Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)

Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Những ca tử vong được xác nhận theo quốc gia do đại dịch COVID-19 (tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2020):
  Các nước có trường hợp được xác nhận và ít nhất 1 trường hợp tử vong nào được báo cáo
  Các nước có trường hợp được xác nhận, nhưng không có trường hợp tử vong nào được báo cáo
Bản đồ của Đại dịch COVID-19 (tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2020):
  Trên 1.000.000 ca nhiễm
  100.000-999.999 ca nhiễm
  10.000–99.999 ca nhiễm
  1.000–9.999 ca nhiễm
  100–999 ca nhiễm
  1–99 ca nhiễm
  Không có ca nhiễm hoặc không có dữ liệu

Bài viết này liệt kê các quốc gia và vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng bởi và các phản ứng của họ đối với coronavirus chịu trách nhiệm về đại dịch COVID-19 đang diễn ra lần đầu tiên được phát hiện tại Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc. Bài viết có thể không bao gồm tất cả các phản ứng và biện pháp chính được cập nhật gần đây nhất.

Các ca đầu tiên được ghi nhận tại Trung Quốc tháng 12 năm 2019. Tháng 1 năm 2020 ghi nhận các ca ở Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Pháp... sau đó lan ra toàn thế giới. Tính đến 17 tháng 6, 213 quốc gia và vùng lãnh thổ có dịch (4 vùng lãnh thổ thuộc Mỹ được tính vào Mỹ), chỉ có Bắc Triều Tiên, Turkmenistan, 10 nước Nam Thái Bình Dương dân số dưới 1 triệu chưa bị (không kể một số vùng lãnh thổ nhỏ có thể gộp chung với một quốc gia). Đỉnh dịch tại Trung Quốc trung tuần tháng 2 (ngày 12 tháng 2 là 14.108 ca, chết nhiều nhất ngày 23 tháng 2 với 150 ca). Nước bị dịch mạnh tiếp theo là Hàn Quốc, tăng nhanh cuối tháng 2, đỉnh dịch ngày 3 tháng 3 với 851 ca. ItaliaIran tăng nhanh từ giữa tháng 3, đỉnh dịch tại Italia là 21 tháng 3 với 6.557 ca, Iran với 3.186 ca ngày 30 tháng 3. Dịch sau đó lan rộng ra châu Âu, Tây Ban Nha vượt qua Italia thành tâm dịch, đỉnh điểm 26 tháng 3 với 8.271 ca. Từ cuối tháng 3 dịch giảm nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc nhưng lan mạnh ở Mỹ và nhiều nước châu Âu đặc biệt Tây Âu (kể cả các nước nhỏ như San Marino, Andorra). Mỹ từ tháng 4 hầu hết các ngày đều trên 20.000 ca, ngày 4 tháng 4 tới 34.642 ca, ngày 24 tháng 4 với 39.072 ca, ngày 1 tháng 5 với 36.090 ca,... vươn lên đứng đầu thế giới. Tâm dịch ở Mỹ từ Washington chuyển sang New York, New Jersey từ cuối tháng 3 và từ đầu tháng 6 tăng nhanh ở California, Texas, Florida,... Từ trung tuần tháng 5, dịch giảm đáng kể ở hầu hết các nước Tây Âu trừ Anh, nhưng lại lan mạnh ở Nga, và BelarusĐông Âu (Nga ngày 11 tháng 5 đạt đỉnh dịch 11.656 ca), Brasil, sau đó là Peru, Chile, MexicoMỹ Latinh (Brazil ngày 16 tháng 6 có 37.278 ca), Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó là Ả Rập Xê Út, QatarTrung Đông (Iran dịch vẫn mạnh), Ấn Độ, Pakistan, sau đó là BangladeshNam Á (Ấn Độ có 13.103 ca ngày 17 tháng 6). Đầu tháng 7 các nước nhiều ca thêm Nam Phi, Colombia, Argentina. Các nước có dịch mới nhất tính đến 17 tháng 6 là Comoros, Tajikistan (từ 30 tháng 4), Lesotho (từ 13 tháng 5). Tính đến 17 tháng 7 có nhiều ngày trên 200.000 ca mới mỗi ngày toàn cầu (các ngày 2,3, từ 7 đến 11, và từ ngày 14 tháng 7), 28 nước / vùng chưa có tử vong, đến 20 tháng 7 Papua New Guinea có ca tử vong đầu tiên tuy nhiên có tài liệu không tính chết vì covid mà chết nguyên nhân khác. Cập nhật ngày 24 tháng Bảy thế giới kỷ lục số ca mới một ngày (gần 290.000 ca / ngày), Mỹ cũng kỷ lục số ca một ngày (hơn 78.000 ca / ngày), và Uganda có người tử vong vì dịch đầu tiên. Ngày 26 tháng 7 Triều Tiên nghi nhiễm ca đầu tiên tuy nhiên sau xác định chưa có dịch. Ngày 29 tháng 7 Papua New Guinea thông báo 2 ca tử vong đầu tiên. Ngày 31 tháng 7 Việt Nam có 2 ca tử vong vì Covid đầu tiên, bệnh nhân 428 và 437, Fiji cũng có ca tử vong đầu tiên. Tính đến cuối tháng 8 tình hình dịch bệnh toàn thế giới vẫn rất nghiêm trọng, tuy số ca mỗi ngày giảm nhẹ ở Mỹ, Brazil, Nam Phi, Chile, Pakistan ... nhưng lại tăng đáng kể hay vẫn nghiêm trọng ở nhiều nước khác như Peru, Colombia, Argentina, Pháp, Tây Ban Nha, Iraq, Philippines,... đặc biệt Ấn Độ ngày 30 tháng 8 lập kỷ lục số ca mới một ngày (gần 79.500 ca). Ấn Độ cũng vượt qua Mexico về số tử vong vì dịch. Tính đến 27 tháng 9 tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn rất nghiêm trọng, nhiều ngày trong tháng trên 300.000 ca / ngày và trên 5000 người chết vì dịch / ngày. Dịch tháng 9 có xu hướng tăng ca nhiều nước châu Âu như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ukraina, Bỉ, Hà Lan, Đức,... tại Israel ở châu Á, Argentina ở châu Mỹ, và vẫn nghiêm trọng ở nhiều nước khác như Ấn Độ, một số ngày trên 90.000 ca / ngày, ở Mỹ và Brazil (dù có giảm chút xíu), ở Nga, Iran, Iraq, Colombia, Mexico, Peru, Indonesia, Philippines... Có thêm 2 nước / vùng có người chết trong tổng số các nước có ca nhiễm. Ngày 1 tháng 10 thế giới ghi nhận kỷ lục số người chết một ngày (gần 9.000 người) đặc biệt tại Argentina lập kỷ lục số người chết một ngày cao nhất trong số các nước có dịch (3.352 chết, bao gồm 3.050 trường hợp tử vong tại tỉnh Buenos Aires được xác nhận vào ngày 25 tháng 9 đã bị bỏ sót trong các báo cáo trước đó). Ngày 3 tháng 10 Solomon có ca nhiễm đầu tiên. Ngày 7 tháng 10 thế giới lập kỷ lục số ca tính theo ngày, hơn 343.000 ca, có 39 nước số ca trên 1.000 ca/ngày, bao gồm một số điểm nóng mới như Séc, Ba Lan, Rumani, Mianma, Nêpan, Tuynidi, Canada,...Ngày 8 và 9 tháng 10 lại có kỷ lục mới số ca (ngày 9 hơn 380.000 ca, 41 nước trên 1000 ca). Quần đảo Wallis và Futuna có ca đầu tiên 16 tháng 10.

Ngày 21 tháng 10 năm 2020, thế giới lập kỷ lục số ca / ngày, trên 437.000 ca (hơn 6.800 chết), riêng châu Âu hơn 193.000 ca (hơn 1.700 chết), trong số 12 nước trên 10.000 ca trong ngày có 8 nước ở châu Âu. Mỹ đứng đầu số ca (hơn 63.600 ca) và số người chết (hơn 1.200 người) trong ngày. Ngày 23 tháng 10 thế giới hơn 490.000 ca (kỷ lục), Mỹ xếp đầu hơn 81.000 ca (kỷ lục nước này). Tính hai tuần 15 đến 27/10 Mỹ có hơn 847.000 ca, hơn 9.800 qua đời, Ấn Độ hơn 707.000 ca, hơn 8.900 qua đời, Pháp hơn 408.000 ca, Brazil hơn 296.000 ca, Anh hơn 259.000 ca... đứng đầu. Dịch tăng nhanh nhất châu Âu, nhiều ngày hơn 200.000 ca/ngày. Ngày 28 tháng 10 thế giới lập kỷ lục số ca, trên 504.000. Quần đảo Marshall có 2 ca đầu tiên.

Ngày 30 tháng 10 thế giới lập kỷ lục số ca, hơn 573.000/ngày, châu Âu cũng lập kỷ lục số ca suýt soát 300.000 ca/ngày, Mỹ lập kỷ lục thế giới số ca của một nước trong ngày 101.000 ca/ngày bỏ qua kỷ lục của Ấn Độ 16 tháng 9 (hơn 97.800 ca/ngày). Ngày 4 tháng 11 thế giới lập kỷ lục số người chết vì dịch/ ngày (hơn 9.000 chết / ngày), các nước Mỹ, Nga, Đức, Ba Lan, Ukraina, Séc, Rumani, Marốc, Bồ Đào Nha... đang điểm nóng cũng lập kỷ lục số ca mới tính theo ngày ở mỗi nước. Ngày 5 tháng 11 thế giới lập kỷ lục mới số ca /ngày (hơn 604.000 ca / ngày) và chỉ sau hôm trước về số ca chết (với hơn 8.700 chết/ngày), Mỹ lập kỷ lục số ca / ngày (hơn 118.200 ca /ngày -theo Worldometers, hơn 121.000 ca -theo Johns Hopkins), châu Âu cũng lập kỷ lục số ca / ngày (hơn 310.700 ca /ngày , chiếm hơn 50% toàn thế giới, hơn 3.600 chết/ngày), Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Ba Lan, Ukraina,... lập kỷ lục số ca mới / ngày. Ngày 11 tháng 11 Mỹ lại lập kỷ lục mới số ca. Tổng ca chết trong ngày toàn thế giới là hơn 10.100. Số ca mới trong ngày cao nhất châu Âu, nhưng tính theo nước vẫn là Mỹ. Hai nước, vùng ngày 10-11/11 có ca chết đầu tiên là Saint LuciaGibraltar. Ngày 11/11 Vanuatu có ca nhiễm đầu tiên (trước đó 9/11 American Samoa có ca đầu tiên nhưng có tài liệu gộp vào ca của Mỹ). Ngày 14/11 thế giới một ngày có 575.748 ca, 8.811 tử vong (tính đến 8h10 sáng 15/11 Việt Nam, theo Worldometter, thế giới trong một ngày 575.576 ca, 8.811 tử vong, các nước Tây Ban Nha, Thụy Điển, Oman, Venezuela... chưa số liệu mới, Thụy Sĩ chưa có số liệu ca mới, riêng Mỹ chưa có số liệu cập nhật một số bang, một số hạt / quận một số bang, số liệu của quân đội, nhà tù liên bang...). Ngày 19 tháng 11 Samoa có ca đầu tiên.

Đến 10/11 có 1 Tổng thống, 1 Thủ tướng, 2 Chủ tịch Quốc hội ở châu Phi, 2 Thủ tướng, 4 Chủ tịch Quốc hội ở châu Á, 3 Tổng thống, 1 Ông hoàng, 5 Thủ tướng, 1 Chủ tịch Quốc hội ở châu Âu, 4 Tổng thống ở Bắc Mỹ, 2 Tổng thống, 4 Chủ tịch Quốc hội ở Nam Mỹ mắc Covid (xem danh sách ở dưới).

Đại dịch theo quốc gia và vùng lãnh thổ

Các ca bệnh được xác nhận

Tính đến ngày 08 tháng 11 năm 2020, có hơn 50.000.000 ca nhiễm được xác nhận trên toàn cầu với hơn 35.000.000 người khỏi bệnh và hơn 1.250.000 trường hợp tử vong ở 216 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có năm tàu du lịch. Hiện Mỹ là quốc gia có số người nhiễm cao nhất thế giới với hơn 10.000.000 người nhiễm và cũng là quốc gia có số người tử vong cao nhất với hơn 243.000 người chết.[1] Đứng thứ 2 thế giới là Ấn Độ với hơn 8.500.000 người nhiễm và hơn 126.000 người tử vong. Đứng thứ 3 thế giới là Brazil với hơn 5.600.000 người nhiễm và hơn 162.000 người tử vong.

Các nước / vùng có tỷ lệ ca nhiễm trên quy mô dân số cao nhất: 1.Qatar, 2.San Marino, 3.Vatican, 4.Bahrain, 5. Chile, 6.Andorra, 7.Kuwait, 8.Mayotte, 9.Peru, 10. Singapore, 11.Mỹ, 12.Guiana thuộc Pháp... và thấp nhất: 213.Papua New Guinea, 212.Lesotho, 211.Lào, 210.Việt Nam, 209.Angola, 208. Myanmar, 207.Campuchia, 206.Burundi, 205.Tanzania,... (cập nhật 19/6). Các nước / vùng có tỷ lệ ca nhiễm trên quy mô dân số cao nhất: Andorra, Bahrain, Qatar, Aruba, Belgium, Czechia, Armenia...(cập nhật 8/11)

Các nước / vùng có tỷ lệ chết vì dịch trên quy mô dân số cao nhất: 1.San Marino, 2.Bỉ, 3.Andorra, 4. Anh, 5. Tây Ban Nha, 6. Ý, 7. Thụy Điển, 8. Pháp, 9. Mỹ, 10. Hà Lan,... (cập nhật 19/6). Các nước / vùng có tỷ lệ chết vì dịch trên quy mô dân số cao nhất: San Marino, Belgium, Peru, Andorra, Spain, Brazil, Chile... (cập nhật 8/11)

Số liệu ở mỗi nước, vùng lãnh thổ và số liệu, đặc điểm dịch bệnh ở mỗi khu vực châu Phi, châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương, Nam Mỹ,...:

Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ
Địa điểm[a] Xác nhận[b] Tử vong Hồi phục
Tổng quốc giavùng lãnh thổ (238)[3] 60.105.740 1.414.868 41.553.773
Hoa Kỳ Hoa Kỳ[c] 12.955.007 265.891 7.636.684
Ấn Độ Ấn Độ[4] 9.222.216 134.743 8.642.771
Brasil Brasil 6.121.449 170.179 5.476.018
Pháp Pháp 2.153.815 50.237 154.679
Nga Nga 2.138.828 37.031 1.634.671
Tây Ban Nha Tây Ban Nha 1.614.126 43.668 0
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh 1.538.794 55.838 0
Ý Ý 1.455.022 51.306 605.330
Argentina Argentina 1.381.795 37.432 1.210.634
Colombia Colombia 1.262.494 35.677 1.167.857
México México 1.060.152 102.739 791.516
Đức Đức 962.906 14.965 636.700
Peru Peru 952.439 35.685 882.600
Ba Lan Ba Lan 909.066 14.314 454.717
Iran Iran 880.542 45.738 617.715
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi 772.252 21.083 716.444
Ukraina Ukraina 647.976 11.263 299.358
Bỉ Bỉ[5] 561.803 15.938 36.569
Chile Chile 543.087 15.131 518.834
Iraq Iraq 539.749 12.031 469.784
Indonesia Indonesia 506.302 16.111 425.313
Cộng hòa Séc Cộng hòa Séc[6] 502.534 7.499 416.832
Hà Lan Hà Lan 493.744 9.035 0
Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ 460.916 12.672 381.569
Bangladesh Bangladesh 451.990 6.448 366.877
România România 430.605 10.373 304.188
Philippines Philippines 421.722 8.185 386.792
Pakistan Pakistan 382.892 7.803 332.974
Ả Rập Xê Út Ả Rập Xê Út 355.741 5.811 344.311
Canada Canada 342.444 11.618 272.391
Maroc Maroc 331.527 5.469 279.276
Israel Israel 330.935 2.822 319.086
Thụy Sĩ Thụy Sĩ[7] 304.593 4.277 211.500
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha 268.721 4.056 184.233
Áo Áo 254.710 2.577 182.620
Thụy Điển Thụy Điển[8] 225.560 6.500 0
Nepal Nepal 224.078 1.361 204.858
Jordan Jordan 192.996 2.380 125.433
Ecuador Ecuador 186.436 13.264 164.009
Hungary Hungary 181.881 4.008 44.020
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất UAE 161.365 559 150.261
Panama Panama 156.930 2.986 138.007
Bolivia Bolivia 144.147 8.928 119.835
Kuwait Kuwait 140.795 870 133.407
Cộng hòa Dominica Cộng hòa Dominica 139.111 2.313 113.134
Qatar Qatar 137.642 236 134.698
Nhật Bản Nhật Bản 133.929 1.989 113.340
Costa Rica Costa Rica 133.190 1.662 81.973
Serbia Serbia 133.029 1.274 31.536
Bulgaria Bulgaria 129.348 3.226 40.102
Kazakhstan Kazakhstan 127.580 1.945 114.347
Armenia Armenia 127.522 2.002 98.944
Belarus Belarus[9] 126.953 1.112 105.835
Oman Oman 122.579 1.391 113.856
Guatemala Guatemala 119.349 4.099 108.338
Liban Liban 118.705 934 70.555
Ai Cập Ai Cập[10][d] 113.742 6.573 102.103
Gruzia Gruzia 111.818 1.051 92.215
Croatia Croatia 108.014 1.445 87.408
Ethiopia Ethiopia 106.591 1.661 66.018
Honduras Honduras 105.211 2.869 46.616
Venezuela Venezuela 100.498 876 95.344
Moldova Moldova 99.633 2.188 82.335
Azerbaijan Azerbaijan 98.927 1.194 65.734
Slovakia Slovakia 97.493 709 50.738
Hy Lạp Hy Lạp[11] 95.137 1.815 9.989
Tunisia Tunisia 90.213 2.935 65.303
Trung Quốc Trung Quốc[12][e] 86.469 4.634 81.530
Bahrain Bahrain 86.016 340 84.166
Myanmar Myanmar 82.236 1.784 60.965
Bosna và Hercegovina Bosna và Hercegovina 81.739 2.394 47.525
Libya Libya 79.180 1.110 50.304
Kenya Kenya 78.512 1.409 51.903
Paraguay Paraguay 77.891 1.677 55.531
Algérie Algérie[13] 77.000 2.309 50.070
Nhà nước Palestine Palestine 75.007 656 60.009
Đan Mạch Đan Mạch[14] 73.021 797 57.075
Uzbekistan Uzbekistan 71.985 604 69.240
Cộng hòa Ireland Ireland 70.930 2.028 23.364
Kyrgyzstan Kyrgyzstan 70.366 1.241 61.593
Slovenia Slovenia 67.080 1.156 45.587
Nigeria Nigeria 66.607 1.169 62.311
Malaysia Malaysia 58.847 341 44.153
Singapore Singapore[15] 58.183 28 58.071
Bắc Macedonia Bắc Macedonia 56.164 1.561 33.892
Ghana Ghana 51.184 323 50.029
Litva Litva 49.393 409 11.595
Puerto Rico Puerto Rico 46.923 1.032 0
Afghanistan Afghanistan 45.280 1.712 36.122
El Salvador El Salvador 37.884 1.086 34.595
Kosovo Kosovo 35.549 926 21.746
Albania Albania 34.300 735 16.666
Na Uy Na Uy 33.717 314 20.956
Montenegro Montenegro 32.188 450 20.627
Hàn Quốc Hàn Quốc 31.735 513 26.825
Luxembourg Luxembourg 31.484 283 22.189
Úc Úc[16] 27.853 907 25.538
Cameroon Cameroon 23.869 436 22.177
Phần Lan Phần Lan 22.289 384 15.300
Bờ Biển Ngà Bờ Biển Ngà 21.156 131 20.833
Sri Lanka Sri Lanka 20.967 94 14.962
Uganda Uganda 18.406 186 8.764
Zambia Zambia 17.466 357 16.707
Madagascar Madagascar 17.341 251 16.657
Sudan Sudan 16.431 1.202 9.854
Sénégal Sénégal 15.908 331 15.527
Mozambique Mozambique 15.231 127 13.408
Angola Angola 14.742 338 7.444
Namibia Namibia 13.938 145 13.272
Latvia Latvia 13.693 175 1.651
Polynésie thuộc Pháp Polynésie thuộc Pháp 13.517 70 4.842
Guinée Guinée 12.863 75 11.877
Maldives Maldives 12.810 46 11.660
Cộng hòa Dân chủ Congo CHDC Congo 12.310 331 11.433
Tajikistan Tajikistan 11.971 86 11.355
Guyane thuộc Pháp Guyane thuộc Pháp 11.079 70 9.995
Transnistria Transnistria 10.709 216 7.377
Jamaica Jamaica 10.422 243 5.572
Cabo Verde Cabo Verde 10.400 104 9.833
Estonia Estonia 10.159 94 6.014
Botswana Botswana 9.992 31 7.692
Cộng hòa Nhân dân Donetsk CHND Donetsk 9.844 915 4.597
Zimbabwe Zimbabwe 9.398 274 8.297
Haiti Haiti 9.229 232 7.886
Cộng hòa Síp Síp 9.199 46 2.055
Gabon Gabon 9.150 59 8.999
Malta Malta 9.137 117 6.938
Guadeloupe Guadeloupe 8.344 149 2.242
Mauritanie Mauritanie 8.193 169 7.636
Cuba Cuba[f] 7.950 133 7.428
Réunion Réunion 7.689 35 6.660
Bahamas Bahamas 7.460 163 5.708
Syria Syria 7.369 385 3.213
Trinidad và Tobago Trinidad và Tobago 6.488 115 5.639
Guam Guam 6.476 104 4.430
Andorra Andorra 6.351 76 5.503
Eswatini Eswatini 6.247 120 5.878
Malawi Malawi 6.017 185 5.445
Nicaragua Nicaragua 5.784 160 4.225
Hồng Kông Hồng Kông 5.782 108 5.274
Rwanda Rwanda 5.750 47 5.241
Djibouti Djibouti 5.669 61 5.569
Cộng hòa Congo Cộng hòa Congo 5.632 93 3.988
Martinique Martinique 5.413 37 98
Belize Belize 5.335 125 2.899
Abkhazia Abkhazia 5.318 68 3.616
Suriname Suriname 5.300 117 5.177
Iceland Iceland 5.298 26 5.086
Guyana Guyana 5.189 147 4.204
Guinea Xích Đạo Guinea Xích Đạo 5.137 85 5.005
Mayotte Mayotte 5.122 49 2.964
Cộng hòa Trung Phi Cộng hòa Trung Phi 4.911 63 1.924
Uruguay Uruguay 4.870 72 3.827
Aruba Aruba 4.751 45 4.618
Somalia Somalia 4.445 113 3.412
Mali Mali 4.417 148 3.054
Thái Lan Thái Lan[17] 3.926 60 3.780
Gambia Gambia 3.726 123 3.582
Nam Sudan Nam Sudan 3.069 60 1.938
Bénin Bénin 2.916 43 2.579
Togo Togo 2.872 64 2.295
Burkina Faso Burkina Faso 2.757 68 2.557
Guiné-Bissau Guiné-Bissau 2.422 43 2.309
Sierra Leone Sierra Leone 2.406 74 1.829
Yemen Yemen 2.114 609 1.467
Lesotho Lesotho 2.092 44 1.277
New Zealand New Zealand 2.039 25 1.955
Curaçao Curaçao 1.827 3 1.043
Nam Ossetia Nam Ossetia 1.684 0 484
Cộng hòa Nhân dân Lugansk CHND Lugansk 1.669 121 1.391
Tchad Tchad 1.649 101 1.493
Liberia Liberia 1.551 82 1.331
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ Qđ Virgin thuộc Mỹ 1.491 23 1.402
San Marino San Marino 1.428 44 1.149
Niger Niger 1.406 70 1.169
Việt Nam Việt Nam[18] 1.316 35 1.153
Somaliland Somaliland 1.223 37 1.110
Liechtenstein Liechtenstein 1.158 13 952
Quần đảo Eo Biển 1.124 48 937
Cruise ship side view.svg Theodore Roosevelt 1.102 1 751
Cruise ship side view.svg Charles de Gaulle 1.081 0 0
Bắc Síp Bắc Síp 1.048 5 982
Sint Maarten Sint Maarten 1.020 25 906
Gibraltar Gibraltar 981 4 885
São Tomé và Príncipe São Tomé và Príncipe 981 17 926
Quần đảo Turks và Caicos Qđ Turks và Caicos 746 6 700
Cruise ship side view.svg Diamond Princess 712 13 659
Mông Cổ Mông Cổ 699 0 342
Saint-Martin Saint Martin 690 12 598
Burundi Burundi 673 1 575
Jersey Jersey 672 32 534
Papua New Guinea Papua New Guinea 630 7 588
Đài Loan Đài Loan 618 7 549
Comoros Comoros 607 7 579
Monaco Monaco 587 3 523
Eritrea Eritrea 558 0 473
Tanzania Tanzania 509 21 183
Quần đảo Faroe Quần đảo Faroe 500 0 498
Mauritius Mauritius 494 10 433
Cộng hòa Nagorno-Karabakh Artsakh 404 2 337
Bhutan Bhutan 386 0 363
Đảo Man Đảo Man 369 25 336
Campuchia Campuchia 307 0 298
Guernsey Guernsey 282 13 253
Quần đảo Cayman Quần đảo Cayman 266 2 249
Barbados Barbados 262 7 242
Bermuda Bermuda 227 9 200
Saint Lucia Saint Lucia 226 2 109
Seychelles Seychelles 166 0 159
Brunei Brunei 150 3 145
Cruise ship side view.svg Costa Atlantica 148 0 148
Antigua và Barbuda Antigua và Barbuda 139 4 128
Bonaire Bonaire 134 3 126
Cruise ship side view.svg Greg Mortimer 128 1 0
Saint-Barthélemy Saint Barthélemy 127 0 94
Quần đảo Bắc Mariana Quần đảo Bắc Mariana 100 2 19
Saint Vincent và Grenadines St. Vincent 84 0 78
Dominica Dominica 77 0 63
Quần đảo Virgin thuộc Anh Qđ Virgin thuộc Anh 71 1 70
Ma Cao Ma Cao 46 0 46
Åland Quần đảo Åland 43 0 0
Grenada Grenada 41 0 30
Lào Lào 39 0 24
Fiji Fiji 35 2 33
New Caledonia Nouvelle-Calédonie 32 0 32
Đông Timor Đông Timor 30 0 30
Tây Sahara Tây Sahara 28 2 26
Thành Vatican Thành Vatican 27 0 15
Saint Kitts và Nevis Saint Kitts và Nevis 22 0 19
Greenland Greenland 18 0 18
Quần đảo Solomon Quần đảo Solomon 17 0 5
Quần đảo Falkland Quần đảo Falkland 16 0 13
Saint-Pierre và Miquelon Saint Pierre và Miquelon 16 0 12
Sint Eustatius Sint Eustatius 14 0 4
Montserrat Montserrat 13 1 12
Cruise ship side view.svg MS Zaandam 13 4 0
Cruise ship side view.svg Coral Princess 12 3 0
Akrotiri và Dhekelia Akrotiri và Dhekelia 11 0 0
Cruise ship side view.svg SeaDream I 9 0 0
Cruise ship side view.svg Zr.Ms. Dolfijn 8 0 8
Saba Saba 5 0 5
Anguilla Anguilla 4 0 3
Quần đảo Marshall Quần đảo Marshall 4 0 1
Samoa thuộc Mỹ Samoa thuộc Mỹ 3 0 0
Wallis và Futuna Wallis và Futuna 2 0 1
Samoa Samoa 1 0 0
Vanuatu Vanuatu 1 0 0
Tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2020 · Diễn biến: Trung Quốc, khác

Châu Phi

Các ca bệnh đã được xác nhận ở hầu hết các nước và vùng lãnh thổ châu Phi. Theo Michael Yao, người đứng đầu các hoạt động khẩn cấp của WHOchâu Phi, việc phát hiện sớm là rất quan trọng bởi vì các hệ thống y tế của lục địa này "đã bị quá tải bởi nhiều vụ bùng phát dịch bệnh đang diễn ra".[19][20] Kể từ ngày 13 tháng 5, các trường hợp đã được xác nhận ở tất cả các quốc gia châu Phi, với Lesotho là quốc gia châu Phi cuối cùng phát hiện ca nhiễm đầu tiên là vào ngày 13 tháng 5. Không có trường hợp báo cáo trong lãnh thổ của Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha, nhưng đã có những trường hợp nghi ngờ.

Tính đến 12 tháng Bảy giờ địa phương, Nam Phi có 276.242 ca xếp thứ 1 châu Phi, các tỉnh nhiều ca nhiễm nhất là: Gauteng 98.431 ca; Western Cape 78.3996 ca; Eastern Cape 50.300 ca; KwaZulu-Natal 25.572 ca;...

Tính đến 22 tháng Tám, châu Phi có hơn 1,1 triệu ca với hơn 27.000 tử vong. Cộng hòa Nam Phi vẫn đứng đầu, đỉnh dịch gần 14.000 ca ngày 24 tháng Bảy, và có xu hướng giảm trong tháng Tám. Morocco xếp thứ 4 và Ethiopia xếp thứ 7 châu Phi có xu hướng tăng khá nhanh từ giữa tháng Tám.

Tính đến 14 tháng 10, châu Phi có hơn 1,6 triệu ca, và gần 39.000 đã chết. Đầu tháng 10 dịch có xu hướng giảm ở Nam Phi, ở Ethiopia số ca đã giảm, nhưng Morocco vẫn khá nghiêm trọng, và Tunisia một nước Bắc Phi khác số ca tăng nhanh. Đầu tháng 11 dịch ở Morocco vẫn nghiêm trọng.

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Bộ trưởng y tế Nam Phi Zweli Mkhize, Bộ trưởng Bộ Việc làm và Lao động, ông Thembelani Thulas Nxesi, Bộ trưởng tài nguyên khoáng sản và năng lượng Nam Phi Gwede Mantashe, Bộ trưởng Quốc phòng và Cựu chiến binh Quân đội Mapisa-Nqakula, Thứ trưởng Bogopane-Zulu và Thứ trưởng Nkosi Holomisa. Noloyiso Sandile là con gái của Vua Zulu của hoàng gia Nam Phi chết vì covid, một nghị sĩ đảng ANC chết vì covid. Burkina Faso: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Alpha Barry, Bộ trưởng Bộ Mỏ Oumarou Idani, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Stanislas Ouaro và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Simeon Sawadogo; Bộ trưởng Y tế Mozambique, Armindo Tiago; Bộ trưởng Y tế Ghana Kwaku Agyeman Manu; Bộ trưởng Cấp cao Ghana Osafo Maafo; Phó tổng thống Nam Sudan James Wani Igga và Hussein Abdelbagi; Phó Tổng thống thứ nhất Riek Machar Teny và phu nhân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Angelina Teny của Nam Sudan; Phó Tổng thống Gambia Isatou Touray; Rose Marie Compaoré Phó chủ tịch thứ hai Quốc hội Burkina Faso đã chết vì covid; Denise Nkurunziza vợ Tổng thống Burundi; Amadou Salif Kébé, chủ tịch cơ quan bầu cử của Guinea và Sékou Kourouma, Tổng thư ký của chính phủ Guinea, đều chết vì Covid; Thủ tướng Nuno Gomes Nabiam của Guinea-Bissau, Bộ trưởng Nội vụ Botche Cande, Bộ trưởng Quy hoạch và Tích hợp Khu vực Mónica Buaro, và Bộ trưởng về Trật tự Công cộng Mario Fambe của Guinea-Bissau; Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune; Abba Kyari, Chánh văn phòng của Tổng thống Nigeria Muhammadu Buhari, đã chết vì covid; Thống đốc Bala Mohammed, người đứng đầu bang Bauchi của Nigeria; Bộ trưởng Bộ Lao động và Việc làm, Mohamed Ben Omar của Nigeria, đã chết vì covid; Khalif Mumin Tohow, bộ trưởng tư pháp của bang Hirshabelle tự trị của Somalia và Abdiqani Mohamed Wa’ays, đại sứ Somalia tại Ai Cập đều chết vì covid; Shaban Bantariza từng là phó giám đốc của Trung tâm Truyền thông Uganda và phó phát ngôn viên của chính phủ (chết vì covid); Chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Kinh tế Mozambique (CTA), Agostinho Vuma; Chủ tịch Hạ viện bang Benue - Nigeria; Cavaye Yeguie, Chủ tịch Quốc hội Cameroon, Florence Mwanangi Chủ tịch hội đồng lập pháp hạt Machakos của Kenya; Giám đốc điều hành (CEO) của Cơ quan Bảo hiểm Y tế Quốc gia Ghana; Đại sứ Ghana tại Vương quốc Anh; Mười lăm nhà lập pháp Zambia; Suleiman Ali, Bộ trưởng Thông tin của Somaliland; Geoffrey Onyeama, ngoại trưởng Nigeria; Mohamed al-Fatih Zainelabidine, Thống đốc Ngân hàng trung ương Sudan; Abubakar Sani Bello, Thống đốc bang Niger, Nigeria, Thống đốc các bang Kaduna, Ondo, Ekiti, Oyo, và Delta của Nigeria; phó Tổng thống Zambia Inonge Mutukwa, một nghị sĩ Zambia chết vì covid; Chủ tịch Hạ viện Nam Phi Cedric Frolick; Joachim Yhombi-Opango cựu Tổng thống và Thủ tướng Cộng hòa Congo (đã chết); Nur Hassan Hussein cựu Thủ tướng Somalia (đã chết); Mahmoud Jibril cựu Thủ tướng Libya (đã chết); Perrance Shiri, Bộ trưởng Bộ Đất đai, Nông nghiệp và Tái định cư nông thôn Zimbabwe (đã chết), Suleiman Mahmoud, sĩ quan cấp cao Libya (đã chết); Bộ trưởng Bộ Giao thông và Cơ sở hạ tầng Hashem Abanouf, Bộ trưởng Y tế Osama Ahmed Abdul Rahim - Sudan; Bộ trưởng Bộ Năng lượng Maroc Aziz Rabbah, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Maroc Abdelkader Amara; Pierre Lumbi, Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Cộng hòa Dân chủ Congo, tử vong;...(xem thêm)

Châu Á

Một cụm các trường hợp viêm phổi bí ẩn đã được phát hiện vào tháng 12 năm 2019 tại Vũ Hán và cuối cùng lan sang phần còn lại của Trung Quốc.[21] Sau đó, nhiều quốc gia châu Á khác bắt đầu xác nhận các trường hợp, với một số quốc gia bị ảnh hưởng nhất là Hàn Quốc, Nhật BảnIran. Mô hình tinh vi của vụ dịch cho thấy rằng trong khi số ca mắc bệnh ở Trung Quốc sẽ tăng gấp nhiều lần nếu không có sự can thiệp như phát hiện sớm và cách ly người nhiễm bệnh, thì sẽ có ít hơn 66% người bị nhiễm nếu Trung Quốc thực hiện các biện pháp ít nhất một tuần sớm hơn.[22] Kể từ ngày 30 tháng 4, các ca bệnh đã được báo cáo ở tất cả các nước châu Á ngoại trừ Turkmenistan - trong khi Bắc Triều Tiên đã có các trường hợp nghi ngờ. Không có trường hợp nào được báo cáo ở các lãnh thổ bên ngoài Đảo ChristmasQuần đảo Cocos (Keeling).

Tính đến 12 tháng Bảy, Ấn Độ đứng đầu số ca, có hơn 877.000 ca, xếp 3 thế giới, các tâm dịch là Maharashtra hơn 254.000 ca, Tamil Nadu 138470 ca, Delhi hơn 112.000 ca, các thành phố nhiều ca: Delhi, Mumbai: gần 92.000 ca, Pune hơn 37.000 ca, Thane gần 60000 ca (Maharashtra), Chennai gần 75.000 ca, Ahmedabad (Gujarat) hơn 23.000 ca, Bengaluru hơn 18.000 ca, Kolkata hơn 9.100 ca...Tiếp theo là Iran tổng số ca 256.303. Các tỉnh Tây Azarbaijan, Khuzestan, Khorasan Razavi và Mazandaran được coi là vùng đỏ, 12.993 chết. Tổ chức đối lập PMOI/MEK cho số bị chết vượt 69.800 người, ở một số thành phố / tỉnh: Tehran là 17.450, Khorasan Razavi 5.250, Khuzestan 5.245, Lorestan 2.530, Sistan and Baluchistan 2.155 người, West Azerbaijan 2,070 người, Golestan 1,760 người. Tại Pakistan, 251.624 ca, 5.266 chết, tỉnh nhiều ca nhất: Sindh 105.533 ca; tiếp đến Punjab...Saudi Arabia 232.259 ca; địa phương nhiều ca nhất: Ar Riyadh 50.243; Jeddah: 27.375 ca...Thổ Nhĩ Kỳ gần 213.000 ca, hơn 5.300 người chết đến 12 tháng Bảy. Các điểm nóng Istanbul, Sanliurfa, Ankara, Gaziantep and Konya. Các địa phương nhiều ca nhất: İstanbul gần 111.000 ca; Doğu Marmara hơn 22.400 ca... đến 5 tháng Bảy. Bangladesh đến 12 tháng Bảy 186.894 ca, trong đó nhiều nhất là vùng Dhaka (huyện / thành phố Narayanganj 5.424 ca; huyện Dhaka 3396 ca; huyện Gazipur 3.613 ca;...), tiếp đến vùng Chittagong... (10 tháng Bảy). Các nước xếp tiếp theo: Qatar, Iraq, Indonesia, China, Kazakhstan, Philippines...

Trung Quốc nơi đầu tiên bị dịch tính đến 16 tháng 7 có 83.622 ca, trường hợp tử vong 4.634, tâm dịch Hồ Bắc 68.135 ca, 4.512 tử vong, trong đó Vũ Hán 50.340 ca, 3.869 tử vong (hết dịch 4 tháng 6).

Tính đến 22 tháng Tám, châu Á có hơn 6,1 triệu ca, và hơn 127.000 tử vong. Ấn Độ vẫn xếp đầu, hơn 2,9 triệu ca, từ đầu tháng Tám nhiều ngày trên 60.000 ca mỗi ngày. Maharashtra vẫn là bang đứng đầu với hơn 657.000 ca, Pune vượt qua Mumbai là các thành phố nhiều ca nhất, con số lần lượt là trên 144.000 ca (Pune) và trên 134.000 ca (Mumbai). Tamil Nadu (với tâm dịch là Chennai), xếp thứ hai, với hơn 367.000 ca, bang Andhra Pradesh tăng nhanh, lên vị trí thứ ba, Karnataka, Uttar Pradesh, Delhi (158.000 ca), West Bengal, Bihar, Telangana (tâm dịch Hyderabad hơn 47.500 ca) xếp tiếp theo đều trên 10 vạn ca. Từ nửa đầu tháng Tám dịch có xu hướng giảm ở một số điểm nóng như Saudi Arabia, Qatar, Oman, Singapore, ổn định ở Iran (xếp 2 châu Á), Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, tăng nhanh hay khá nhanh ở Iraq, Philippines, Indonesia, Kazakhstan, Nhật Bản...Tại Philippines, vùng thủ đô (NCR) chiếm hơn 35.000 ca đang phải nhập viện / 61.000 ca đang phải nhập viện cả nước (20 tháng 8). Indonesia tâm dịch là các tỉnh DKI Jakarta hơn 32.200 ca và Jawa Timur hơn 29.700 ca, hai tỉnh chiếm 40% số ca cả nước. Tại Nhật Bản, Tokyo là tâm dịch với trên 18.800 ca. Trung Quốc xếp 13 châu Á, từ 18 tháng Năm không nghi nhận ca tử vong mới nào. 6/24 nước / vùng có ca nhiễm chưa có tử vong nằm ở châu Á gồm Mông Cổ, Campuchia, Butan, Macao, Timo, Lào.

Tính đến 14 tháng 10, châu Á có hơn 12,1 triệu ca, và chết hơn 217.000 người. Ấn Độ dịch vẫn rất nghiêm trọng, hai nước láng giềng Nepal và Myanmar đầu tháng 10 số ca tăng nhanh, nhưng tại Bangladesh và Pakistan dịch giảm đáng kể. Tình hình tại Iran, Iraq vẫn nghiêm trọng, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ giảm nhiều. Israel số ca tăng nhanh. Tại Đông Nam Á, Philippines và Indonesia dịch vẫn nghiêm trọng. Khu vực Đông Bắc Á số ca giảm nhiều so với trước. Đầu tháng 11 dịch chậm lại ở một số nước, nhưng tăng nhanh hơn ở một số nước khác bao gồm cả Iran. Đứng đầu số ca là Ấn Độ hơn 8,4 triệu ca, Maharashtra đứng đầu với hơn 1,7 triệu ca, và gần 45.000 đã chết, tiếp theo là các bang Karnataka gần 842.000 ca, hơn 11.300 đã chết, Andhra Pradesh hơn 838.000 ca và hơn 6.700 đã chết, tiếp theo là Tamil Nadu gần 740.000 ca với gần 11.300 đã chết... Các thành phố nhiều ca Ấn Độ: Delhi 430.700 ca, Pune 338.000 ca, Mumbai 263.000 ca, Thane 227.000 ca, Bengaluru 347.700 ca, Chennai 204.200 ca, Kolkata 87.300 ca, Hyderabad 70.900 ca, Lucknow 65.000 ca, Thiruvananthapuram 63.000 ca, Ahmedabad 43.700 ca,..(8/11), ở Iran là Tehran, Isfahan, Qom. Một số nước trước ít bị nhưng tăng nhanh đầu tháng 11 như Jordan, Armenia, Georgia, Lebanon...

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Bộ trưởng Nội vụ Thổ Nhĩ Kỳ Süleyman Soylu, Bộ trưởng liên bang của Ấn Độ về Phát triển Phụ nữ và Trẻ em Smriti Irani, Bộ trưởng Bộ Tôn giáo Malaysia Zulkifli Mohamad Al-Bakri, Bộ trưởng Bộ Tôn giáo Indonesia Fachrul Razi, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Budi Karya Sumadi và Bộ trưởng Bộ Thủy sản Edhy Prabowo của Indonesia, Bộ trưởng nội các bang Punjab Ấn Độ, Tript Rajinder Singh Bajwa, Ba bộ trưởng bang Madhya Pradesh Ấn Độ, Bộ trưởng Nông nghiệp bang Haryana Ấn Độ J P Dalal, các Bộ trưởng bang Kerala Ấn Độ: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp V. S. Sunil Kumar, Bộ trưởng Tài chính T. M. Thomas Isaac và Bộ trưởng Công nghiệp E. P. Jayarajan; Các bộ trưởng bang Odisha Ấn Độ: Bộ trưởng Du lịch và Văn hóa, JP Panigrahi, Bộ trưởng giáo dục đại học Arun Kumar Sahoo, Bộ trưởng phát triển nông thôn Susant Singh và Bộ trưởng dệt may Padmini Dian; Bộ trưởng y tế bang Punjab Ấn Độ Balbir Singh Sidhu; Bộ trưởng Nội các bang Uttar Pradesh Ấn Độ Chetan Chauhan; Bộ trưởng Y tế Israel Yaakov Litzman ; Bộ trưởng Nội vụ Ấn Độ Amit Shah; Thủ tướng Gruzia Giorgi Gakharia và người đứng đầu hành chính chính phủ, Nguyên Thứ trưởng Nội vụ Natia Mezvrishvili, Bộ trưởng Kinh tế Gruzia Natia Turnava; sáu Bộ trưởng trong nội các bang Maharashtra Ấn Độ là Ashok Chavan và Jitendra Awhad, Sunil Kedar...; Cựu tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee; Bộ trưởng Liên bang Dầu khí và Khí đốt tự nhiên Dharmendra Pradhan của Ấn Độ; Tổng trưởng và cựu tổng trưởng bang Karnataka Ấn Độ; Lãnh đạo phe đối lập ở Thượng viện Quốc hội Ấn Độ Ghulam Nabi Azad, các Thượng nghị sĩ Ahmed Patel, Motilal Vora và Abhishek Singhvi, Deepender Singh Hooda; Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan; Phó Tổng thống M. Venkaiah Naidu của Ấn Độ; Phó Chủ tịch Đảng Công lý và Phát triển (Đảng AK) Hamza Dağ của Thổ Nhĩ Kỳ; Phó Thống đốc bang Maharashtra Ấn Độ, Ajit Pawar; Phó Thống đốc bang Uttar Pradesh Ấn Độ Keshav Prasad Maurya; KPS Malhotra, Phó giám đốc Cục Kiểm soát Ma túy Ấn Độ; Asad Qaiser, Chủ tịch Quốc hội Pakistan; Phó Chủ tịch Thượng viện Saleem Mandviwalla của Pakistan; Sanjay Jha, người phát ngôn toàn quốc của đảng Quốc đại Ấn Độ; Chintala Ramachandra Reddy một lãnh đạo cấp cao Đảng BJP Ấn Độ; Ali Larijani, chủ tịch Quốc hội Iran, ít nhất 24 thành viên quốc hội Iran; Mohammad Baqer Ghalibaf Chủ tịch Quốc hội mới Iran; Iraj Harirchi, thứ trưởng Bộ y tế; Masoumeh Ebtekar, phó Tổng thống phụ trách phụ nữ và các vấn đề gia đình; Ali Akbar Velayati, cố vấn chính sách đối ngoại cho Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei; Eshaq Jahangiri phó Tổng thống thứ nhất; Ismail Najjar, giám đốc Tổ chức Quản lý Khủng hoảng của Iran; Mostafa Pourmohammadi, cựu Bộ trưởng tư pháp và Bộ trưởng nội vu Iran; Reza Rahmani, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Mỏ và Kinh doanh; Ali Asghar Mounesan, Bộ trưởng di sản văn hóa, thủ công mỹ nghệ và du lịch; Reza Salehi Amiri, chủ tịch Ủy ban Olympic quốc gia Iran; Mojtaba Zonnour, chủ tịch Ủy ban chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Quốc hội Iran; Mian Jamshed Uddin Kakakhel và Munir Orakzai, đều là nghị sĩ Quốc hội Pakistan, Ghulam Murtaza Baloch, Bộ trưởng định cư của tỉnh ở vùng Sindh mắc covid, đều đã chết; Imran Ismail, thống đốc Sindh; Bộ trưởng Y tế Pakistan Zafar Mirza; ba Thượng nghị sĩ của Philippines; Hoàng tử Faisal bin Bandar bin Abdulaziz Al Saud ở Saudi Arabia; Nurlan Nigmatulin, Chủ tịch Quốc hội Kazakhstan; Nguyễn Quang Thuấn, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư Việt Nam; Cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra; Bộ trưởng Nội vụ Philippines Eduardo Año; Ahmed Al-Qadri, Bộ trưởng Nông nghiệp và cải cách điền địa Syria (đã chết); Bộ trưởng Bộ Bảo vệ Môi trường của Israel Gila Gamliel; Thị trưởng Ekrem Imamoglu thành phố Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ; Thị trưởng các thành phố Banjarbaru, thành phố Tanjungpinang- Indonesia (tử vong vì covid); Shaktikanta Das, Thống đốc ngân hàng trung ương Ấn Độ; Shah Mehmood Qureshi , Ngoại trưởng Pakistan; Suresh Chandra Angadi Bộ trưởng Đường sắt Ấn Độ (đã chết); Chủ tịch Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Ấn Độ Sekhar Basu (đã chết); Eduardo Manahan Año, tướng, nguyên Bộ trưởng của Philippines; Junard Chan thị trưởng của Lapu-Lapu, Philippines; Broderick Pabillo, giám mục phụ tá của Manila, giám quản tông tòa của Tổng giáo phận Manila; Bima Arya thị trưởng Bogor và Rudy Susmasto chủ tịch hội đồng lập pháp Bogor, Indonesia; L B Das, chủ tịch Hội đồng lập pháp bang Sikkim, Ấn Độ; Phó Chủ tịch Hội đồng lập pháp bang Assam Aminul Haque Laskar ; Nana Patole, chủ tịch hội đồng Lập pháp bang Maharashtra, Ấn Độ; Prem Chand Aggarwal, chủ tịch hội đồng lập pháp bang Uttarakhand; Manohar Lal Khattar, Tổng trưởng bang Haryana, Ấn Độ; phó tổng trưởng Delhi Manish Sisodia; phó Tổng trưởng bang Maharashtra Ajit Pawar; phó Tổng trưởng bang Bihar Sushil Kumar Modi; Chủ tịch hội đồng lập pháp bang Andhra Pradesh Ấn Độ; Banwarilal Purohit, Thống đốc bang Tamil Nadu, Ấn Độ; Kamal Rani Varun, nữ Bộ trưởng bang Uttar Pradesh, tử vong; Mahendra Singh, Bộ trưởng bang Uttar Pradesh, Ấn Độ; Bộ trưởng Nông nghiệp Karnataka B C Patil; ; Bộ trưởng Bộ Du lịch, Kannada và Văn hóa và Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Karnataka, Ấn Độ; Shivraj Singh Chouhan, Tổng trưởng Madhya Pradesh ; Bộ trưởng Y tế Delhi Satyendar Jain; ít nhất 5 thành viên Quốc hội Kuwait; Hassan Al Kaabi, phó Chủ tịch Quốc hội Iraq; Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nhà nước Khalid Mahmud Chowdhury MP - Bangladesh; Saeb Erekat, Trưởng đoàn đàm phán Palestine (tử vong); Hanan Ashrawi, thành viên của ủy ban điều hành của Tổ chức Giải phóng Palestine; Lãnh đạo phe đối lập trong Quốc hội Shehbaz Sharif (anh trai cựu thủ tướng Nawaz Sharif)- Pakistan; gần 100 nghị sĩ Quốc hội Pakistan (10/6); 18 nghị sĩ Indonesia (7/10); Phó Chủ tịch Hạ viện Philippines Johnny Pimentel; Phó Chủ tịch Hạ viện kiêm Đại diện Basilan Mujiv Hataman và vợ là Thị trưởng thành phố Isabela, Sitti Djalia Turabin-Hataman - Philippines; phó chủ tịch Hội đồng lập pháp và ít nhất ba Bộ trưởng bang Odisha Ấn Độ; Arif Mohammed Khan - Thống đốc bang Kerala; Amreshwar Pratap Sahi - Chánh án Tòa án cấp cao Madras ở Chennai; Chánh án Tòa án Cấp cao Rajasthan Indrajit Mahanty; Phó Thị trưởng thành phố Surakarta - Indonesia; Thị trưởng Mumbai Kishori Pednekar; Phó Thị trưởng Mumbai Hemangi Worlikar; Musa Yerniyazov Chủ tịch Hội đồng Tối cao (Nghị viện) Cộng hòa Karakalpakstan, phó Chủ tịch Thượng viện Uzbekistan (đã chết); Alfredo Lim, cựu Thị trưởng Manila (đã chết); Sixto Brillantes, cựu Chủ tịch Ủy ban bầu cử Philippines (đã chết); Mahbubey Alam, Tổng Chưởng lý Bangladesh (đã chết); Ali Bozer, cựu quyền Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ (đã chết); Keshubhai Patel nguyên Tổng trưởng bang Gujarat Ấn Độ (đã chết); R. Doraikkannu, Bộ trưởng Nông nghiệp Tamil Nadu, đã chết; Phó chủ tịch Quốc hội Armenia Vahe Enfiajyan; Dost Muhammad Mazari, phó chủ tịch Hội đồng lập pháp Punjab - Pakistan; Chủ tịch Ủy ban Dân tộc thiểu số Quốc gia Cheela Ram - Pakistan; Sheikh Rashid Ahmad, Bộ trưởng Đường sắt Pakistan; Shehryar Afridi , Bộ trưởng nhà nước về ma túy Pakistan; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Du lịch và Hàng không Dân dụng Nepal Yogesh Bhattarai; Bộ trưởng Hợp tác Khu vực của Israel, Ofir Akunis; Bộ trưởng Israel phụ trách Jerusalem, Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Israel, Bộ trưởng Nhập cư và Hội nhập Israel, cựu Bộ trưởng Nhà ở Israel ; Jai Pratap Singh, Bộ trưởng y tế bang Uttar Pradesh Ấn Độ; Bộ trưởng Tài nguyên nước Madhya Pradesh Tulsi Silawat; Sheikh Md Abdullah, Bộ trưởng Nhà nước Bộ Tôn giáo Bangladesh, tử vong; Mohammed Nasim và Sahara Khatun - cựu Bộ trưởng Bangladesh, tử vong; Muhammad Mohaiminul Islam, cựu Tham mưu trưởng hải quân Bangladesh - tử vong; Lee Jong-bae, nghị sĩ Hàn Quốc; Kozo Tashima, phó trưởng ban Olympic Nhật Bản, Chủ tịch Hiệp hội Bóng đá Nhật Bản; Bộ trưởng Công nghệ thông tin và Viễn thông Syed Aminul Haque -Pakistan; Cựu ngoại trưởng Lebanon, chủ tịch của Phong trào Yêu nước Tự do và là con rể của Tổng thống Michel Aoun; Haydar Baş, lãnh đạo Đảng Độc lập Thổ Nhĩ Kỳ, tử vong; Mohammad Mirmohammadi, cố vấn Lãnh tụ tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei (đã chết); Nasser Shabani, tướng Iran (đã chết); Karim Kamalov, Thống đốc vùng Bukhara, Uzbekistan (đã chết); Uktam Barnoev, Phó thủ tướng Uzbekistan, tử vong; Mukar Cholponbayev, cựu Chủ tịch quốc hội Kyrgyzstan, tử vong; Bernardita Catalla, Đại sứ Philippines tại Lebanon; Munir Mangal, tướng Afghanistan, tử vong; Aytaç Yalman, tướng Thổ Nhĩ Kỳ (đã chết); Saefullah, thư ký vùng Jakarta, và Imam Suroso, nghị sĩ Indonesia, đều tử vong; Hasan al-Lawzi nguyên quyền Thủ tướng Yemen (đã chết); cựu Trưởng Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo Vũ Hán Vương Hiến Lương - tử vong; cựu Phó giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hồ Bắc Văn Tăng Hiển - tử vong; Azman Nasruddin, Ủy viên Hội đồng Điều hành Bang Kedah, Malaysia; Nursultan Nazarbayev, cựu Tổng thống Kazakhstan; diễn viên Amitabh Bachchan cùng con trai Abhishek Bachchan, con dâu Aishwarya Rai, diễn viên Arjun Kapoor; diễn viên , nghị sĩ Chiranjeevi; diễn viên Aftab Shivdasani; diễn viên Shimura Ken, diễn viên Baba Fumika, Yamamoto Yusuke, Ryusei Yokohama, diễn viên Daniel Dae Kim, cầu thủ Vũ Lỗi; ca sĩ Kanika Kapoor; diễn viên Hirose Suzu, Toshihiko Seki, Junichi Ishida; Mominul Haque đội trưởng đội cricket quốc gia Bangladesh; Rifat Chadirji kiến trúc sư (đã chết), nhà thơ Rahat Indori của Ấn Độ (đã chết), S. P. Balasubrahmanyam - nhạc sĩ, giám đốc âm nhạc Ấn Độ (đã chết), Ahmed Radhi, Nadhim Shaker - cựu cầu thủ Iraq tử vong; Kumiko Okae - nghệ sĩ Nhật Bản, tử vong...(xem thêm)

Châu Âu

Các trường hợp ban đầu ở châu Âu đã được báo cáo ở Pháp, Đức và các nước khác với số lượng ca bệnh tương đối thấp. Vào ngày 21 tháng 2, một vụ bùng phát dịch lớn đã được báo cáo ở Ý, chủ yếu ở phía bắc gần Milan. Các trường hợp phát triển nhanh chóng khi dịch bệnh lan rộng khắp châu Âu. Các trường hợp đã được báo cáo ở tất cả các nước châu Âu sau khi Montenegro báo cáo một trường hợp vào ngày 17 tháng 3 và tại tất cả các vùng lãnh thổ châu Âu sau Đảo Man vào ngày 19 tháng 3, bang Transnistria đang tranh chấp vào ngày 21 tháng 3 [23]Quần đảo Åland vào ngày 22 tháng 3. WHO đã tuyên bố châu Âu là trung tâm mới của virus sau khi tình hình được cải thiện ở Trung Quốc.[24] Tính đến ngày 24 tháng 3, đã có 200.000 trường hợp được xác nhận và 10,400 trường hợp tử vong ở châu Âu; Trong số này, 64.000 trường hợp và 6.100 người chết là ở Ý.[25]

Tính đến 12 tháng Bảy Nga có hơn 727.000 ca, xếp 4 thế giới, hơn 11.000 đã chết. Tâm dịch là Moskva gần 230.000 ca, vùng Moskovskaya hơn 60.400 ca, Saint Petersburg hơn 27.000 ca, vùng Nizhegorodskaya hơn 20.000 ca, ... Tính đến 11 tháng Bảy, Tây Ban Nha có 253.908 ca nhiễm, 28.403 chết. Tâm dịch là các vùng / cộng đồng: Madrid 72.532 ca; Catalonia 68.888 ca; Castilla y León 19.787 ca; Castilla-La Mancha 18.343 ca; Basque 13.939 ca; Andalusia 13.386 ca;...

Tính đến 11 tháng Bảy, Vương quốc Anh và Bắc Ailen có 289,603 ca, 44,819 đã chết. Nước Anh có 249,510 ca trong đó vùng North West England hơn 43.400 ca (hạt Lancashire hơn 6.700 ca;... ); South East England 34.200 ca (Kent hơn 7.700 ca; Hampshire hơn 5.000 ca; Surrey hơn 4.600 ca;...); London hơn 34.100 ca; Yorkshire and The Humber gần 30.000 ca (Bradford hơn 4.300 ca; Sheffield hơn 4.000 ca...); West Midlands hơn 25.700 ca (Birmingham hơn 4.800 ca;...); East of England hơn 23.700 ca (Essex hơn 5.400 ca;...); East Midlands hơn 21.000 ca (Leicester hơn 4.200 ca;...);... Số ca Scotland là 18,359; xứ Wales 15,962, Bắc Ireland 5,772 ca. Tính đến 12 tháng Bảy, Ý có hơn 243.000 ca; các vùng tâm dịch: Lombardia hơn 95.000 ca; Piemonte hơn 31.400 ca; Emilia-Romagna gần 29.000 ca; Veneto gần 20.000 ca; Toscana hơn 10.000 ca; Liguria hơn 10.000 ca;...

Tính đến 12 tháng Bảy, Đức có 198.804 ca trong đó 9.063 đã chết. Các bang nhiều ca nhất: Bayern 49.204 ca; Nordrhein-Westfalen 44.915 ca; Baden-Württem­berg 36.041 ca; Nieder­sachsen 13.804 ca; Hessen 11.162 ca; Berlin 8.637 ca;...Tính đến 12 tháng Bảy, Pháp có 170.752 ca; 30.004 đã chết; các tỉnh nhiều ca đang phải nhập viện: Île-de-France (39.145 ca); Grand Est (16,892 ca); Auvergne-Rhône-Alpes (9,994 ca); Hauts-de-France (9,191 ca)...;nếu tính tổng số ca thì nhiều nhất là Île-de-France hơn 62.200 ca; Grand Est hơn 26.700 ca; Auvergne-Rhône-Alpes hơn 15.800 ca...(21 tháng 7). Tính đến 13 tháng Bảy, Thụy Điển có 75.179 ca, 5.566 đã chết, các vùng nhiều ca nhất: Stockholm có 21907 ca, Västra Götaland có 16.650 ca; Jönköping có 4.422 ca... Các nước xếp tiếp: Belarus, Belgium, Ukraine,...

Tính đến 22 tháng 8, châu Âu có hơn 3,3 triệu ca, hơn 200.000 tử vong. Nga vẫn xếp vị trí thứ nhất, từ đầu tháng 8 có xu hướng giảm chậm, tâm dịch Moscow trên 255.000 ca. Từ đầu tháng 8, một số nước số ca tăng nhanh trở lại như Tây Ban Nha, Pháp... Madrid (gần 100.000 ca) và Catalonia (hơn 90.000 ca) là hai tâm dịch tại Tây Ban Nha, còn tại Pháp là Ile de France / vùng thủ đô với hơn 83.000 ca, trên 7.600 tử vong, Grand Est xếp thứ hai với hơn 35.000 ca, và trên 3.600 tử vong. Tại Anh, vùng North West xếp đầu gần 51.000 ca, và London hơn 37.700 ca xếp thứ hai. Các điểm nóng Thụy Điển, Belarus có xu hướng giảm từ đầu tháng 8 nhưng cùng thời gian tăng khá nhanh ở Ukraine, Romania.

Tính đến 14 tháng 10, châu Âu có hơn 6,4 triệu ca, hơn 234.000 đã chết, số liệu khác 7,2 triệu ca, và hơn 249.000 đã chết (số liệu WHO, tính gộp cả Trung Á, Thổ Nhĩ Kỳ, vùng Kavkaz, Israel). Đầu tháng 10 số ca tăng nhanh ở rất nhiều nước (Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Czechia, Ba Lan, Ukraine, Hà Lan, Bỉ, Ý, Romania....) thậm trí một số nước có ngày trên 10.000 ca. Thụy Điển một điểm nóng trước đây đầu tháng 10 thường chỉ trên dưới 500 ca - 800 ca / ngày (từ tuần 38, Thụy Điển cập nhật dữ liệu hàng ngày Covid bốn lần mỗi tuần từ Thứ Ba đến Thứ Sáu, ngày 13/11 Thụy Điển lập kỷ lục số ca nước này, hơn 6.700 ca /ngày). Nga vẫn đứng đầu số ca.

Tính đến 6 tháng 11 châu Âu có trên 11,6 triệu ca (hơn 287.000 chết), tốc độ tăng đầu tháng 11 nhanh nhất khi so với các châu lục khác (riêng 6 tháng 11 trên 317.000 ca với hơn 4.300 tử vong). Đầu tháng 11 tăng nhanh nhất là Pháp, tính đến ngày 6 Pháp có trên 1,66 triệu ca, các vùng Île-de-France hơn 528.100 ca đứng đầu (9.400 đã chết, riêng Paris 2.172 đã chết), tiếp theo Auvergne-Rhône-Alpes trên 222.500 ca (vùng tăng nhanh nhất đầu tháng 11, hơn 3.200 đã chết), Grand Est trên 190.600 ca (hơn 4.000 đã chết), Provence-Alpes-Côte d'Azur hơn 151.000 ca, Hauts-de-France hơn 149.700 ca...(Trong 7 ngày đến 8 tháng 11, Île-de-France có hơn 58.000 ca nhập viện, riêng Paris hơn 12.300 ca). Tại Tây Ban Nha hơn 1,328 triệu ca, Comunidad de Madrid hơn 319.600 ca (hơn 10.800 đã chết), Cataluña hơn 257.500 ca (hơn 7.200 đã chết)... Tại Anh, trong số hơn 1,146 triệu ca, nhiều nhất là North West hơn 239.300 ca, Yorkshire and the Humber hơn 150.300 ca, London hơn 109.100 ca..Tại Ý hơn 862.000 ca, vùng Lombardia hơn 242.900 ca (chết hơn 18.100), Piemonte hơn 89.400 ca, Campania hơn 78.000 ca, Veneto hơn 72.000 ca, Emilia-Romagna hơn 67.000 ca (xếp 2 về chết: hơn 4.700)... Tại Đức hơn 640.000 ca, xếp đầu là các bang Nordrhein-Westfalen hơn 162.000 ca, Bayern hơn 125.700 ca, Baden-Württemberg gần 97.000 ca... Tại Nga, số ca hơn 1,7 triệu ca đứng đầu châu Âu, tâm dịch là Moscow hơn 456.600 ca, với hơn 7.100 đã chết, Moscow Oblast hơn 90.200 ca với hơn 1.600 đã chết, Saint Petersburg hơn 67.400 ca với hơn 4.000 đã chết...Ba Lan hơn 493.000 ca, nhiều nhất là tỉnh Mazowieckie hơn 68.100 ca, hơn 900 đã chết, tiếp theo là Śląskie gần 63.000 ca với hơn 1.100 đã chết...Dịch cũng tăng nhanh ở Bỉ, Ukraine, Séc, Hà Lan, Rumani, Thụy Sĩ... Một số đô thị nhiều ca có Milan hơn 94.400 ca, Napoli 51.700 ca (Ý), Praha 52.700 ca (Séc), Liège 81.600 ca, Brussel 68.800 ca, Antwerpen 57.400 ca (Bỉ)...(8/11). Ngày 13/11 châu Âu có 280.080 ca, và 4.682 tử vong, là khu vực tăng nhanh và chết nhiều nhất, ngoài các điểm nóng quen thuộc dịch cũng tăng nhanh ở một số nước khác như Bồ Đào Nha, Áo, Hungary, Bulgaria... Tại Pháp không có dữ liệu chính thức tổng số ca mỗi vùng, chỉ có cộng từ các số liệu hàng ngày. Theo WHO, tính đến 10/11, Île-de-France là vùng nhiều ca nhất 445.703 ca, trong 1 tuần tăng 35.890 ca (dữ liệu EHPAD và EMS thì vùng này đến 13/11 có 587.360 ca). Tuy nhiên các vùng báo động đỏ ở Pháp là Hauts-de-France (theo WHO đến 10/11 có 196.134 ca; một tuần gần nhất 24.993 ca; số liệu EHPAD và EMS tổng ca đến 13/11 là 174.170); Bourgogne-Franche-Comté, (theo WHO đến 10/11 có 73.550 ca, trong 1 tuần gần nhất có 14.098 ca, theo EHPAD và EMS thì vùng này đến 13/11 có 89.203 ca); vùng Auvergne-Rhône-Alpes theo WHO đến 10/11 có 335.639 ca, một tuần gần nhất có 56.193 ca, dữ liệu EHPAD và EMS thì vùng này đến 13/11 có 269.008 ca); vùng Provence-Alpes-Côte d'Azur (theo WHO có 163.222 ca đến 10/11, trong đó một tuần gần nhất là 20.406 ca, dữ liệu EHPAD và EMS thì vùng này đến 13/11 có 177.210 ca). Vùng Occitanie có 147.928 ca, trong 1 tuần gần nhất 18.740 ca (tính đến 10/11, số liệu WHO), 98.244 ca (dữ liệu EHPAD và EMS đến 13/11) xếp 6 toàn quốc về tổng số ca. Tuy có chênh về các vùng do cách tính nhưng tổng ca toàn quốc không đổi. Các vùng báo động đỏ khác tính đến 13/11 ở châu Âu là Yorkshire and The Humber (175.377 ca, theo WHO đến 11/11) và North East (79.681 ca theo WHO đến 11/11) của Anh, vùng Wallonia của Bỉ, Lombardia, Piemonte, Campania,... ở Ý, toàn bộ nước Áo, Luxembourg, Montenegro, phần lớn lãnh thổ Ba Lan, Czechia, vùng Castilla y León, Aragón,... ở Tây Ban Nha, và ở nhiều nước khác dựa trên số ca mắc trong tuần gần nhất chia cho tổng dân số. Số ca một số thủ đô: Budapest của Hunggari 31.111 ca (12/11- theo WHO), București của Rumani 47.782 ca (13/11- theo WHO), Wien của Áo 45.867 ca (12/11 theo WHO), Sofia của Bungari 30.250 ca (12/11-theo WHO), Berlin của Đức 45.106 ca (13/11 theo WHO), Lisbon của Bồ Đào Nha 75.014 ca (13/11 theo WHO)... Theo Worldometers, ngày 14/11, châu Âu có 242.779 ca, 3.773 tử vong trong ngày (Tây Ban Nha chưa có số liệu trong ngày, Thụy Sỹ chỉ có số tử vong 32 nhưng không số liệu ca mới, Thụy Điển chưa có số liệu trong ngày...)

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Bộ trưởng y tế Đức Jens Spahn, Thủ tướng Bulgaria Boyko Borisov, bà Sophie Wilmes, cựu Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm của Bỉ, Bộ trưởng Ngoại giao Hungary Peter Szijjarto, Bộ trưởng Ngoại giao Áo Alexander Schallenberg, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hy Lạp Niki Kerameus, Nghị sĩ Nadine Dorries , Bộ trưởng Bộ y tế Anh, Bộ trưởng giáo dục Ba Lan Przemyslaw Czarnek, Bộ trưởng Tài chính Pháp Bruno Le Maire, Thủ tướng Anh Boris Johnson, Bộ trưởng Y tế Anh Matt Hancock, Bộ trưởng bình đẳng của Tây Ban Nha Irene Montero; Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan Mariusz Błaszczak, Tổng thống Ba Lan Andrzej Duda; Bộ trưởng giao thông Lucian Bode, Bộ trưởng Kinh tế Virgil Popescu của Romania; Thủ tướng Bosnia and Herzegovina, Zoran Tegeltija; Bộ trưởng Tư pháp Đan Mạch Nick Haekkerup; Bộ trưởng Môi trường và Quy hoạch không gian Andrej Vizjak, Bộ trưởng Ngoại giao Anže Logar của Slovenia; Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak; Thủ tướng Nga Mikhail Mishustin; Thủ tướng của Kosovo Avdullah Hoti ; vợ của Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez; Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp Franck Riester; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải khu vực Brussels của Bỉ Elke Van den Brandt; Bộ trưởng Thứ nhất trong Chính quyền Khu vực Brussels Rudi Vervoort; Bộ trưởng-Chủ tịch Brussels, Rudi Vervoort và Ngoại trưởng Pascal Smet, Bộ trưởng Bộ Tài chính Brussels Sven Gatz, Bộ trưởng Bộ Di chuyển Brussels Elke Van den Brandt; Hoàng tử Bỉ Joachim; Michel Barnier, trưởng đoàn đàm phán của Liên minh châu Âu về Brexit; Brune Poirson, Quốc vụ khanh kiêm Bộ trưởng chuyển đổi toàn diện và sinh thái của Pháp; Cem Özdemir, thành viên của Quốc hội liên bang Đức và là Chủ tịch của Ủy ban Giao thông vận tải của Quốc hội; Lãnh đạo Sinn Fein đảng chính trị lớn của Ireland, Mary Lou McDonald; Jeremy Issacharoff, đại sứ của Israel tại Đức; Giorgio Valoti, thị trưởng của Cene, một đô thị ở vùng Lombardy, đã chết vì covid; Nicola Zingaretti, người đứng đầu Đảng Dân chủ Ý; Hoàng thân Albert của Monaco; Torbjorn Roe Isaksen, Bộ trưởng lao động và hòa nhập xã hội Na Uy; Vieira Monteiro, Chủ tịch đơn vị Bồ Đào Nha của Santander, ngân hàng lớn nhất Tây Ban Nha, chết vì covid; Jaroslaw Mika, Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang của Ba Lan; Michal Wos, Bộ trưởng Môi trường của Ba Lan; Bộ trưởng Xây dựng và Nhà ở Nga Vladimir Yakushev; Bộ trưởng Văn hóa Nga Olga Lyubimova; Dmitry Peskov, người phát ngôn của Tổng thống Nga Vladimir Putin; Bộ trưởng Giáo dục Valery Falkov - Nga; Javier Ortega Smith, tổng thư ký của đảng cực hữu Vox của Tây Ban Nha; Quim Torra, lãnh đạo vùng Catalonia, Tây Ban Nha; Pere Aragones, Phó người đứng đầu chính quyền Catalan; Phó Thủ tướng Cộng hòa Séc Jan Hamacek, đồng thời là Bộ trưởng Nội vụ; Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Margaritis Schinas; Phó Thủ tướng Tây Ban Nha Carmen Calvo; Serhiy Shakhov, đại biểu Quốc hội Ukraine; Thái tử Charles của Anh; Hoàng tử William - Anh; Jean-Pierre Lacroix, nhà ngoại giao người Pháp, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách về Hoạt động Hòa bình; Tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky, cùng Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Quốc phòng (vợ tổng thống cũng từng mắc); Bộ trưởng Quốc phòng Aleksandar Vulin và Chủ tịch Quốc hội Maja Gojkovic của Serbia; hai quan chức Serbia Marko Djuric, người đứng đầu Văn phòng chính phủ Kosovo và Marko Cadez, Chủ tịch Phòng Thương mại Serbia; Phó thị trưởng Warsaw Pawel Rabiej - Ba Lan; Thị trưởng Maribor (Slovenia) Saša Arsenovič; Dritan Abazović, nghị sĩ Montenegro; Cựu Thủ tướng Ukraine Yulia Tymoshenko; Phó Chủ tịch Ủy ban về Thị trường Tài chính Đuma Quốc gia Nga, Nghị sĩ Đảng Cộng sản Vakha Agayev (chết vì covid); Silvio Berlusconi Cựu thủ tướng Ý; Alexander Lukashenko Tổng thống Belarus; Phó thủ tướng phụ trách tái hòa nhập Cristina Lesnic - Moldova; Thị trưởng Rome Virginia Raggi - Ý; Thống đốc ngân hàng trung ương Bulgaria Dimitar Radev; Phó Thủ tướng Nga Yury Trutnev; giám mục người Ý Angelo Moreschi (đã chết); Amfilohije Radović, giám mục người Montenegro (đã chết); Mikhail Ignatyev cựu Trưởng Cộng hòa Chuvash Liên bang Nga (đã chết); Nikolay Maksyuta cựu Thống đốc Volgograd, Nga (đã chết); Salko Bukvarević người Bosnia, Bộ trưởng Liên bang về Cựu chiến binh và Người tàn tật (đã chết); Claes Gustaf Borgström, cựu Thanh tra Bình đẳng Thụy Điển - tử vong; Artuss Kaimiņš - nghị sĩ Nghị viện Latvia; Ahmed Aboutaleb, thị trưởng Rotterdam- Hà Lan; Géza Szőcs cựu Quốc vụ khanh về Văn hóa của Bộ Tài nguyên Quốc gia ở Hungary, đã chết; cầu thủ Cristiano Ronaldo, Kylian Mbappé, Serge Gnabry, Daniele Rugani, Neymar, Leandro Paredes, Ángel Di María, Thiago Alcântara, Sadio Mané, Naby Keïta, Xherdan Shaqiri, Mauro Icardi, Marquinhos, Keylor Navas, Paul Pogba, Éder Militão, Léo Duarte, Ángel Correa, Šime Vrsaljko, Jean-Clair Todibo ... Huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Ý Roberto Mancini; Sergio Garcia, golfer Tây Ban Nha; diễn viên Olga Kurylenko, Robert Pattinson, Idris Elba, Rocco Siffredi, Kristofer Hivju, Alina Boz, Indira Varma; nghệ sĩ opera Placido Domingo; Marianne Faithfull - ca sĩ; John Taylor của ban nhạc Duran Duran; nghệ sĩ Andrea Bocelli; Eddie Large - diễn viên hài (chết vì Covid); ngôi sao quần vợt Novak Djokovic, diễn viên Antonio Banderas, Brian Cox; Nhà ảo thuật Dynamo; cựu cầu thủ Kenny Dalglish; huấn luyện viên bóng đá Mikel Arteta, David Moyes; cầu thủ Callum Hudson-Odoi; Sven Wollter, diễn viên Thụy Điển (tử vong); Jiří Menzel là đạo diễn và Jan Křen nhà sử học Cộng hòa Séc, tử vong; Lucia Bosè, diễn viên, tử vong; Lorenzo Sanz, Chủ tịch thứ 14 của Real Madrid -tử vong; Lucien Sève - triết gia, nhà hoạt động cộng sản Pháp, tử vong; Ilija Petković -huấn luyện viên bóng đá Serbia tử vong...(xem thêm)

Bắc Mỹ

Các trường hợp đầu tiên ở Bắc Mỹ đã được báo cáo tại Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2020. Các trường hợp đã được báo cáo ở tất cả các quốc gia Bắc Mỹ sau khi Saint Kitts và Nevis xác nhận một trường hợp vào ngày 25 tháng 3, và tại tất cả các vùng lãnh thổ Bắc Mỹ.

Tính đến 12 tháng Bảy, Hoa Kỳ nước có nhiều ca nhất, có 3.236.130 ca nhiễm, trong đó 134.572 đã chết. Tâm dịch các bang: New York 402.561 ca (riêng thành phố New York 220.242 ca, các nơi khác 182.319 ca; các hạt / quận nhiều ca: Queens 66.323 ca; Kings 60.647 ca; Bronx 48.267 ca; Nassau 42.267 ca; Suffolk 41.987 ca;...); California 312.344 ca (các hạt / quận nhiều ca: Los Angeles 130.242 ca; Riverside 25.481 ca; Orange 23.901 ca; San Diego 19.371 ca; San Bernardino 18.912 ca;...); Florida 250.984 ca (Miami-Dade: 60.868 ca; Broward 28.253 ca; Palm Beach 19.847 ca; Hillsborough 18.360 ca; Orange 16.630 ca;...); Texas 250.462 ca (Harris 42.000 ca; Dallas 31.525 ca; Bexar 18.602 ca; Tarrant 17.334 ca;...); New Jersey 174.959 ca (Bergen 19.847 ca; Hudson 19.089 ca; Essex: 18.988 ca; Passaic 17.050 ca;...); Illinois 154.094 ca (Cook 95.138 ca; Lake 10.318 ca;...); Arizona 119.930 ca (Maricopa 78.481 ca; Pima 11.443 ca;...); Georgia 114.401 ca (Gwinnett 11.114 ca; Fulton 10.381 ca;...); Massachusetts 111.398 ca (Middlesex 24.436 ca; Suffolk 20.272 ca;...)...

Tính đến 12 tháng Bảy, Mexico nước xếp thứ hai Bắc Mỹ có 295,268 ca; 34,730 đã chết, các bang tâm dịch là Mexico City 57,674 ca; State of Mexico 42.372 ca; Tabasco 14.958 ca; Puebla 14.246 ca; Veracruz 13.782 ca; ...

Tính đến 22 tháng 8, Bắc Mỹ có hơn 6,8 triệu ca và gần 257.000 tử vong. Mỹ vẫn là nước có số ca nhiễm và tử vong nhiều nhất, gần 5,8 triệu ca nhiễm, và hơn 179.000 tử vong. California đứng đầu số ca với gần 660.000 ca, tiếp theo là Texas và Florida, trong khi bang New York tụt xuống xếp thứ 4 nhưng vẫn đứng đầu về tử vong (gần 33.000 tử vong), Georgia vươn lên xếp thứ 5, xếp tiếp theo là Illinois, Arizona...Washington, D.C xếp 42 với hơn 13.000 ca. Mexico xếp vị trí thứ hai Bắc Mỹ, với hơn 611.000 ca và hơn 63.000 tử vong. Tâm dịch là Ciudad de México hơn 90.000 ca, Estado de México hơn 63.700 ca,...Canada xếp thứ ba, với tâm dịch Québec gần 61.500 ca chiếm 1/2 số ca cả nước.

Tính đến 14 tháng 10, Bắc Mỹ có hơn 9,7 triệu ca, với hơn 330.000 đã qua đời. Đầu tháng 10 so với trước, Mỹ giảm không đáng kể, và có xu hướng dịch chuyển tăng nhanh từ vùng Nam và Tây (trước đó nữa là Đông Bắc) sang khu vực Trung Tây. Mexico giảm không đáng kể trong khi Canada tăng khá nhanh. Tính đến đầu tháng 11 Mỹ vẫn là nước tăng nhanh nhất (đạt hơn 10 triệu ca) và số ca chết nhiều nhất, Texas là bang nhiều ca nhất xếp trên California xếp 2, bang Illinois xếp 5 và một số bang Trung Tây tăng nhanh. Các thành phố lớn nhiều ca: Los Angeles 320.000 ca, New York 271.000 ca, Chicago 215.000 ca, Miami 192.600 ca, Houston 166.500 ca...(8/11).

Ngày 13/11 Mỹ lập kỷ lục số ca, lên tới 183.527 ca mới /ngày và 1.395 tử vong /ngày (cả thế giới 656.481 ca /ngày - kỷ lục, 9.945 chết / ngày), theo worldometers. Vùng Trung Tây tăng nhanh nhất nhưng các vùng khác cũng có xu hướng tăng nhanh trở lại so với tháng trước. Mexico vẫn xếp thứ 4 thế giới về tử vong dù xếp 11 thế giới số ca nhiễm. Canada đầu tháng 11 tăng nhanh so với tháng trước.

Theo Worldometer cập nhật 8h10 giờ Việt Nam (15/11) Mỹ có 157.081 ca mới và 1.260 tử vong mới trong ngày 14/11 (trước đó lúc 8h giờ Việt Nam, trang này cập nhật 156.866 ca, với 1.259 tử vong trong ngày nhưng chưa có số liệu một số bang Louisiana, Nebraska, Connecticut, Rhode Island..., chưa có số liệu của quân đội (US Military), nhà tù liên bang (Federal Prisons)... Một số hạt của các bang chưa có số liệu mới như Hidalgo, Montgomery... ở Texas, như Riverside, Fresno, Sacramento, San Joaquin, Tulare, Imperial... ở California,v.v. Sau đó cập nhật thêm 172 ca tại Mỹ, nâng số ca là 157.253 ca. Cộng lại Mỹ có 11.226.218 ca và tử vong là 251.256 (đến 14/11). Theo trang Johns Hopkins University, Mỹ có 10.904.023 ca, 245.600 tử vong (14/11). CDC cung cấp số liệu chậm hơn, và 181.801 ca mới, 1.364 tử vong trong ngày 14/11. Tính đến 13/11/2020 ở Mỹ các hạt /quận nhiều ca nhất thứ tự là Los Angeles (California), Cook (Illinois), Miami-Dade (Florida), Maricopa (Arizona), Harris (Texas), Dallas (Texas) (trên 100.000 ca ở mỗi hạt), các hạt /quận nhiều tử vong nhất thứ tự là Kings (New York), Queens (New York), Los Angeles (California)), Cook (Illinois), Bronx (New York) (trên 5.000 tử vong ở mỗi hạt) - theo Johns Hopkins University.

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tỉnh Alberta Tracy Allard, Bộ trưởng Môi trường và Nhà ở Bahamas Romauld Ferreira, it nhất 16 thành viên Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ đã cho kết quả dương tính hoặc được cho là có COVID-19, trong đó Thượng nghị sĩ Bill Cassidy (21/8), Thượng nghị sĩ Ron Johnson - Chủ tịch Ủy ban An ninh Nội địa và Chính phủ của Thượng viện; Thượng nghị sĩ Rand Paul; hai thành viên đại diện bang Florida của Quốc hội là Hạ nghị sĩ Matt Gaetz và Hạ nghị sĩ Michael Waltz (7/11) ; Chánh văn phòng Nhà Trắng Mark Meadows; vợ Grégoire Trudeau Thủ tướng Canada; Tổng thống Mỹ Donald Trump và vợ; Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa (RNC), Ronna Romney McDaniel; Phó Tư lệnh Cảnh sát biển Charles Ray của Mỹ; Chủ tịch Lee Spoonhunter của Hội đồng Kinh doanh Bắc Arapaho ở Mỹ; Thị trưởng thành phố Miami của Mỹ Francis Suarez; Thị trưởng thành phố Atlanta Keisha Lance Bottoms ở Mỹ; Thống đốc Missouri Mike Parson ở Mỹ; Thống đốc Ohio Mike DeWine; Will Ainsworth, phó Thống đốc bang Alabama; Thị trưởng thành phố Long Beach Jerry Phillips; Thị trưởng Dan Gibson của Natchez, bang Mississippi; Thống đốc Virginia Ralph Northam, Mỹ; Thống đốc Oklahoma Kevin Stitt; Chánh văn phòng phó tổng thống Mỹ Marc Short; Kayleigh McEnany, Thư ký báo chí Nhà Trắng; Delbert Hosemann, phó Thống đốc bang Mississippi; Chủ tịch Hạ viện Philip Gunn bang Mississippi, Mỹ; Chủ tịch Hạ viện bang Kansas Ron Ryckman Jr; Ben Carson – Bộ trưởng Nhà ở và Phát triển Đô thị Mỹ; Chánh án bang Indiana Loretta Rush, Mỹ; Chris Christie, cựu thống đốc New Jersey, Mỹ; Josh Green, phó Thống đốc Hawaii- Mỹ; Pamela Evette, phó Thống đốc South Carolina- Mỹ; Lou Leon Guerrero, Thống đốc Guam; Josh Tenorio, phó Thống đốc Guam; Thống đốc bang Tamaulipas Mexico Francisco García Cabeza de Vaca; Tổng thống Honduras Juan Orlando Hernández và vợ; Alejandro Giammattei Tổng thống Guatemala; Người đứng đầu lực lượng hải quân Mexico, Jose Rafael Ojeda; Bộ trưởng Tài chính Arturo Herrera, Bộ trưởng Năng lượng Rocio Nahle của Mexico; Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp, Ramón Martínez - Panama, Chủ tịch của Đại học Notre Dame, Linh mục John I. Jenkins - Mỹ; Lãnh đạo phe thiểu số của Hội đồng New York Will Barclay - Mỹ; Claudia Pavlovich, thống đốc bang Sonora của Mexico, Thị trưởng Thành phố Mexico Claudia Sheinbaum; Thị trưởng thành phố Longueuil, Canada; Cựu Thống đốc Jon Huntsman Jr. bang Utah - Mỹ; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Canada Marta Morgan; Tổng thống Dominican Luis Abinader; Henrietta Boggs cựu đệ nhất phu nhân Costa Rica, đã chết; Haroldo Rodas, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Guatemala (đã chết); Trần Ngọc Châu nguyên sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, sống tại Mỹ (tử vong); Oscar W. McConkie Jr., cựu chủ tịch Thượng viện Utah (tử vong); Cựu Phó Chủ tịch FIFA Jack Warner, người Trinidad and Tobago; diễn viên Tom Hanks và vợ Rita Wilson, ngôi sao Khloé Kardashian, Kevin Hart, Rachel Matthews, Andy Cohen, Debi Mazar, Aaron Tveit; Harvey Weinstein, nhà sản xuất phim; Kamaru Usman vận động viên; Kevin Durant cầu thủ bóng rổ; Russell Westbrook - cầu thủ bóng rổ; Renee Jane Good - MC người Canada; Nhà viết kịch Terrence McNally (chết vì covid); Jackson Browne -ca, nhạc sĩ; Floyd Cardoz - đầu bếp nổi tiếng và Mark Blum - diễn viên, và Adam Schlesinger - ca, nhạc sĩ đều chết vì Covid; Sara Bareilles, Pink -ca sĩ; Christopher Cross, Trey Songz - ca sĩ; Ezekiel Elliott - ngôi sao bóng bầu dục; Malcolm Brogdon - cầu thủ bóng rổ; Jimmie Johnson - tay đua xe; Jack Nicklaus- tay golf; Mel Gibson, diễn viên; Doja Cat - ca sĩ; Bryan Cranston, Alyssa Milano, Lena Dunham, Dwayne Johnson, Michael Rooker, Jim Parsons, Shanna Moakler - diễn viên; Herman Cain - doanh nhân (chết vì covid); Tom Seaver - vận động viên bóng chày, tử vong; Allen Garfield - diễn viên Mỹ, tử vong; David Driskell - học giả Mỹ , tử vong...(xem thêm)

Châu Đại Dương

Các trường hợp đã được xác nhận tại Úc, Đảo Phục Sinh, Fiji, Polynésie thuộc Pháp, Guam, Nouvelle-Calédonie, New ZealandPapua New Guinea. Trường hợp được xác nhận đầu tiên là tại Melbourne, Victoria vào ngày 25 tháng 1.[26] Nhiều quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương đã tránh được sự bùng phát bằng cách đóng cửa biên giới. Các trường hợp đã được báo cáo ở tất cả các quốc gia có chủ quyền đại dương ngoại trừ Kiribati, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Nauru, Palau, Samoa, Quần đảo Solomon, Tonga, TuvaluVanuatu, và chưa được báo cáo ở các quốc gia liên quan của Quần đảo CookNiue. Không có trường hợp nào được báo cáo ở Khu tự trị Bougainville, Đảo Norfolk, Wallis và Futuna, Tokelau, Quần đảo PitcairnSamoa thuộc Mỹ.

Tính đến 22 tháng 8, châu Đại Dương có gần 27.000 ca, hơn 500 tử vong. Australia đứng đầu với hơn 24.000 ca, tăng nhanh ở bang Victoria từ cuối tháng 7, đã hơn 17.000 ca. Có 10 nước chưa có ca nào.

Tính đến 14 tháng 10, châu Đại Dương có hơn 33.000 ca, và hơn 900 đã qua đời. Nửa đầu tháng 10 thêm Solomon vào số nước có ca nhiễm. Quần đảo Marshall ca đầu 28 tháng 10. Vanuatu có ca đầu 11 tháng 11. Đầu tháng 11 Polynesia thuộc Pháp có xu hướng tăng nhanh.

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Bộ trưởng Bộ Nội vụ Australia, Peter Dutton; Susan McDonald, Andrew Bragg, Rex Patrick các Thượng nghị sĩ Australia; Thủ hiến Polynesia thuộc Pháp Edouard Fritch; Joe Williams cựu Thủ tướng quần đảo Cook (đã chết); ngôi sao sân golf người Úc Adam Scott...(xem thêm)

Nam Mỹ

Kể từ ngày 19 tháng 3, các ca bệnh đã được xác nhận ở tất cả các quốc gia Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, Guyana, Paraguay, Peru, Suriname, Uruguay, VenezuelaGuyane thuộc Pháp. Không có trường hợp nào được báo cáo ở Đảo BouvetNam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich, nhưng đã có trường hợp nghi ngờ.

Virus coronavirus được báo cáo xuất hiện lần đầu tiên ở Nam Mỹ vào ngày 26 tháng 2 khi Brazil xác nhận một trường hợp ở São Paulo. Kể từ đó, các chính phủ trong khu vực đã thực hiện một loạt các hành động để bảo vệ công dân của họ và ngăn chặn sự lây lan của COVID-19.[27]

Brazil tâm dịch Nam Mỹ. Tính đến 12 tháng Bảy có hơn 1.864.000 ca được ghi nhận xếp 2 thế giới, 72.100 chết; tâm dịch là các bang: São Paulo: gần 372.000 ca; Ceará: hơn 136.700 ca; Rio de Janeiro: hơn 129.000 ca; Pará hơn 125.700 ca; Maranhão: gần 99.000 ca; Bahia: hơn 105.700 ca; Amazonas: gần 84.000 ca; Minas Gerais hơn 75.000 ca; Pernambuco hơn 72.400 ca;...Các thành phố /quận / hạt tâm dịch: São Paulo hơn 152.000 ca; Brasilia hơn 70.000 ca; Rio de Janeiro hơn 64.000 ca; Salvador: hơn 43.000 ca; Fortaleza: hơn 38.000 ca; Manaus hơn 30.000 ca;...

Tiếp theo là Peru và Chile. Tính đến 12 tháng Bảy Peru có hơn 326.000 ca (Lima Metropolitan hơn 164.200 ca; Callao gần 19.100 ca; Piura hơn 18.700 ca;...); Chile có hơn 315.000 ca (Metropolitana / vùng thủ đô có 238.360 ca; vùng Valparaíso 14516 ca; vùng Antofagasta 11.799 ca)...

Tính đến 22 tháng 8, Nam Mỹ có hơn 5,6 triệu ca, hơn 186.000 tử vong. Brazil vẫn xếp đầu với hơn 3,5 triệu ca, và hơn 113.000 đã tử vong. São Paulo đứng đầu các bang, gần 736.000 ca, tiếp theo là Bahia gần 230.000 ca xếp thứ hai (nhưng xếp thứ 6 về tử vong), Rio de Janeiro 207.000 ca xếp thứ ba (nhưng xếp thứ 2 về tử vong), Ceará 203.000 ca, vùng quận liên bang / thủ đô có hơn 145.400 ca, xếp thứ 7. Peru xếp vị trí thứ hai với hơn 576.000 ca, hơn 27.000 tử vong. Colombia vươn lên xếp thứ 3, trên 522.000 ca, tâm dịch quận liên bang / thủ đô có hơn 181.000 ca; Chile hơn 394.000 ca, tâm dịch vùng thủ đô hơn 268.000 ca; Argentina hơn 329.000 ca, tâm dịch là thành phố Buenos Aires trên 82.000 ca và tỉnh Buenos Aires hơn 205.000 ca.

Tính đến 14 tháng 10, Nam Mỹ có gần 8,8 triệu ca, hơn 274.000 đã qua đời. Brazil và Peru, Chile có xu hướng giảm nửa đầu tháng 10 nhưng Argentina và Colombia vẫn nghiêm trọng. Uruguay là nước khống chế dịch tốt nhất khu vực tính đến nửa đầu tháng 10. Đến đầu tháng 11 số ca mới tăng chậm lại ở Nam Mỹ.

Các nhân vật nổi tiếng mắc Covid: Fábio Faria, Bộ trưởng Truyền thông của Brazil, Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro và vợ, Davi Alcolumbre, Chủ tịch Thượng viện Brazil; Bento Albuquerque, Bộ trưởng mỏ và năng lượng của Brazil, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Marcos Pontes, Bộ trưởng Bộ Quốc tịch Onyx Lorenzoni và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Milton Ribeiro của Brazil, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Quốc tế Guyana, Hugh Todd; Phó Tổng thống Colombia Marta Lucia Ramirez; Tổng thống lâm thời của Bolivia Jeanine Áñez; Rodrigo Maia Chủ tịch Hạ viện Brazil; Luiz Fux, Chủ tịch Tòa án Tối cao Brazil; Manzoor Nadir, Chủ tịch Quốc hội Guyana; Bộ trưởng Y tế Bolivia Maria Eidy Roca; Bộ trưởng Phát triển Xã hội, Bộ trưởng Công trình Công cộng và Bộ trưởng Năng lượng của Chile; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi Peru Jorge Montenegro; Bộ trưởng Bộ Phát triển Xã hội Argentina Daniel Arroyo; Cựu Tổng thống Colombia Alvaro Uribe; Thống đốc bang Pará, miền bắc Brazil, Helder Barbalho; Thống đốc bang Rio de Janeiro của Brazil, Wilson Witzel; Thống đốc bang Sao Paulo của Brazil Joao Doria; Bộ trưởng Khai khoáng Bolivia Jorge Fernando Oropeza; Bộ trưởng Bộ Tổng thống, Yerko Nunez - Bolivia; chỉ huy lực lượng vũ trang, Tướng Sergio Orellana - Bolivia; Bộ trưởng Bộ Năng lượng Bolivia Rodrigo Guzmán... (11 bộ trưởng - ngày 3/7); Ronnie Brunswijk, Chủ tịch Quốc hội Suriname; Luis Arias Graziani, nguyên Bộ trưởng Peru, đã chết; José Fernandes, cựu Thị trưởng Manaus, Brazil, tử vong; Arolde de Oliveira, Thượng nghị sĩ Brazil, tử vong; Carlos Lessa cựu Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Brazil, tử vong; Sergio Onofre Jarpa, cựu Bộ trưởng và Hernán Pinto cựu thị trưởng Valparaíso của Chile, tử vong; Aurelio Iragorri Hormaza, cựu Chủ tịch Hạ viện Colombia, tử vong; chị gái cựu tổng thống Bolivia Evo Morales (đã chết); Carlos Horacio Casamiquela, cựu Bộ trưởng Nông nghiệp Argentina, tử vong; Darío Vivas, đứng đầu chính quyền quận thủ đô Venezuela (đã chết); Lãnh đạo Đảng Xã hội chủ nghĩa Venezuela Diosdado Cabello, là chủ tịch Quốc hội lập hiến quốc gia Venezuela; Omar Quintana, cựu Chủ tịch Quốc hội Ecuador - tử vong; Ngôi sao Võ thuật tổng hợp Thiago Santos, Gilbert Burns, và Glover Teixeira của Brazil; Raúl Ruidíaz - cầu thủ Peru; Mario Ledesma - Huấn luyện viên đội tuyển bóng đá Argentina; Cựu cầu thủ bóng đá Argentina Diego Maradona, cựu cầu thủ Ronaldinho; nhà văn Chile Luis Sepúlveda (đã chết); nhà văn Juan Giménez -Argentina, tử vong, César Salinas, chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Bolivia - tử vong;...(xem thêm)

Châu Nam Cực

Tính đến cuối tháng 6 năm 2020, châu Nam Cực là lục địa duy nhất chưa phát hiện ca lây nhiễm nào.[28]

Vận chuyển quốc tế

Sự bùng phát lan sang một số tàu du lịch bao gồm Diamond Princess, Grand Princess, World Dream, MS Westerdam và MS Braemar.[29][30][31][32]

Các nhà khai thác hành trình đã bắt đầu hủy bỏ hoặc thay đổi hành trình của họ khi các quốc gia trên thế giới thực hiện các hạn chế du lịch để hạn chế dịch bệnh. Các cảng đang từ chối chấp nhận các tàu du lịch đã đến cảng Trung Quốc hoặc đang chở hành khách Trung Quốc trong khi dịch bệnh bùng phát.

Hiệp hội quốc tế Cruise Lines (CLIA), đại diện cho 90% các nhà khai thác hành trình, đã công bố các biện pháp phòng ngừa khác nhau đang được thực hiện bởi các thành viên của mình. Tất cả hành khách đã đi hoặc đến / quá cảnh qua Trung Quốc, Hồng KôngMa Cao trong vòng 14 ngày trước khi lên tàu sẽ bị từ chối nhập cảnh vào tàu du lịch. Bất kỳ người nào tiếp xúc gần với các trường hợp nghi ngờ hoặc được chẩn đoán nhiễm coronavirus cũng sẽ bị từ chối nhập cảnh.[33]

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Nơi các ca nhiễm được xác nhận. Quốc tịch và địa điểm nhiễm bệnh có thể khác nhau.
  2. ^ Trường hợp xác nhận tích lũy báo cáo cho đến nay. Số lượng nhiễm trùng và trường hợp thực tế có khả năng cao hơn so với báo cáo.[2]
  3. ^ Bao gồm đảo HawaiiMS Grand Princess.
  4. ^ Bao gồm MS River Anuket.
  5. ^ Bao gồm những ca chẩn đoán lâm sàng từ ngày 12 tháng 2 năm 2020 trở đi tại tỉnh Hồ Bắc.
  6. ^ bao gồm MS Braemar.

Tham khảo

  1. ^ “COVID-19 Dashboard by the Center for Systems Science and Engineering (CSSE) at Johns Hopkins University (JHU)”. ArcGIS. Đại học Johns Hopkins. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020. 
  2. ^ Lau, Hien; Khosrawipour, Veria; Kocbach, Piotr; Mikolajczyk, Agata; Ichii, Hirohito; Schubert, Justyna; Bania, Jacek; Khosrawipour, Tanja (tháng 3 năm 2020). “Internationally lost COVID-19 cases”. Journal of Microbiology, Immunology and Infection. PMID 32205091. doi:10.1016/j.jmii.2020.03.013. The total number of cases may not necessarily add up due to the frequency of values updating for each individual location.
  3. ^ [Số ca nhiễm virus corona COVID-19 trên toàn cầu trên trang web chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới] |dịch tựa đề= cần |tựa đề= (trợ giúp). https://www.who.int/. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2020. 
  4. ^ “Tamil Nadu reports second case of coronavirus, total 40 infected in India” [Tamil Nadu xác nhận ca nhiễm COVID-19 thứ hai, tổng cộng 40 ca tại Ấn Độ]. Hindustan Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  5. ^ “31 nieuwe besmettingen met het coronavirus covid-19” [31 ca nhiễm COVID-19 mới] (bằng tiếng Hà Lan). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  6. ^ “Počet nakažených koronavirem stoupl na 31. Babiš oznámil další tři případy” [Số ca nhiễm virus corona tăng lên 31. Babiš xác nhận thêm ba ca]. iDNES.cz (bằng tiếng Séc). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  7. ^ “Swiss death toll from new coronavirus rises to two” [Số ca tử vong do virus corona tại Thụy Sĩ tăng lên hai]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  8. ^ “Senaste nytt om coronaviruset” [Tin tức mới nhất về virus corona]. SVT Nyheter (bằng tiếng Thụy Điển). 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  9. ^ “В Беларуси излечен первый пациент с диагнозом коронавирусная инфекция” (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  10. ^ Michael, Maggie; Magdy, Samy (7 tháng 3 năm 2020). “Egypt says cruise ship quarantined over new virus cluster” [Ai Cập cách ly du thuyền vì lo ngại cụm virus mới]. Associated Press. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  11. ^ “Greece Announces New Emergency Measures, as Coronavirus Cases Rise to 73” [Hy Lạp đưa ra biện pháp khẩn cấp mới với số ca nhiễm COVID-19 tăng lên 73]. GreekReporter.com. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  12. ^ “截至3月7日24时新型冠状病毒肺炎疫情最新情况” [Cập nhật về đợt bùng phát virus corona vào lúc 24:00 ngày 7 tháng 3]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  13. ^ “Coronavirus : un nouveau cas confirmé en Algérie” [Virus corona: một ca nhiễm mới được xác nhận tại Algeria]. TSA (bằng tiếng Pháp). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  14. ^ “Seneste tal på COVID-19 i Danmark” [Số liệu mới nhất cho COVID-19 tại Đan Mạch]. Styrelsen for Patientsikkerhed (Bộ Y tế) (bằng tiếng Đan Mạch). 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020. 
  15. ^ “Updates on COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) Local Situation” [Cập nhân COVID-19 Tình hình địa phương]. 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  16. ^ “Coronavirus: Infected WA woman attended Beethoven performance” [Virus corona: Người phụ nữ WA bị nhiễm dự buổi biểu điễn Beethoven]. The Australian. 8 tháng 3 năm 2020. 
  17. ^ “โรคติดเชื้อไวรัสโคโรนาสายพันธุ์ใหม่ 2019”. Home | กรมควบคุมโรค (bằng tiếng Thái). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020. 
  18. ^ “TRANG TIN VỀ DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP COVID-19 CỦA BỘ Y TẾ VIỆT NAM”. Bộ Y Tế VN. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020. 
  19. ^ “Coronavirus: Could African countries cope with an outbreak?”. BBC News. Ngày 6 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020. 
  20. ^ Ahmed, Kaamil (ngày 20 tháng 3 năm 2020). “World's most vulnerable in 'third wave' for Covid-19 support, experts warn”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2020. 
  21. ^ “27 cases of viral pneumonia reported in central China's Wuhan City”. news.cgtn.com. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020. 
  22. ^ Sample, Ian (ngày 11 tháng 3 năm 2020). “Research finds huge impact of interventions on spread of Covid-19”. The Guardian. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020. 
  23. ^ AccentTv Another 14 cases of coronavirus have been confirmed in Moldova. Total number reached 80
  24. ^ “Europe 'now epicentre of coronavirus pandemic'. BBC News (bằng tiếng en-GB). Ngày 13 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2020. 
  25. ^ “Coronavirus: Echtzeit-Karte zeigt Zahl der Infektionen in Deutschland, Europa und weltweit”. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2020. 
  26. ^ “First confirmed case of novel coronavirus in Australia”. Australian Government Department of Health. Ngày 25 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020. 
  27. ^ Horwitz, Luisa; Nagovitch, Paola; Sonnel, Holly K.; Zissis, Carin. “Where Is the Coronavirus in Latin America?”. AS/COA. 
  28. ^ Changes for Australian Antarctic Program to keep the icy continent free of COVID-19 Australian Antarctic Division, Department of Agriculture, Water and the Environment, Australian Government 26/6/2020
  29. ^ “Thousands on cruise free to go after virus tests”. BBC News. Ngày 10 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020. 
  30. ^ Marsh, Sarah (ngày 23 tháng 2 năm 2020). “Coronavirus outbreak: four cruise ship passengers test positive in UK – live news”. The Guardian. ISSN 0261-3077. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020. 
  31. ^ Hines, Morgan. “Coronavirus still wreaking havoc on lives of Westerdam passengers despite no cases on ship”. USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020. 
  32. ^ “Cruise Ship Carrying Persons With Coronavirus 'Will Not Be Permitted To Dock'. The Tribune (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 3 năm 2020. 
  33. ^ “Coronavirus outbreak: How the 2019-nCoV is affecting the cruise industry”. Ship Technology. Ngày 9 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020. 

Liên kết ngoài