiểu Thái".

Lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc dùng 10 mẫu (thiên can) và 12 tử (địa chi) phân phối lẫn nhau tuần hoàn được 60 tổ hợp, 60 tổ hợp tuần hoàn đại biểu ngày, tháng, năm và thứ tự giờ (thì thần là đơn vị tính giờ đồng hồ cổ đại), năm tròn và thời gian mở đầu trở lại, sử dụng tuần hoàn. Trong tình huống phổ thông có 12 tháng, chia ra 3 mùa là mùa lạnh, mùa nóng và mùa mưa, mỗi mùa có 4 tháng, tháng số lẻ là 30 ngày, tháng số chẵn là 29 ngày, tròn một năm là 354 ngày; cách 04 đến 05 năm, vào tháng 08 chất thêm một ngày nhuận, tháng 08 thì là 29 + 01 ngày, năm đó gọi là bình niên (nghĩa là năm không có tháng nhuận), cơ hội của một năm có được 355 ngày; mỗi 19 năm thiết lập 07 tháng nhuận, tất cả thiết lập tháng nhuận vào tháng 09, tháng 09 nhuận cũng là 30 ngày, cái năm mà thiết lập tháng nhuận gọi là năm nhuận, một năm có 13 tháng và 384 ngày. Mỗi một tháng chia ra hai thời gian nửa tháng "trăng mọc" và "trăng đi", sau của ngày cuối tháng của trước một tháng mới (một ngày cuối cùng mỗi tháng) gọi là "một ngày trăng mọc", tính theo thứ cho đến ngày rằm (ngày 15), sau ngày rằm gọi là "một ngày trăng đi", tính theo thứ tự cho đến ngày cuối tháng. Sử dụng thất diệu (Mặt Trời, Mặt Trăng, sao Hoả, sao Thuỷ, sao Mộc, sao Kim, sao Thổ) để ghi chép ngày trong tuần; 12 thuộc tướng - con vật cầm tinh (chuột, bò, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo) để ghi chép năm.

Độ dài quay trở lại của một năm của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc là 365 ngày 06 giờ đồng hồ 12 phút 36 giây (365,258 ngày), có sai lầm nhất định với năm quay trở lại tiêu chuẩn hiện đại (365 ngày 05 giờ 48 phút 46 giây), tháng sóc vọng là 29,530583 ngày (chiếu theo tháng sóc vọng tiêu chuẩn hiện đại là 29,53059 ngày), cho nên cần phải thiết lập vào ngày nhuận hoặc tháng nhuận ở giai đoạn nhất định, bổ sung cái sai lầm đó.

Trình tự tháng của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc sớm 03 tháng so với nông lịch Trung Quốc, tháng 10 của nông lịch Trung Quốc chính là tháng 01 của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, nếu thiết lập nhuận vào một tháng hạn độ trước tháng 10, thì tháng 01 của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc chính là tháng 11 của nông lịch Trung Quốc, trình tự tháng chỉ sớm hai tháng so với nông lịch Trung Quốc, ví như nếu ngày 01 tháng 01 năm 2107 lịch Đại Thái (tức năm 1373 lịch Tiểu Thái tương đương với mồng 02 tháng 11 năm Nhâm Thìn nông lịch, năm đó tháng 04 nhuận nông lịch, cho nên sớm 02 tháng; năm thiết lập nhuận sớm một năm so với nông lịch, bởi vì chọn dùng ngày mồng một sớm, một ngày trăng mọc cũng không phải là cái ngày mà mặt trời và mặt trăng cùng cung cùng độ, cho nên có lúc chênh lệch một ngày với thứ tự ngày của nông lịch.

Việc ghi chép ngày, ghi chép tháng hằng ngày của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc tiếp nhận và ứng dụng quy tắc tính toán của lịch Thái sơ, ngày liền trước Nguyên đán (ngày tròn một năm) thì tiếp nhận ứng dụng quy tắc tính toán của lịch Ấn Độ, hai cái phối hợp cho nhau, bổ sung cho nhau, thiếu một cái không được; ngày liên trước Nguyên đán của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc ở khoảng thời gian tiết Cốc vũ mỗi năm (Mặt Trời tiến vào chòm sao Kim Ngưu) và không dính líu với Nguyệt tướng (dung mạo của Mặt Trăng), do đó năm mới của lịch của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc không phải là ngày 01 tháng 01, mà là di động ở giữa ngày 06 tháng 06 đến ngày 06 tháng 07, ngày cụ thể căn cứ vào vị trí vận hành của Mặt Trời mà quyết định và số ngày tích luỹ kỉ nguyên mà chồng chất hằng ngày từ kiến lập năm mở đầu ghi chép chuyện trong năm (năm 638 công nguyên) tới nay mà tính toán suy diễn.[14]

Y dược[sửa | sửa mã nguồn]

Lí luận y dược của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc cho biết là, loài tự nhiên đã tồn tại bốn chủng loại vật chất, gọi là "tứ tháp", tức là "ngoã ước tháp" (gió), "đa trác tháp" (lửa), "a ba tháp" (nước) và "ba tháp duy tháp" (đất), vạn vật sinh trưởng không thể lìa xa bốn chủng loại vật chất này, đồng thời mượn dùng hình tượng của "tứ tháp" để giải thích hiện tượng sinh lí và biến hoá bệnh lí của người, cho biết sức khoẻ là sự cân bằng động thái và tiêu chí hoà hợp do giữa các tháp của "tứ tháp" ở bên trong cơ thể người duy trì, đồng thời biểu thị rõ ràng rằng "tứ tháp" ở bên trong cơ thể người có khả năng duy trì loại quan hệ cân bằng động thái và tiêu chí hoà hợp này với "tứ tháp" ở cõi ngoài.[3]

Trong lí luận y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc lại còn thu lấy tư tưởng "ngũ uẩn" trong giáo nghĩa Phật giáo, tức là lấy năm phương diện như sắc, thụ, tưởng, hành, thức để khái quát kết cấu tổ chức và hiện tượng sinh lí của cơ thể người, tách ra là: lục ba khang tháp (uẩn hình thể), duy đạt khang tháp (uẩn thụ giác), tiên nhã lạp khang tháp (uẩn tri giác) và ôn nhã lạp khang tháp (uẩn tâm). Y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc lại còn lấy ngũ uẩn kết hợp lẫn nhau với "ngũ giới" (giới luật Phật giáo của giáo đồ thế tục, cấm sát sinh, trộm cắp, gian dâm, nói xằng và uống rượu), khi xem bệnh và kê đơn thuốc bác sĩ hay tiến hành nhấn mạnh ngũ giới, cốt để bảo chứng sức khoẻ của thân thể và tinh thần.

Đơn thuốc, cách dùng thuốc pha thuốc và phương pháp trị liệu của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc mà được giới thiệu ở trong sách y dược của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc đã không giống nhau với Tây y, cũng không giống nhau với Đông y trong nước Trung Quốc, có đơn thuốc thậm chí có công hiệu và tác dụng "đơn thuốc nổi tiếng phi chính thống chữa chết vì phẫn nộ". Ở châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạpchâu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành, trong y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc một mạch lưu truyền "tám đơn thuốc nổi tiếng trọng yếu": "nhã khiếu phách trung bố", "nhã khê lí môn nam" (biệt xưng nhã sa lí môn nam), "nhã kí", "nhã bành lãnh", "cổn kiết tiên ân", "ma đăng hàm", "nhã khiếu ha đắc" (biệt xưng nhã khiếu ha đốn) và "nhã bất đạp bất đảm hạnh". Trong đó "nhã khiếu ha đốn" đã được "Dược điển nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa" tiếp thụ vào ở niên đại 70 thế kỉ XX, "nhã khê lí môn nam" và "nhã khiếu phách trung bố" được "Tiêu chuẩn dược phẩm tỉnh Vân Nam" tiệp nhận và ghi chép.

Phương pháp xem bệnh của y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc chủ yếu là tiếp cận, nghe thấy, tra hỏi, rờ dò, bắt mạch. Y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc lại còn căn cứ vào sự khác biệt của màu da, thể chất và mùa sinh bệnh (giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc lấy một năm chia ra là mùa nóng, mùa mưa và mùa lạnh) của người bệnh, tiến hành chẩn đoán và tuyển dụng phương pháp trị liệu bệnh tật không giống nhau. Y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc lấy thuốc chia ra ba loại là "nhã hoàng" (thuốc tính nóng), "nhã kiết nhân" (thuốc tính lạnh) và "nhã mặc" (thuốc tính ngang bằng). Thuốc sử dụng của y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc trừ việc tiếp nhận chọn dùng ba loại phương pháp là uống trong, dùng ngoài và kết hợp trị liệu trong và ngoài ra, lại còn có một ít phương pháp đặc biệt và độc quyền, như thuốc ngủ, thuốc bôi, thuốc hấp, thuốc hun, thuốc nghiền xát, thuốc châm, v.v

Sách vở của một đời truyền lại về y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc chủ yếu có "kiết nha san ha nhã", "mã nỗ tát la", "dược điển", "dược thư và bệnh lí", v.v Vào năm 1990, Sở Nghiên cứu Y dược dân tộc Thái Châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp đã tiến hành thống kê về y dược dân gian của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc ở cả châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, thu tập được sách chép tay về sổ sách, điển chương y dược của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc và hơn 200 quyển bối diệp kinh (nó là kinh văn được viết ở trên của cây thốt nốt và có nguồn gốc ở nước Ấn Độ cổ đại), 73 quyển sách chép tay về thư tịch y dược của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc mà ghi chép rải rác thấy ở các nơi, thống kê và điều tra 1208 chủng loại thuốc của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, 405 chủng loại đơn thuốc trị bệnh, thu tập được 125 cái đơn thuốc trị bệnh thuộc về thuốc của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, 729 chủng loại tiêu bản thuốc của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, 253 dạng phẩm.

Năm 1983, nhà nước Trung Quốc xác định y dược của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc là một trong bốn y dược dân tộc trọng yếu của Trung Quốc. Vào ngày 10 tháng 01 năm 1988 đã thành lập Bệnh viện Y dược dân tộc Thái Châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, rồi hình thành cách thức và bố cục mới mà nghiên cứu, lâm sàng và dạy học kết hợp lại làm thành một chỉnh thể. Ở châu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoànhquận thị hạt Tư Mao thuộc cấp dưới địa cấp thị Phổ Nhị cũng đã nối theo thành lập cơ cấu nghiên cứu y dược dân tộc. Rất nhiều chuyên gia y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc cùng với một dòng nhân viên khoa học kĩ thuật giống người Hán đã tiến hành công tác đào moi và nghiên cứu thu thập số lượng nhiều về y dược học của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, đã biên dịch nối tiếp "Y dược Tây Song Bản Nạp", "Chú thích đơn thuốc cho sẵn của y dược dân tộc Thái cổ đại" một quyển, "Dược chí Tây Song Bản Nạp" một đến bốn quyển (đã in ra ba quyển ở bên trong châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp), thị xã Cảnh Hồngchâu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp lại còn phiên dịch chính thức rồi xuất bản "Đáng ha nhã", "Thường thức vệ sinh của gia đình Tây Song Bản Nạp", "Truyện kể xưa về thuốc của dân tộc Thái", "Kiết nha san ha nhã", v.v[15][16]

Chế tạo giấy[sửa | sửa mã nguồn]

Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc ở xóm Mang Đoàn, thôn Mạnh Định, huyện tự trị dân tộc Thái và dân tộc Va Cảnh Mã lại còn có kĩ thuật thủ công chế tạo giấy làm bằng tay.

Phụ nữ là lao động chủ yếu và người chuyên nghề trong chế tạo giấy thủ công ở xóm Mang Đoàn, mỗi một đoạn gia công hợp thành cả quá trình sản sinh trọn vẹn đều là do phụ nữ hoàn thành.

Nguyên liệu của chế tạo giấy là vỏ của cây dướng.

Thứ tự công đoạn là ngâm nước, khuấy trộn tro cỏ cây, nấu hấp, tẩy rửa, đập giã hồ, múc giấy, phơi khô, mài bóng, bóc giấy, v.v[3]

Đồ gốm[sửa | sửa mã nguồn]

Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc là dân tộc chế tác và sử dụng gốm đen nhiều nhất. Châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, thôn Phổ Nhị ở dưới sự cai quản của huyện Diêm Tân, địa cấp thị Chiêu Thông, tỉnh Vân Nam và các nơi có họ xa với chúng nó là nơi sản sinh của gốm đen. Bởi vì gốm đen có sẵn tính thoáng khí rất tốt, cho nên ở các làng của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc khi nóng nực, dùng nó tồn trữ nước không chỉ không có khả năng biến chất trong khoảng thời gian dài, mà còn có khả năng bảo toàn cảm giác mát lạnh của nước. Ngoài ra lại còn có một công dụng là dùng làm dụng cụ nhỏ nước xuống để cầu cát, chỗ chân cột trong điện Phật của miếu và chùa của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc thông thường có một cái động nhỏ rơi nước xuống, căn cứ vào tình huống nhỏ nước xuống mà xem bói, nếu có điều không cát thì cần cầu xin ông Phật để cho niệm kinh tiêu trừ nó. Nguyên liệu của đồ dùng gốm đen là một chủng loại đất đen đặc biệt có sẵn ở làng của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc, sau khi trải qua ngâm thấm lâu trong nước với hỗn hợp cát và đất thấm ướt nhất định, rồi tiến hành đập, giã, vò, ép là làm xong.

Đồ dùng gốm đen tất cả đều dùng tạo hình thủ công chế tác, sau khi đồ gốm chưa nung đắp, trát, kéo tốt dùng dao vót hoặc khắc hoạ ra hoa văn, sau khi phơi khô thì tiến hành đốt nung là xong ngay. Đồ dùng gốm đen thông thường cùng là màu trắng, mặt ngoài bóng láng, nền tính chất mịn màng và trơn láng. Sản phẩm đồ dùng gốm đỏ và được dùng nhiều nhất chính là đồ bằng sành, tiếng của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc là "mộ đinh", thông thường khá lớn, tạo hình hoàn toàn mới lạ, dùng cho đựng nước chứa cơm, có khả năng loại bỏ lòng nghi ngờ về sự thối rữa ở trong điều kiện nóng nực, là đồ dùng của tất cả hộ gia đình của giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc tất phải dự bị. Nguyên liệu chế tác gốm đỏ là một chủng loại đất sét đỏ ở nơi đó, hiện ra màu đỏ nung, kết hợp cát theo lượng nhất định, cùng khuấy thấm và vò bằng nhau, sau khi dùng gậy gỗ đập giã và đánh hỗn hợp, dùng mâm quay tự chế tạo hình đồ gốm chưa nung. Sau khi đồ gốm chưa nung đắp, trát, kéo tốt dùng đồ đập bằng gỗ có hoa văn đập hoa văn giản đơn lên trên, bỏ vào trong cái giàn phơi khô, sau khi phơi khô thì tiến hành đốt nung.[3]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tuồng Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Thư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cắt giấy[sửa | sửa mã nguồn]

Dệt gấm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cụ[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ nghi chôn cất người chết[sửa | sửa mã nguồn]

Di cư[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực nguyên gốc của người Thái Lặc bao gồm cả hai vùng bên các bờ sông Mê Kông tại Tây Song Bản Nạp trở xuống. Theo truyền thuyết của người Thái Lặc, khi đó có 5 nhà nước thành bang/bộ lạc bên bờ đông và 6 nhà nước thành bang/bộ lạc bên bờ tây, cùng với Chiang Rung (nay là Cảnh Hồng) tạo thành 12 thành quốc với tất cả 12 nhà nước thành bang/bộ lạc này đều có 32 tỉnh nhỏ khác.

Một số trong những người Thái Lặc này hoặc là tự nguyện hoặc là bị cưỡng ép phải di chuyển từ các nhà nước thành bang này vào khoảng 1 tới 2 trăm năm trước để tới khu vực ngày nay là Myanmar, Lào và Thái Lan.

Tai Yong[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ 19 theo Phật lịch (kỷ nguyên Buddhasakarat, khoảng thế kỷ 13-14 theo lịch Julius), Chao Sunantha, con trai của người trị vì Chiang Rung, đã dẫn những người Thái Lặc theo mình từ Chiang Rung tới Yong (ngày nay thuộc bang Shan) để cai trị những cư dân bản địa tại đây là người Lawa. Họ được hỗ trợ bởi các yếu tố sau:

  • Các niềm tin và tập quán được đồng hóa và sự xuất hiện xu hướng thống nhất tín ngưỡng Phật giáo trong giai đoạn sau.
  • Các ràng buộc gia đình, họ hàng với các nhà nước thành bang/bộ tộc như Chiang Rung và Chiang Tung cũng như hệ thống cống nộp cho các nhà nước thành bang/bộ tộc này, và sự xây dựng các liên minh chính thức với các cụm nhà nước bộ tộc/thành bang xung quanh Chiang Rai trên hai bờ sông Mê Kông, chẳng hạn như Chiang SaenChiang Khong.

Tính tới yếu tố lịch sử, người Tai Yong như thế là hậu duệ của người Thái Lặc. Tại Thái Lan, những người này được gọi là Thai Yai (Thái Lớn) còn thế giới bên ngoài gọi họ là người Shan.

Người Thái Lặc tại Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thái Lan cũng có người Thái Lặc sinh sống tại nhiều tỉnh tại các khu vực vùng cao của miền bắc Thái Lan; bao gồm:

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thái chủ yếu làm nông nghiệp, trồng trọt các loại cây nhiệt đới như dứa, ngoài việc chính là trồng các loại cây lương thực như lúa. Nhiều người Thái sống gần sông Mê Kông.

Các nhóm Thái và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trung bính âm Thái Lặc Thái Na Thái Việt* Thông thường Khu vực
傣仂
(西雙版納傣族自治州)
Dǎilè
(Xīshuāngbǎnnà Dǎi)
tai51 lɯː11   ไทลื้อ Thái Lặc Thái Lặc, Tai Lue Châu tự trị người Thái Tây Song Bản Nạp
傣那
(德宏傣)
Dǎinà
(Déhóng Dǎi)
tai51 nəː55 tai
le6
ไทเหนือ, ไทใต้คง Thái Na Thái Na, Thái bắc, Thái cao, Shan Trung Quốc Đức Hoành; Myanma
傣擔 Dǎidān tai51 dam55   ไทดำ, ลาวโซ่ง, ผู้ไท Thái Đen, Tay Đăm Thái Đam, Thái Đen, Tai Lam, Lao Song Dam**, Tai Muan, Tai Tan, Black Do, Thái Kim Bình, Tai Den, Tai Do, Tai Noir, Thai Den, Tay Đăm Kim Bình (金平), Lào, Thái Lan
傣繃 Dǎibēng tai51 pɔːŋ66 ไทเบง Thái Banh/Băng Tay Pong Thụy Lệ (瑞丽), Cảnh Mã (耿马),
dọc theo sông Lan Thương
傣端 Dǎiduān tai51 doːn55 ไทขาว   Thái Trắng, Tày Đón, Tai Khao, Tai Kao, Tai Don, Dai Kao, Thái Đoan, Thái Đỏ, Tai Blanc, Tai Kaw, Tày Lai, Thai Trang Kim Bình (金平)
傣雅 Dǎiyǎ tai51 jaː35 ไทหย่า Thái Nhã Tai Ya, Tai Cung, Cung, Ya Tân Bình (新平), Nguyên Giang (元江)
傣友 Dǎiyǒu tai51 jiu11   ไทยโยว Thái Hữu   Nguyên Dương (元阳),
dọc theo Hồng Hà
* Phiên âm Hán-Việt, có thể không đúng với cách gọi của người Thái tại Việt Nam.
** Nghĩa đen "người Lào [mặc] quần đen"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zhu Liangwen (1992). The Dai: Or the Tai and Their Architecture & Customs in South China. Băng Cốc, Thái Lan và Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc: D D Books and The Science and Technology Press of Yunnan.
  1. ^ “Ethnic Groups”. China.org.cn. 
  2. ^ Haimei Shen. Risk Society, the Predicaments of Folk Religion and Experience of Modernity: The Guardian Spirits in the Mandi Dailue Ethnic Society of Xishuangbanna. China: An International Journal, Vol. 11, No. 2
  3. ^ a ă â b c d đ “Giống người Thái ở bên trong biên giới Trung Quốc (傣族)”. http://www.gov.cn. 中华人民共和国中央人民政府网. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2018. 
  4. ^ “Tình hình tổng quát quốc gia Thái Lan”. www.fmprc.gov.cn. Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tháng 07 năm 2018. 
  5. ^ 赵瑛。走进中国少数民族从书-傣族卷[M]。辽宁:辽宁民族出版社,2014年:第25页。
  6. ^ 范宏贵:《壮族与傣族的历史渊源及迁徙》,《思想战线》1989年增刊。
  7. ^ 罗美珍:《从语言看傣、泰、壮的族源和迁徙问题》,王懿之、杨世光主编《贝叶文化史》,云南人民出版社,1990。
  8. ^ a ă â b c 郑晓云。全球化背景下的中国及东南亚傣泰民族文化[M]。北京:民族出版社,2008年:第39到282页。
  9. ^ a ă â b 何平。傣泰民族的起源与演变新探[M]。北京:社会科学文献出版社,2015年:第2-195页。
  10. ^ 刀承平、蔡荣男。傣族文化史[M]。云南:云南民族出版社,2014年:第18页。
  11. ^ a ă â b 何平。缅甸封建王朝势力的北扩与掸邦的形成[J]。东南亚,2003年,(02):第44至52页。
  12. ^ 尹鸿伟。名不副实的缅甸掸邦独立[J]。南风窗,2007,(14):第80至82。
  13. ^ “老挝人民欢度传统节日出夏节(高清组图)”. http://news.cri.cn. 中国国际广播电台. Ngày 31 tháng 10 năm 2012. 
  14. ^ 张公瑾。《傣族文化研究》:云南民族出版社,1988年。
  15. ^ 伍琼华。傣族医药与文化[J]:云南民族学院学报(哲学社会科学版),2001年,(06):第53至56页。
  16. ^ 蒋振忠,冯德强。傣族医药简述[J]:中医药学报,1992年,(4):第42,第54至55页。

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]