Xét nghiệm COVID-19

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
CDC 2019-nCoV Laboratory Test Kit.jpg
Bộ dụng cụ xét nghiệm COVID-19 trong phòng thí nghiệm của CDC Hoa Kỳ

Xét nghiệm COVID-19 bao gồm việc phân tích các mẫu để đánh giá sự hiện diện hiện tại hoặc trong quá khứ của SARS-CoV-2. Hai nhánh chính phát hiện sự hiện diện của virus hoặc của các kháng thể được tạo ra để phản ứng với việc nhiễm virus.[1][2] Các xét nghiệm phân tử về sự hiện diện của virus thông qua các thành phần phân tử của nó được sử dụng để chẩn đoán các trường hợp riêng lẻ và cho phép các cơ quan y tế công cộng theo dõi và ngăn chặn các đợt bùng phát. Thay vào đó, các xét nghiệm kháng thể (xét nghiệm miễn dịch huyết thanh) cho biết ai đó đã từng mắc bệnh hay chưa.[3] Các xét nghiệm kháng thể là ít hữu ích hơn để chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng hiện tại vì các kháng thể có thể chưa phát triển trong nhiều tuần sau khi nhiễm virus.[4] Xét nghiệm được sử dụng để đánh giá tỷ lệ hiện mắc bệnh, giúp ước tính tỷ lệ tử vong do nhiễm bệnh.

Các khu vực pháp lý riêng lẻ đã áp dụng các giao thức xét nghiệm khác nhau, bao gồm kiểm tra ai, tần suất kiểm tra, quy trình phân tích, thu thập mẫu và sử dụng kết quả kiểm tra ra sao.[5][6][7] Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng đáng kể đến các số liệu thống kê được báo cáo, bao gồm số ca bệnh và số thử nghiệm, tỷ lệ tử vong theo số ca bệnh và nhân khẩu học.[8][9][10][11] Vì sự lây truyền SARS-CoV-2 xảy ra vài ngày sau khi phơi nhiễm (và trước khi khởi phát các triệu chứng) nên cần phải giám sát thường xuyên và nhanh chóng để có kết quả.

Phân tích xét nghiệm thường được thực hiện trong các phòng thí nghiệm y tế tự động, thông lượng cao, bởi các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm y tế. Ngoài ra, xét nghiệm tại điểm chăm sóc có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ và bãi đậu xe, nơi làm việc, cơ sở tổ chức hoặc trung tâm chuyển tuyến.

Phương pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thích về sinh lý bệnh cơ bản liên quan đến chẩn đoán COVID-19[12]

Các xét nghiệm virus dương tính cho thấy tình trạng nhiễm bệnh trong hiện tại, trong khi các xét nghiệm kháng thể dương tính cho thấy tình trạng nhiễm bệnh trong quá khứ.[13] Các kỹ thuật khác bao gồm chụp CT, kiểm tra nhiệt độ cơ thể tăng cao, kiểm tra nồng độ oxy trong máu thấp và triển khai chó phát hiện tại các sân bay.[14][15]

Phát hiện virus[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát hiện virus thường được thực hiện bằng cách tìm kiếm DNA bên trong của virus hoặc các mảnh protein ở bên ngoài virus. Các xét nghiệm tìm kiếm các kháng nguyên của virus (các bộ phận của virus) được gọi là xét nghiệm kháng nguyên.

Có nhiều loại xét nghiệm tìm kiếm virus bằng cách phát hiện sự hiện diện của DNA của virus. Các loại này được gọi là các xét nghiệm phân tử, đặt tên theo sinh học phân tử. Tính đến năm 2021, dạng xét nghiệm phân tử phổ biến nhất là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR).[16] Các phương pháp khác được sử dụng trong các thử nghiệm phân tử bao gồm CRISPR, khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt, phản ứng chuỗi polymerase kỹ thuật số, phân tích microarray và giải trình tự thế hệ tiếp theo.

Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR)[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một quá trình khuếch đại (sao chép) một đoạn DNA nhỏ, được xác định rõ, lên hàng trăm nghìn lần, tạo ra lượng đủ để phân tích. Các mẫu thử nghiệm được xử lý bằng một số hóa chất[17][18] cho phép tách chiết DNA. Phiên mã ngược chuyển RNA thành DNA.

Phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) đầu tiên sử dụng phiên mã ngược để thu được DNA, tiếp theo là PCR để khuếch đại DNA đó, tạo ra đủ để phân tích.[18] RT-PCR do đó có thể phát hiện ra SARS-CoV-2, vốn chỉ chứa RNA. Quá trình RT-PCR thường cần vài giờ.[19] Các xét nghiệm này còn được gọi là xét nghiệm phân tử hoặc xét nghiệm di truyền.[3]

PCR thời gian thực (qPCR)[20] cung cấp các lợi thế bao gồm việc tự động hóa, thông lượng cao hơn và thiết bị đo đáng tin cậy hơn. Nó đã trở thành phương pháp được ưa thích.[21]

Kỹ thuật kết hợp đã được mô tả là RT-PCR thời gian thực [22] hoặc RT-PCR định lượng[23] và đôi khi được viết tắt là qRT-PCR,[24] rRT-PCR[25] hoặc RT-qPCR,[26] mặc dù đôi khi cũng được viết tắt thành RT-PCR hoặc PCR. Minimum Information for Publication of Quantitative Real-Time PCR Experiments (MIQE) đề xuất thuật ngữ RT-qPCR,[20] nhưng không phải tất cả các tác giả đều tuân thủ điều này.

Độ nhạy trung bình đối với các xét nghiệm phân tử nhanh phụ thuộc vào nhãn hiệu. Đối với ID NOW, độ nhạy trung bình là 73,0% với độ đặc hiệu trung bình là 99,7%; đối với Xpert Xpress độ nhạy trung bình là 100% với độ đặc hiệu trung bình là 97,2%.[27] Thuật ngữ độ nhạy đề cập đến khả năng của một xét nghiệm để xác định tất cả những người bị nhiễm, trong khi độ đặc hiệu là khả năng của xét nghiệm để phát hiện một loại virus cụ thể.[3]

Có thể lấy mẫu bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm ngoáy mũi họng, đờm (chất dịch ho ra),[28] gạc họng,[29] chất dịch đường thở sâu được lấy qua ống thông hút[29] hoặc nước bọt.[30][31] Drosten và cộng sự nhận xét rằng đối với SARS 2003, "từ quan điểm chẩn đoán, điều quan trọng cần lưu ý là gạc mũi và họng có vẻ ít thích hợp hơn để chẩn đoán, vì những vật liệu này chứa ít RNA virus hơn đáng kể so với đờm, và virus có thể không bị phát hiện nếu chỉ có những chất dịch này được kiểm tra."[32]

Độ nhạy của các mẫu lâm sàng bằng RT-PCR là 63% đối với ngoáy mũi, 32% đối với ngoáy họng, 48% đối với phân, 72–75% đối với đờm và 93–95% đối với chất dịch lấy từ phế quản.[33]

Khả năng phát hiện virus phụ thuộc vào phương pháp thu thập và khoảng thời gian đã trôi qua kể từ khi lây nhiễm. Theo các thử nghiệm Drosten được thực hiện với gạc họng chỉ đáng tin cậy trong tuần đầu tiên. Sau đó, virus có thể rời khỏi cổ họng và nhân lên trong phổi. Trong tuần thứ hai, việc lấy chất dịch là đờm hoặc trong đường thở sâu được ưu tiên hơn.[34]

Việc thu thập nước bọt có thể có hiệu quả tương tự như ngoáy mũi và cổ họng,[30] mặc dù điều này không chắc chắn.[35][36] Lấy mẫu nước bọt có thể làm giảm nguy cơ cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe do không phải tương tác vật lý gần gũi.[37] Điều này cũng làm bệnh nhân thấy thoải mái hơn.[38] Những người được kiểm dịch có thể thu thập mẫu của riêng họ.[37] Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm nước bọt phụ thuộc vào vị trí lấy mẫu (sâu trong họng, khoang miệng hoặc tuyến nước bọt).[36] Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nước bọt mang lại độ nhạy và độ nhất quán cao hơn khi so sánh với các mẫu ngoáy họng hoặc mũi.[39][40][41]

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2020, FDA Hoa Kỳ đã cấp phép sử dụng khẩn cấp cho xét nghiệm nước bọt được Đại học Yale phát triển, cho kết quả trong vài giờ.[42][43]

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2021, FDA Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ kết quả sai, đặc biệt là kết quả âm tính giả, với xét nghiệm RT-PCR thời gian thực Curative SARS-Cov-2 Assay.[44]

Số lượng virus đo được trong bệnh phẩm đường hô hấp trên giảm sau khi khởi phát triệu chứng.[45]

Các xét nghiệm phân tử khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các xét nghiệm khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt cũng khuếch đại bộ gen của virus. Chúng nhanh hơn PCR vì chúng không liên quan đến các chu kỳ làm nóng và làm mát lặp lại. Các xét nghiệm này thường phát hiện DNA bằng cách sử dụng thẻ huỳnh quang, được đọc ra bằng các máy chuyên dụng.

Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR đã được sửa đổi để thực hiện việc phát hiện: nếu enzym CRISPR gắn vào chuỗi, nó sẽ tạo màu cho dải giấy. Các nhà nghiên cứu hy vọng kết quả xét nghiệm sẽ rẻ và dễ sử dụng trong các cơ sở chăm sóc.[46][47] Xét nghiệm này khuếch đại RNA trực tiếp, không có bước chuyển đổi RNA-sang-DNA của RT-PCR.[48]

Xét nghiệm kháng nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ kiểm tra nhanh kháng nguyên COVID-19
Dịch nhầy từ mũi hoặc cổ họng trong chất lỏng thử nghiệm được đưa vào thiết bị xét nghiệm chẩn đoán kháng nguyên nhanh COVID-19

Kháng nguyên là một phần của mầm bệnh tạo ra phản ứng miễn dịch. Các xét nghiệm kháng nguyên tìm kiếm các protein kháng nguyên từ bề mặt virus. Trong trường hợp của coronavirus, chúng thường là các protein từ các gai trên bề mặt.[49] Các kháng nguyên SARS-CoV-2 có thể được phát hiện trước khi xuất hiện các triệu chứng COVID-19 (ngay khi có các hạt virus SARS-CoV-2) với kết quả xét nghiệm nhanh hơn, nhưng độ nhạy kém hơn so với xét nghiệm PCR đối với virus.[50]

Thử nghiệm kháng nguyên có thể là một cách để mở rộng quy mô thử nghiệm lên các cấp độ lớn hơn nhiều lần.[49] Thử nghiệm khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt chỉ có thể xử lý một mẫu tại một thời điểm trên mỗi máy. Các xét nghiệm RT-PCR là chính xác nhưng đòi hỏi quá nhiều thời gian, năng lượng và nhân viên được đào tạo để chạy các xét nghiệm.[49] Deborah Birx, người đứng đầu Lực lượng Đặc nhiệm Coronavirus của Nhà Trắng, cho biết: "Sẽ không bao giờ có khả năng xét nghiệm [PCR] 300 triệu lần mỗi ngày hoặc xét nghiệm tất cả mọi người trước khi họ đi làm hoặc đi học. Nhưng với xét nghiệm kháng nguyên thì có thể làm được."[51]

Có thể lấy mẫu qua tăm bông ngoáy mũi họng, hoặc từ nước bọt (lấy bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả xét nghiệm dùng kẹo mút cho trẻ em).[52] Sau đó, mẫu được tiếp xúc với các dải giấy có chứa các kháng thể nhân tạo được thiết kế để liên kết với các kháng nguyên coronavirus. Các kháng nguyên liên kết với các dải này và cho hiển thị trực quan. Quá trình này diễn ra trong vòng chưa đầy 30 phút, có thể mang lại kết quả tại điểm chăm sóc và không yêu cầu thiết bị đắt tiền hoặc đào tạo chuyên sâu.[49]

Vết gạc của virus đường hô hấp thường không có đủ dịch nhầy kháng nguyên để có thể phát hiện được.[53] Điều này đặc biệt đúng đối với những bệnh nhân không có triệu chứng có ít hoặc không có bất kỳ dịch mũi nào. Các protein của virus không được khuếch đại trong xét nghiệm kháng nguyên.[49][54] Theo WHO, độ nhạy của các xét nghiệm kháng nguyên tương tự đối với các bệnh đường hô hấp như cúm nằm trong khoảng từ 34% đến 80%. WHO cho biết: "Dựa trên thông tin này, một nửa hoặc nhiều hơn số bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 có thể bị bỏ sót bởi các xét nghiệm như vậy, tùy thuộc vào nhóm bệnh nhân được xét nghiệm". Trong khi một số nhà khoa học nghi ngờ liệu xét nghiệm kháng nguyên có thể hữu ích đối với COVID-19 hay không,[54] những người khác lập luận rằng xét nghiệm kháng nguyên có độ nhạy cao khi tải lượng virus cao và con người dễ lây lan, nên phù hợp để sàng lọc sức khỏe cộng đồng.[55][56] Các xét nghiệm kháng nguyên định kỳ có thể nhanh chóng xác định khi nào những người không có triệu chứng bị lây nhiễm, trong khi xét nghiệm PCR sau đó có thể được sử dụng nếu cần chẩn đoán xác định chắc chắn.[57]

Độ nhạy trung bình của các xét nghiệm kháng nguyên khác nhau giữa các nhãn hiệu, từ 34,1% đối với Coris Bioconcept đến 88,1% đối với SD Biosensor STANDARD Q. Độ đặc hiệu trung bình cao đối với hầu hết các nhãn hiệu với mức trung bình là 99,6%.[27]

Kiểm tra khả năng ngửi[sửa | sửa mã nguồn]

Mất khứu giác đột ngột có thể được sử dụng để sàng lọc mọi người hàng ngày về việc có nhiễm COVID-19 hay không. Một nghiên cứu của Viện Y tế Quốc gia cho thấy những người bị nhiễm SARS-CoV-2 không thể ngửi thấy hỗn hợp 25% ethanol và nước.[58] Bởi vì các điều kiện khác nhau có thể dẫn đến mất khứu giác, thử nghiệm ngửi mùi sẽ là không xác định nhưng chỉ ra sự cần thiết của xét nghiệm PCR. Vì sự mất khứu giác xuất hiện trước các triệu chứng khác, nên đã có một cuộc kêu gọi thử nghiệm ngửi mùi rộng rãi. Các cơ quan quản lý chăm sóc sức khỏe thường bỏ qua các bài kiểm tra ngửi mùi mặc dù chúng nhanh chóng, dễ dàng và có khả năng tự quản lý hàng ngày. Điều này đã khiến một số tạp chí y tế viết các bài xã luận ủng hộ việc áp dụng thử nghiệm ngửi mùi.[59]

Chụp hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các đặc điểm điển hình có thể nhìn thấy trên CT ban đầu bao gồm đục dịch kính mặt đất đa thanh hai bên với sự phân bố ngoại vi hoặc phía sau.[60] COVID-19 có thể được xác định với độ chính xác cao hơn bằng CT so với RT-PCR.[61]

Sự thống trị khoang màng phổi, sự mở rộng và hợp nhất có thể phát triển khi bệnh tiến triển.[62][63] Chụp CT ngực và chụp X-quang ngực không được khuyến khích để chẩn đoán COVID-19. Các phát hiện X quang trong COVID-19 thiếu tính đặc hiệu.[62][64]

Xét nghiệm kháng thể[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể phản ứng với nhiễm virus bằng cách sản xuất các kháng thể giúp tiêu diệt virus. Xét nghiệm máu (còn được gọi là xét nghiệm huyết thanh học hoặc xét nghiệm miễn dịch huyết thanh học[3]) có thể phát hiện sự hiện diện của các kháng thể như vậy.[65] Các xét nghiệm kháng thể có thể được sử dụng để đánh giá phần nào dân số đã từng bị nhiễm bệnh, sau đó có thể được sử dụng để tính toán tỷ lệ tử vong của căn bệnh.[66] Chúng cũng có thể được sử dụng để xác định lượng kháng thể chứa trong một đơn vị huyết tương, để điều trị bằng COVID-19 hoặc để xác minh xem một loại vắc xin đã cho có tạo ra đáp ứng miễn dịch đủ mức hay không.[67]

Hiệu lực và thời gian bảo vệ của kháng thể SARS-CoV-2 chưa được thiết lập.[66][68] Do đó, xét nghiệm kháng thể dương tính có thể không ngụ ý khả năng miễn dịch và không bị nhiễm bệnh trong tương lai. Hơn nữa, việc nhiễm bệnh nhẹ hay không có triệu chứng tạo ra đủ kháng thể để xét nghiệm phát hiện được hay không vẫn còn chưa rõ.[69] Các kháng thể của một số bệnh tồn tại trong máu nhiều năm, trong khi những bệnh khác mất dần đi theo thời gian.[49]

Các kháng thể đáng chú ý nhất là IgMIgG. Các kháng thể IgM thường có thể phát hiện được vài ngày sau khi nhiễm lần đầu, mặc dù nồng độ của nó trong suốt quá trình nhiễm trùng và sau đó không được đặc trưng rõ ràng.[70] Các kháng thể IgG thường có thể phát hiện được từ 10–14 ngày sau khi nhiễm và thường đạt đỉnh khoảng 28 ngày sau khi nhiễm.[71][72] Tuy nhiên, mô hình phát triển kháng thể này thường không áp dụng cho SARS-CoV-2, với IgM đôi khi xuất hiện sau IgG, cùng với IgG hoặc hoàn toàn không thấy.[73] Nói chung, tuy nhiên, việc phát hiện IgM trung bình xảy ra 5 ngày sau khi bắt đầu có triệu chứng, trong khi IgG được phát hiện ở mức trung bình 14 ngày sau khi khởi phát triệu chứng.[74] Nồng độ IgG giảm đáng kể sau hai hoặc ba tháng.[75]

Xét nghiệm di truyền xác minh nhiễm bệnh sớm hơn xét nghiệm kháng thể. Chỉ 30% trong số những người có xét nghiệm di truyền dương tính cho kết quả xét nghiệm kháng thể dương tính vào ngày thứ 7 kể từ ngày lây nhiễm.[69] Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh (CDC) và Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) tại Mỹ cũng cho biết việc xét nghiệm kháng thể không thể hiện được chính xác hoàn toàn khả năng miễn dịch với SARS-CoV-2[76][77]

Các loại xét nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT)[sửa | sửa mã nguồn]

RDT thường sử dụng xét nghiệm dòng chảy bên nhỏ, di động, dương/âm có thể được thực hiện tại điểm chăm sóc. RDT có thể xử lý mẫu máu, mẫu nước bọt hoặc dịch ngoáy mũi. RDTs tạo ra các vạch màu để cho biết kết quả dương tính hoặc âm tính.[78]

Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym (ELISA)[sửa | sửa mã nguồn]

ELISA có thể định tính hoặc định lượng và thường yêu cầu phòng thí nghiệm. Các xét nghiệm này thường sử dụng mẫu máu toàn phần, huyết tương hoặc huyết thanh. Đĩa được phủ một loại protein virus, chẳng hạn như protein gai của SARS-CoV-2. Các mẫu được ủ với protein, cho phép bất kỳ kháng thể nào liên kết với protein. Sau đó, phức hợp protein-kháng thể có thể được phát hiện bằng cách rửa kháng thể khác tạo ra màu sắc/huỳnh quang.[78]

Xét nghiệm ngăn chặn[sửa | sửa mã nguồn]

Các xét nghiệm ngăn chặn đánh giá xem liệu các kháng thể mẫu có ngăn chặn được sự lây nhiễm virus trong các tế bào thử nghiệm hay không. Các xét nghiệm này lấy mẫu máu, huyết tương hoặc huyết thanh. Thử nghiệm nuôi cấy các tế bào cho phép sinh sản virus (ví dụ, tế bào Vero E6). Bằng cách thay đổi nồng độ kháng thể, các nhà nghiên cứu có thể hình dung và định lượng có bao nhiêu kháng thể thử nghiệm ngăn chặn được sự nhân lên của virus.[78]

Xét nghiệm miễn dịch phát quang hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang là xét nghiệm định lượng trong phòng thí nghiệm. Họ lấy mẫu máu, huyết tương hoặc huyết thanh. Các mẫu được trộn với một protein virus đã biết, thuốc thử đệm và các kháng thể đặc hiệu, được đánh dấu bằng enzym. Kết quả sẽ phát quang. Phương pháp xét nghiệm miễn dịch vi hạt phát quang hóa học sử dụng các vi hạt có từ tính, được phủ protein. Các kháng thể phản ứng với protein của virus, tạo thành một phức chất. Các kháng thể đánh dấu enzym thứ cấp được thêm vào và liên kết với các phức chất này. Phản ứng hóa học tạo ra ánh sáng. Bức xạ được sử dụng để tính toán số lượng kháng thể. Xét nghiệm này có thể xác định nhiều loại kháng thể, bao gồm IgG, IgM và IgA.[78]

Ngăn chặn và liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết nếu không phải là tất cả các xét nghiệm kháng thể COVID-19 quy mô lớn chỉ tìm kiếm các kháng thể liên kết và không đo lường các kháng thể ngăn chặn quan trọng hơn (NAb).[79][80][81] NAb là một kháng thể bảo vệ tế bào khỏi một phần tử lây nhiễm bằng cách vô hiệu hóa các hiệu ứng sinh học của nó. Sự ngăn chặn này làm cho phần tử lây nhiễm không còn lây nhiễm hoặc gây bệnh.[82] Một kháng thể liên kết liên kết với mầm bệnh nhưng mầm bệnh vẫn lây nhiễm; mục đích có thể là để đánh dấu mầm bệnh để hệ thống miễn dịch tiêu diệt.[83] Nó thậm chí có thể tăng cường khả năng lây nhiễm bằng cách tương tác với các thụ thể trên đại thực bào.[84] Vì hầu hết các xét nghiệm kháng thể COVID-19 đều trả lại kết quả dương tính nếu họ chỉ tìm thấy các kháng thể liên kết, các xét nghiệm này không thể chỉ ra rằng đối tượng đã tạo ra các NAb bảo vệ để bảo vệ chống lại sự tái nhiễm.[80][81]

Người ta mong đợi rằng các kháng thể liên kết ngụ ý sự hiện diện của NAbs[81] và đối với nhiều bệnh do virus, tổng phản ứng của kháng thể tương quan phần nào với các phản ứng NAb[85] nhưng điều này chưa được làm rõ đối với COVID-19. Một nghiên cứu trên 175 bệnh nhân đã hồi phục ở Trung Quốc có các triệu chứng nhẹ đã báo cáo rằng 10 người không phát hiện được NAbs khi xuất viện, hoặc sau đó. Làm thế nào những bệnh nhân này hồi phục mà không có sự trợ giúp của NAbs và liệu họ có nguy cơ tái nhiễm hay không vẫn chưa được giải quyết.[80] Một nguồn không chắc chắn khác là ngay cả khi có NAb, các virus như HIV có thể trốn tránh các phản ứng của NAb.[79]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng NAbs đối với virus SARS ban đầu (tiền thân của virus SARS-CoV-2 hiện tại) có thể vẫn hoạt động trong 2 năm[86] và biến mất sau 6 năm.[87] Tuy nhiên, các tế bào ghi nhớ bao gồm tế bào nhớ B và tế bào nhớ T [88] có thể tồn tại lâu hơn và có thể có khả năng giảm mức độ tái nhiễm.[89]

Các xét nghiệm khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hồi phục, nhiều bệnh nhân không còn phát hiện được RNA của virus trong bệnh phẩm đường hô hấp trên. Trong số những người làm vậy, nồng độ RNA ba ngày sau khi phục hồi thường thấp hơn phạm vi mà virus có khả năng sao chép đã được phân lập một cách đáng tin cậy.[45]

Không có mối tương quan rõ ràng nào được mô tả giữa thời gian bị bệnh và thời gian rơi rụng của RNA virus sau khi phục hồi trong các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên.[45]

Xét nghiệm tổng hợp có thể cải thiện thời gian quay vòng, bằng cách kết hợp một số mẫu được xét nghiệm với nhau. Nếu kết quả của kết hợp bệnh phẩm là âm tính, tất cả các mẫu đều âm tính. Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính, các mẫu sẽ cần được xét nghiệm lại riêng lẻ.[67]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19)”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). ngày 11 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  2. ^ Kobokovich, Amanda; West, Rachel; Gronvall, Gigi. “Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing”. Johns Hopkins Center for Health Security. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ a b c d Kubina, Robert; Dziedzic, Arkadiusz (2020). “Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics”. Diagnostics (bằng tiếng Anh). 10 (6): 434. doi:10.3390/diagnostics10060434. PMC 7345211. PMID 32604919.
  4. ^ “Test for Past Infection”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020. Antibody blood tests, also called antibody tests, check your blood by looking for antibodies, which show if you had a previous infection with the virus. Depending on when someone was infected and the timing of the test, the test may not find antibodies in someone with a current COVID-19 infection.
  5. ^ Brotschi, Markus (ngày 7 tháng 3 năm 2020). “Bund sucht nicht mehr alle Corona-Infizierten” [The federal government is no longer looking for all those infected with corona]. Der Bund (bằng tiếng Đức). ISSN 0774-6156. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  6. ^ Van Beusekom, Mary (ngày 24 tháng 3 năm 2020). “Italian doctors note high COVID-19 death rate, urge action”. CIDRAP News. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  7. ^ Otmani, Malin (ngày 22 tháng 3 năm 2020). “COVID-19: First results of the voluntary screening in Iceland”. Nordic Life Science. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  8. ^ Ward, D. (April 2020) "Sampling Bias: Explaining Wide Variations in COVID-19 Case Fatality Rates" Lưu trữ 2020-05-04 tại Wayback Machine. WardEnvironment. doi: 10.13140/RG.2.2.24953.62564/1
  9. ^ Henriques, Martha (ngày 2 tháng 4 năm 2020). “Coronavirus: Why death and mortality rates differ”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  10. ^ (Bản báo cáo). |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ “Why More Younger People Are Testing Positive for COVID-19”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020.
  12. ^ “Siouxsie Wiles & Toby Morris: What we don't know about Covid-19”. The Spinoff. ngày 6 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  13. ^ “Testing for COVID-19”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). ngày 20 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020. Two kinds of tests are available for COVID-19: viral tests and antibody tests.
  14. ^ Tanner, Tari (ngày 23 tháng 9 năm 2020). “Finland deploys coronavirus-sniffing dogs at main airport”. Associated Press. Helsinki. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  15. ^ Jones, Robert; Guest, Claire; Lindsay, Steve; Kleinschmidt, Immo; Bradley, John; Dewhirst, Sarah; Last, Anna; Logan, James (ngày 12 tháng 8 năm 2020). “Could bio-detection dogs be used to limit the spread of COVID-19 by travellers?”. Journal of Travel Medicine. 27 (8). doi:10.1093/jtm/taaa131. ISSN 1708-8305. PMC 7454791. PMID 32789466. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  16. ^ Habibzadeh, Parham; Mofatteh, Mohammad; Silawi, Mohammad; Ghavami, Saeid; Faghihi, Mohammad Ali (ngày 17 tháng 2 năm 2021). “Molecular diagnostic assays for COVID-19: an overview”. Critical Reviews in Clinical Laboratory Sciences: 1–20. doi:10.1080/10408363.2021.1884640. ISSN 1549-781X. PMC 7898297. PMID 33595397.
  17. ^ “RNA Extraction”. AssayGenie. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2020.
  18. ^ a b “How is the COVID-19 Virus Detected using Real Time RT-PCR?”. IAEA. ngày 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  19. ^ “Curetis Group Company Ares Genetics and BGI Group Collaborate to Offer Next-Generation Sequencing and PCR-based Coronavirus (2019-nCoV) Testing in Europe”. GlobeNewswire News Room. ngày 30 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2020.
  20. ^ a b Bustin SA, Benes V, Garson JA, Hellemans J, Huggett J, Kubista M, Mueller R, Nolan T, Pfaffl MW, Shipley GL, Vandesompele J, Wittwer CT (tháng 4 năm 2009). “The MIQE guidelines: minimum information for publication of quantitative real-time PCR experiments”. Clinical Chemistry. 55 (4): 611–22. doi:10.1373/clinchem.2008.112797. PMID 19246619. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  21. ^ “Real-time reverse transcription PCR (qRT-PCR) and its potential use in clinical diagnosis” (PDF). Clinical Science. ngày 23 tháng 9 năm 2005. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  22. ^ Kang XP, Jiang T, Li YQ, Lin F, Liu H, Chang GH, Zhu QY, Qin ED, Qin CF, Yang YH (tháng 6 năm 2010). “A duplex real-time RT-PCR assay for detecting H5N1 avian influenza virus and pandemic H1N1 influenza virus”. Virology Journal. 7: 113. doi:10.1186/1743-422X-7-113. PMC 2892456. PMID 20515509. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  23. ^ Joyce C (2002). Quantitative RT-PCR. A review of current methodologies. Methods Mol. Biol. 193. tr. 83–92. doi:10.1385/1-59259-283-X:083. ISBN 978-1-59259-283-8. PMID 12325527.
  24. ^ Varkonyi-Gasic E, Hellens RP (2010). “qRT-PCR of Small RNAs”. Plant Epigenetics. Methods in Molecular Biology. 631. tr. 109–22. doi:10.1007/978-1-60761-646-7_10. ISBN 978-1-60761-645-0. PMID 20204872.
  25. ^ “Accelerated Emergency Use Authorization (Eua) Summary Covid-19 Rt-Pcr Test (Laboratory Corporation of America)”. FDA. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2020.
  26. ^ Taylor S, Wakem M, Dijkman G, Alsarraj M, Nguyen M (tháng 4 năm 2010). “A practical approach to RT-qPCR-Publishing data that conform to the MIQE guidelines”. Methods. 50 (4): S1-5. doi:10.1016/j.ymeth.2010.01.005. PMID 20215014.
  27. ^ a b Dinnes J, Deeks JJ, Berhane S, Taylor M, Adriano A, Davenport C, Dittrich S, Emperador D, Takwoingi Y, Cunningham J, Beese S, Domen J, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Taylor-Phillips S, Hooft L, Leeflang MM, McInnes MD, Spijker R, Van den Bruel A (24 tháng 3 năm 2021). “Rapid, point-of-care antigen and molecular-based tests for diagnosis of SARS-CoV-2 infection”. Cochrane Database Syst Rev. 3 (4): CD013705. doi:10.1002/14651858.CD013705.pub2. PMC 8078597. PMID 33760236.
  28. ^ “Real-Time RT-PCR Panel for Detection 2019-nCoV”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). ngày 29 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2020.
  29. ^ a b Drosten, Christian (ngày 26 tháng 3 năm 2020). “Coronavirus-Update Folge 22” [Coronavirus update episode 22] (PDF). NDR. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  30. ^ a b “Here's where things stand on COVID-19 tests in the U.S.”. ScienceNews. ngày 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  31. ^ Xu R, Cui B, Duan X, Zhang P, Zhou X, Yuan Q (tháng 4 năm 2020). “Saliva: potential diagnostic value and transmission of 2019-nCoV”. International Journal of Oral Science. 12 (1): 11. doi:10.1038/s41368-020-0080-z. PMC 7162686. PMID 32300101.
  32. ^ Drosten C, Günther S, Preiser W, van der Werf S, Brodt HR, Becker S, Rabenau H, Panning M, Kolesnikova L, Fouchier RA, Berger A, Burguière AM, Cinatl J, Eickmann M, Escriou N, Grywna K, Kramme S, Manuguerra JC, Müller S, Rickerts V, Stürmer M, Vieth S, Klenk HD, Osterhaus AD, Schmitz H, Doerr HW (tháng 5 năm 2003). “Identification of a novel coronavirus in patients with severe acute respiratory syndrome”. The New England Journal of Medicine. 348 (20): 1967–76. doi:10.1056/NEJMoa030747. PMID 12690091. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  33. ^ Ghoshal U, Vasanth S, Tejan N (2020). “A guide to laboratory diagnosis of Corona Virus Disease-19 for the gastroenterologists”. Indian Journal of Gastroenterology. 39 (3): 236–242. doi:10.1007/s12664-020-01082-3. PMC 7462729. PMID 32875524.
  34. ^ Drosten, Christian (ngày 26 tháng 3 năm 2020). “Coronavirus-Update Folge 22” [Coronavirus update episode 22] (PDF). NDR. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  35. ^ “COVID-19 saliva tests: What is the benefit?”. Mayo Clinic. ngày 16 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  36. ^ a b Xu R, Cui B, Duan X, Zhang P, Zhou X, Yuan Q (tháng 4 năm 2020). “Saliva: potential diagnostic value and transmission of 2019-nCoV”. International Journal of Oral Science. 12 (1): 11. doi:10.1038/s41368-020-0080-z. PMC 7162686. PMID 32300101.
  37. ^ a b “New Rutgers Saliva Test for Coronavirus Gets FDA Approval”. Rutgers.edu. ngày 13 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  38. ^ “FDA authorizes Covid-19 saliva test for emergency use”. CNN. ngày 14 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  39. ^ Wyllie AL, Fournier J, Casanovas-Massana A, Campbell M, Ko AI (2020). “Saliva or Nasopharyngeal Swab Specimens for Detection of SARS-CoV-2”. The New England Journal of Medicine. 383 (13): 1283–86. doi:10.1056/NEJMc2016359. PMC 7484747. PMID 32857487.
  40. ^ Service RF (2020). “Spit shines for easier coronavirus testing”. Science. 369 (6507): 1041–42. Bibcode:2020Sci...369.1041S. doi:10.1126/science.369.6507.1041. PMID 32855317.
  41. ^ “Yale University School of Public Health finds saliva samples promising alternative to nasopharyngeal swab”. Merck Manual. ngày 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2020.
  42. ^ “FDA gives emergency approval to 'game changer' COVID-19 saliva test”. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  43. ^ “Coronavirus (COVID-19) Update: FDA Issues Emergency Use Authorization to Yale School of Public Health for SalivaDirect, Which Uses a New Method of Saliva Sample Processing” (Thông cáo báo chí). ngày 15 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
  44. ^ “Risk of False Results with the Curative SARS-Cov-2 Test for COVID-19”. U.S. Food and Drug Administration (FDA). ngày 4 tháng 1 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2021. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  45. ^ a b c Symptom-Based Strategy to Discontinue Isolation for Persons with COVID-19 (2020) referenced
  46. ^ Zimmer, Carl (ngày 5 tháng 5 năm 2020). “With Crispr, a Possible Quick Test for the Coronavirus”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2020.
  47. ^ “STOPCovid”. stopcovid.science. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  48. ^ Joung J, Ladha A, Saito M, Segel M, Bruneau R, Huang MW, Kim NG, Yu X, Li J, Walker BD, Greninger AL, Jerome KR, Gootenberg JS, Abudayyeh OO, Zhang F (tháng 5 năm 2020). “Point-of-care testing for COVID-19 using SHERLOCK diagnostics”: 2020.05.04.20091231. doi:10.1101/2020.05.04.20091231. PMC 7273289. PMID 32511521. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp); Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  49. ^ a b c d e f “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. ngày 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  50. ^ Guglielmi G (2020). “Fast coronavirus tests: what they can and can't do”. Nature. 585 (7826): 496–498. Bibcode:2020Natur.585..496G. doi:10.1038/d41586-020-02661-2. PMID 32939084.
  51. ^ “Remarks by President Trump, Vice President Pence, and Members of the Coronavirus Task Force in Press Briefing”. whitehouse.gov. ngày 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020 – qua National Archives.
  52. ^ Müllender, Friederike (11 tháng 3 năm 2021). “Grundschulen - Corona-Pool-Tests gelten als kindgerecht, unkompliziert und sicher” (bằng tiếng Đức). Deutschlandfunk. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2021.
  53. ^ “NIH launches competition to speed COVID-19 diagnostics”. AAAS. ngày 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  54. ^ a b “What to know about the three main types of coronavirus tests”. CNN. ngày 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  55. ^ “Rapid Tests”. Rapid Tests. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  56. ^ Shaw, Jonathan (ngày 3 tháng 8 năm 2020). “Failing the Coronavirus-Testing Test”. Harvard Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  57. ^ Office of the Commissioner (ngày 9 tháng 5 năm 2020). “Coronavirus (COVID-19) Update: FDA Authorizes First Antigen Test to Help in the Rapid Detection of the Virus that Causes COVID-19 in Patients”. FDA. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  58. ^ Calvo-Henriquez, Christian; Maldonado-Alvarado, Byron; Chiesa-Estomba, Carlos; Rivero-Fernández, Irene; Sanz-Rodriguez, Marta; Villarreal, Ithzel María; Rodriguez-Iglesias, Miguel; Mariño-Sánchez, Franklin; Rivero-de-Aguilar, Alejandro (ngày 24 tháng 6 năm 2020). “Ethyl alcohol threshold test: a fast, reliable and affordable olfactory Assessment tool for COVID-19 patients”. European Archives of Oto-Rhino-Laryngology. 277 (10): 2783–2792. doi:10.1007/s00405-020-06131-3. ISSN 0937-4477. PMC 7312102. PMID 32583183.
  59. ^ Menni, Cristina; Sudre, Carole H.; Steves, Claire J.; Ourselin, Sebastien; Spector, Tim D. (ngày 21 tháng 11 năm 2020). “Widespread smell testing for COVID-19 has limited application – Authors' reply”. The Lancet (bằng tiếng English). 396 (10263): 1630–1631. doi:10.1016/S0140-6736(20)32316-3. ISSN 0140-6736. PMC 7832202. PMID 33157000.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  60. ^ Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A (tháng 7 năm 2020). “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients”. AJR. American Journal of Roentgenology. 215 (1): 87–93. doi:10.2214/AJR.20.23034. PMID 32174129. Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.
  61. ^ Manigandan S, Wu M, Pugazhendhi A, Brindhadevi K (2020). “A systematic review on recent trends in transmission, diagnosis, prevention and imaging features of COVID-19”. Process Biochemistry. 98: 233–40. doi:10.1016/j.procbio.2020.08.016. PMC 7439988. PMID 32843849.
  62. ^ a b Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A (tháng 7 năm 2020). “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients”. AJR. American Journal of Roentgenology. 215 (1): 87–93. doi:10.2214/AJR.20.23034. PMID 32174129. Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.
  63. ^ Lee EY, Ng MY, Khong PL (tháng 4 năm 2020). “COVID-19 pneumonia: what has CT taught us?”. The Lancet. Infectious Diseases. 20 (4): 384–85. doi:10.1016/S1473-3099(20)30134-1. PMC 7128449. PMID 32105641.
  64. ^ “ACR Recommendations for the use of Chest Radiography and Computed Tomography (CT) for Suspected COVID-19 Infection”. American College of Radiology. ngày 22 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020.
  65. ^ “The next frontier in coronavirus testing: Identifying the full scope of the pandemic, not just individual infections”. STAT. ngày 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  66. ^ a b Abbasi J (tháng 4 năm 2020). “The Promise and Peril of Antibody Testing for COVID-19”. JAMA. 323 (19): 1881–83. doi:10.1001/jama.2020.6170. PMID 32301958. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  67. ^ a b Tang, E.W. (2020). “Testing for SARS-Cov-2 (COVID-19): A General Review”. Rhode Island Medical Journal. 103 (8): 26–29. PMID 32900007 – qua EBSCO.
  68. ^ “What Immunity to COVID-19 Really Means”. Scientific American. ngày 10 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  69. ^ a b Deeks JJ, Dinnes J, Takwoingi Y, Davenport C, Spijker R, Taylor-Phillips S, Adriano A, Beese S, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Dittrich S, Emperador D, Hooft L, Leeflang MM, Van den Bruel A (tháng 6 năm 2020). “Antibody tests for identification of current and past infection with SARS-CoV-2”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 6: CD013652. doi:10.1002/14651858.CD013652. PMC 7387103. PMID 32584464. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  70. ^ “Cellex Emergency Use Authorization”. FDA. ngày 1 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
  71. ^ “Will an Antibody Test Allow Us to Go Back to School or Work?”. The New York Times. ngày 10 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020.
  72. ^ “Mount Sinai Emergency Use Authorization”. FDA. ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2020.
  73. ^ Bauer G (2020). “The variability of the serological response to SARS-corona virus-2: Potential resolution of ambiguity through determination of avidity (functional affinity)”. Journal of Medical Virology. 93 (1): 311–322. doi:10.1002/jmv.26262. PMC 7361859. PMID 32633840.
  74. ^ Ravi N, Cortade DL, Ng E, Wang SX (2020). “Diagnostics for SARS-CoV-2 detection: A comprehensive review of the FDA-EUA COVID-19 testing landscape”. Biosensors and Bioelectronics. 165: 112454. doi:10.1016/j.bios.2020.112454. PMC 7368663. PMID 32729549.
  75. ^ Goudouris ES (2020). “Laboratory diagnosis of COVID-19”. Jornal de Pediatria. 97 (1): 7–12. doi:10.1016/j.jped.2020.08.001. PMC 7456621. PMID 32882235.
  76. ^ “Xét nghiệm kháng thể không thể hiện chính xác mức độ miễn dịch”. VTV. 18 tháng 10 năm 2021.
  77. ^ “HỎI - ĐÁP về dịch COVID-19: Tại sao CDC và FDA Mỹ khuyến cáo xét nghiệm kháng thể là vô nghĩa?”. Tuổi Trẻ. 18 tháng 10 năm 2021.
  78. ^ a b c d “Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing”. Johns Hopkins Center for Health Security. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  79. ^ a b Tan, Chee Wah; Chia, Wan Ni; Chen, Mark I-C; Hu, Zhiliang; Young, Barnaby E.; Tan, Yee-Joo; Yi, Yongxiang; Lye, David C.; Anderson, Danielle E. (ngày 23 tháng 4 năm 2020). “A SARS-CoV-2 surrogate virus neutralization test (sVNT) based on antibody-mediated blockage of ACE2-spike (RBD) protein-protein interaction”. doi:10.21203/rs.3.rs-24574/v1. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  80. ^ a b c Mallapaty, Smriti (ngày 18 tháng 4 năm 2020). “Will antibody tests for the coronavirus really change everything?”. Nature. 580 (7805): 571–572. Bibcode:2020Natur.580..571M. doi:10.1038/d41586-020-01115-z. PMID 32313159. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  81. ^ a b c “Q&A on COVID-19 Antibody Tests”. factcheck.org. ngày 27 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  82. ^ “Neutralising antibody”. Biology-Online. 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  83. ^ Schmaljohn AL (tháng 7 năm 2013). “Protective antiviral antibodies that lack neutralizing activity: precedents and evolution of concepts”. Current HIV Research. 11 (5): 345–53. doi:10.2174/1570162x113116660057. PMID 24191933.
  84. ^ Rhorer, J.; Ambrose, C. S.; Dickinson, S.; Hamilton, H.; Oleka, N. A.; Malinoski, F. J.; Wittes, J. (ngày 24 tháng 7 năm 2009). “Virus neutralization by antibodies”. Vaccine. Virology Blog. 27 (7): 1101–1110. doi:10.1016/j.vaccine.2008.11.093. PMID 19095024. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  85. ^ “expert reaction to announcement by Roche of its new serology test for COVID-19 antibodies”. Science Media Centre. ngày 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  86. ^ Cao WC, Liu W, Zhang PH, Zhang F, Richardus JH (tháng 9 năm 2007). “Disappearance of antibodies to SARS-associated coronavirus after recovery”. The New England Journal of Medicine. NEJM. 357 (11): 1162–63. doi:10.1056/NEJMc070348. PMID 17855683.
  87. ^ “Lack of Peripheral Memory B Cell Responses in Recovered Patients with Severe Acute Respiratory Syndrome: A Six-Year Follow-Up Study” (PDF). Journal of Immunology. ngày 19 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  88. ^ Leslie M (tháng 5 năm 2020). “T cells found in coronavirus patients 'bode well' for long-term immunity”. Science. 368 (6493): 809–10. Bibcode:2020Sci...368..809L. doi:10.1126/science.368.6493.809. PMID 32439770.
  89. ^ “Lack of Peripheral Memory B Cell Responses in Recovered Patients with Severe Acute Respiratory Syndrome: A Six-Year Follow-Up Study” (PDF). Journal of Immunology. ngày 19 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]