Boris Johnson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Boris Johnson

Alexander Boris de Pfeffel Johnson (sinh 19 tháng 6, 1964) là một chính trị gianhà báo người Anh, cựu Thị trưởng của Luân Đôn. Trước đó, ông ta là Thành viên nghị viện Đảng Bảo thủ cho Henley-on-Thames và là trưởng ban biên tập tạp chí The Spectator

Mặc dù ngoại hình như một con gấu và mái tóc xù vàng, Johnson đã chiếm được tình cảm của các chính trị gia khác và mọi tầng lớp người dân với phong cách sống động của mình. Tuy hài hước nhưng Johnson lại đứng đắn trong vấn đề quan trọng và không làm mất lòng mọi người khi kêu gọi họ theo chính sách của mình. Boris được xem sẽ rất thành công trong cuộc tổng tuyển cử vào năm 2010.

Ngày 13 tháng 7 năm 2016, Boris Johnson được thủ tướng Anh Theresa May bổ nhiệm làm ngoại trưởng Anh.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng bộ Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sau Theresa May chiến thắng trong cuộc thi lãnh đạo Đảng Bảo thủ và được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chính phủ, Johnson được bổ nhiệm chức Ngoại trưởng vào ngày 13 tháng 7 năm 2016.[1] Việc bổ nhiệm Johnson đã bị chỉ trích bởi một số nhà báo và chính trị gia nước ngoài vì một số câu nói gây tranh cãi của ông ta về các nước khác và các nhà lãnh đạo của họ.[2][3][4] Cựu Thủ tướng Thụy Điển Carl Bildt cho biết "tôi ước là nó chỉ là trò đùa", và Ngoại trưởng Pháp Jean-Marc Ayrault tuyên bố: ". tôi không lo lắng gì về Boris Johnson, nhưng... trong chiến dịch Trưng cầu dân ý về Brexit ông ta đã nói dối với người dân Anh và bây giờ ông sẽ bị dồn vào bức tường", khi Anh Quốc phải cố gắng đàm phán quan hệ tương lai của nó với EU.[5] Ngược lại, cựu Thủ tướng Úc Tony Abbott hoan nghênh việc bổ nhiệm và gọi ông là "một người bạn của nước Úc". [4] Một quan chức cấp cao trong chính quyền Obama cho rằng việc bổ nhiệm Johnson sẽ đẩy Hoa Kỳ tiếp tục hướng tới các mối quan hệ gần gũi với Đức với cái giá của mối quan hệ đặc biệt với Vương quốc Anh.[6]

Một số nhà phân tích mô tả việc bổ nhiệm có thể là một chiến thuật để làm suy yếu sự lãnh đạo của đối thủ mình, Johnson, về mặt chính trị: các vị trí mới như "Bộ trưởng Brexit" và Bộ trưởng Thương mại quốc tế làm cho Ngoại trưởng trở thành một nhân vật có chức vụ nhưng ít quyền hạn,[1][7] và việc bổ nhiệm sẽ bảo đảm Johnson sẽ thường xuyên ra khỏi đất nước và không thể tổ chức một liên minh nổi loạn, trong khi buộc ông phải chịu trách nhiệm về bất kỳ vấn đề nào gây ra vì rút ra khỏi EU.[8][9][10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă RobDotHutton, Robert Hutton. “Boris Johnson Appointed U.K. Foreign Secretary in May Government”. Bloomberg.com. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016. 
  2. ^ Patrick Wintour (13 tháng 7 năm 2016). “Boris Johnson and diplomacy are not synonymous”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  3. ^ “Boris Johnson is foreign secretary: The world reacts”. BBC News. 14 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ a ă Bonnie Malkin; Philip Oltermann; Tom Phillips (14 tháng 7 năm 2016). 'Maybe the Brits are just having us on': the world reacts to Boris Johnson as foreign minister”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  5. ^ Holton, Kate; Pitas, Costas (14 tháng 7 năm 2016). “May builds new-look Brexit cabinet to steer EU divorce”. Reuters (Thomson Reuters). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  6. ^ Robert Moore (14 tháng 7 năm 2016). “Boris Johnson's appointment as Foreign Secretary has not gone down well in the United States”. ITV News. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  7. ^ Stephen Bush (14 tháng 7 năm 2016). “Sending Boris Johnson to the Foreign Office is bad for Britain, good for Theresa May”. The New Statesman. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ Thomas Hüetlin (14 tháng 7 năm 2016). “Boris Johnson als Außenminister: Der Prügelknabe” [Boris Johnson as Foreign Secretary: The whipping boy]. Der Spiegel (bằng tiếng German). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  9. ^ Andrew Pierce (13 tháng 7 năm 2016). “How Boris - the Lazarus of politics - came back from the political dead in just 13 days to become the new Foreign Secretary”. Daily Mail. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  10. ^ John Cassidy (13 tháng 7 năm 2016). “The Huge Challenge Facing Theresa May”. New Yorker. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]