Novak Djokovic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Novak Djokovic
Novak Djokovic French Open 2015.jpg
Djokovic tại Roland Garros 2015
Biệt danh Nole, Djoker
Quốc gia  Serbia và Montenegro (2003–2006)
 Serbia (2006–nay)
Nơi cư trú Monte Carlo, Monaco
Ngày sinh 22 tháng 5, 1987 (29 tuổi)
Nơi sinh Belgrade, Liên bang Nam Tư
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)[1]
Lên chuyên nghiệp 2003
Tay thuận Tay phải (trái tay 2 tay)
Huấn luyện viên Dejan Petrovic (2004–2005)
Riccardo Piatti (2005–2006)
Marián Vajda (2006–nay)
Mark Woodforde (2007)
Todd Martin (2009–2010)
Boris Becker (2013–nay)
Tiền thưởng 101,917,404 $ (đứng thứ 1 mọi thời đại)
Trang chủ novakdjokovic.com
Đánh đơn
Thắng - Thua 730 - 149
Vô địch 66 (đứng thứ 7 tính từ Kỷ nguyên Mở)
Thứ hạng cao nhất 1 (4.7.2011)
Thứ hạng hiện tại 1 (6.6.2016)
Thành tích tốt nhất tại Gland Slam
Úc Mở rộng Vô địch (2008, 2011, 2012, 2013, 2015, 2016)
Pháp mở rộng Vô địch (2016)
Wimbledon Vô địch (2011, 2014, 2015)
Mỹ Mở rộng Vô địch (2011, 2015)
Các giải vô địch khác
ATP Tour Finals Vô địch (2008, 2012, 2013, 2014, 2015)
Thế vận hội Bronze medal.svg Huy chương đồng (2008)
Đánh đôi
Thắng - Thua 40–53
Vô địch 1
Thứ hạng cao nhất 114 (30 tháng 11 năm 2009)
Thứ hạng hiện tại 137 (14 tháng 9 năm 2015)
Thành tích tốt nhất tại Gland Slam
Úc Mở rộng 1R (2006, 2007)
Pháp mở rộng 1R (2006)
Wimbledon 2R (2006)
Mỹ Mở rộng 1R (2006)
Cúp Davis Vô địch (2010)
Hopman Cup Chung kết (2008, 2013)

Cập nhật: 14 tháng 9 năm 2015

Signature of Novak Djokovic.jpg
Chữ ký của Novak Djokovic.
Thành tích Huy chương Olympic
Đại diện cho  Serbia
Tennis đơn nam
Huy chương đồng – vị trí thứ ba Thế vận hội mùa hè 2008 Đơn nam tennis

Novak Đoković (theo ký tự Cyril của tiếng Serbia: Новак Ђоковић; phát âm: [ˈnɔvaːk 'ʥɔːkɔviʨ]; thường được viết là Novak Djokovic trong tiếng Anh) (sinh ngày 22 tháng 5 năm 1987 tại Beograd, Liên bang Nam Tư) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Serbia. Hiện anh đang là tay vợt đương kim số 1 thế giới. Anh là chủ nhân của 12 danh hiệu Grand Slam đơn nam bao gồm: 6 Úc Mở rộng, 3 Wimbledon, 2 Mỹ Mở rộng và 1 Pháp Mở rộng. Sau khi vô địch 3 Grand Slam vào năm 2011, Djokovic trở thành tay vợt nam thứ 6 trong Kỷ nguyên mở rộng giành được 3 danh hiệu Grand Slam trong 1 năm (anh lặp lại kỳ tích này vào năm 2015). Trong năm 2015, Djokovic đã lập kỷ lục vô địch 6 ATP World Tour Masters 1000, và là tay vợt kiếm nhiều tiền thưởng nhất trong lịch sử ATP ở 1 mùa thi đấu (khoảng 21 triệu $). Anh là tay vợt Serbia đầu tiên vô địch 1 giải Grand Slam và cũng là người trẻ nhất trong Kỷ nguyên mở rộng vào đến bán kết 4 cả giải GS, cả liên tiếp và ngắt quãng. Anh cũng giành được danh hiệu lớn khác gồm 5 ATP World Tour Finals và cùng Đội tuyển Quần vợt Quốc gia Serbia vô địch Davis Cup 2010.

Năm 2015, sau khi dành chức vô địch giải Masters 1000Monte Carlo anh trở thành tay vợt đầu tin vô địch 3 giải Masters 1000 liên tiếp đầu năm.

Năm 2016, với chức vô địch tại Australian Open, anh cân bằng thành tích 6 lần vô địch giải Grand Slam đầu tiên trong năm của huyền thoại Roy Emerson đồng thời trở thành tay vợt sở hữu số lần vô địch Australian Open nhiều nhất trong Kỷ nguyên mở rộng.[2]

Năm 2016, sau khi vô địch giải quần vợt Mutua Madrid Open, Djokovic trở thành tay vợt nắm giữ kỷ lục vô địch nhiều giải ATP World Tour Masters 1000 nhất trong lịch sử với 29 danh hiệu.

Sau khi đoạt chức vô địch Pháp mở rộng 2016, Novak Djokovic trở thành tay vợt thứ 3 trong lịch sử quần vợt thế giới vô địch liên tiếp 4 Grand Slam khác nhau (sau Don Bugde - 1938; Rod Laver 1962,1969)

Novak Djokovic là người thứ 8 trong lịch sử quần vợt thế giới hoàn tất bộ Grand Slam sự nghiệp (sau: Don Budge, Rod Laver, Rafeal Nadal, Fred Perry, Roger Federer, Roy Emerson, Andre Agassi), nếu chỉ tính riêng trong kỷ nguyên mở thì là tay vợt thứ 5 làm được điều này

Novak Djokovic cũng là tay vợt đầu tiên trong lịch sử quần vợt thế giới cán mốc giành được 100 triệu USD tiền thưởng.

Novak Djokovic được nhận giải thưởng Laureus cho Vận động viên nam xuất sắc nhất của năm 2012,[3] năm 2015[4] và năm 2016.

Sự nghiệp thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006: Danh hiệu ATP đầu tiên.[sửa | sửa mã nguồn]

Là tay vợt đang lên ở tuổi 20, Djokovic đã chứng minh mình là tay vợt có thể thích nghi trên mọi mặt sân với tài năng tiềm tàng. Anh tham gia giải Cúp Hopman với đồng đội là Ana Ivanović. Tuy nhiên họ đã để thua trận chung kết.

Anh tiếp tục cuộc bứt phá ngoạn mục khi thăng hạng vùn vụt năm 2006.

Vào tháng 5 năm 2006, nhiều phóng viên đã đăng tin trên Thông tấn xã Anh về việc mẹ của Djokovic, bà Dijna Djokovic, đã tường lên Hiệp hội Quần vợt Sân cỏ của Anh về việc đưa con trai bà vào Bảng xếp hạng các tay vợt Anh cũng như việc xin chuyển đến sống tại Anh cho gia đình gồm 5 người của Djokovic. Tuy nhiên, những tin đồn đó đã không làm ảnh hưởng đến sự thi đấu Djokovic. Djokovic khởi đầu năm 2006 tại vị trí thứ 78, nhưng với những nỗ lực để vào đến tứ kết Roland Garros và vòng 4 Wimbledon, anh được lọt vào top 40.

Chỉ 3 tuần sau Wimbledon, anh giành danh hiệu đầu tiên của mình tại Amersfoot mà không để thua một set nào. Với chiến thắng thứ 2 tại Metz, Djokovic lọt vào top 20 lần đầu tiên trong sự nghiệp. Còn với những gì anh đã thể hiện tại Indian Wells (Á Quân) và Miami (Vô Địch), 2 giải Masters của năm, anh lọt vào top 10. Trong 2 giải đấu trên, anh đều đánh bại Andy Murray, tay vợt số 1 của Anh hiện nay và cũng là bạn thân của anh, trong 2 trận bán kết mà không để thua một ván đấu nào. Anh để mất giải Indian Wells vào tay Rafael Nadal, nhưng đã thắng trước Nadal tại Miami, Florida. Sau đó, anh tham dự giải đấu danh giá Monte Carlo Mở Rộng và để thua David Ferrer tại vòng 3 với 3 ván trắng. Tại giải Estoril, Djokovic đánh bại tay vợt lọt vào bán kết Wimbledon 2007 người Pháp, Richard Gasquet 7-6, 0-6, 6-1 tại chung kết.

Anh là bạn thân thời trung học của Andy Murray, và cùng đôi khi là đồng đội đánh cặp của anh. Tại Davis Cup tháng 4 năm 2006 diễn ra ở Glasgow, đội Serbia và Motenegro (với sự góp mặt của Novak Djokovic) đã đánh bại đội Anh (với Andy Murray). Djokovic giành được trận thắng mang tính quyết định trước Greg Rusedski, giúp đội của anh giành phần thắng 3-1.

Năm 2007: Tiến vào top 10, tham dự trận chung kết Grand Slam.[sửa | sửa mã nguồn]

Novak Djokovic tại 2007 U.S. Open

Tại Úc Mở rộng, anh lọt đến vòng 4 trước khi để thua Roger Federer, nhà vô địch của giải này.

Thành tích tốt nhất của Djokovic tại Grand Slam là vào đến bán kết Pháp Mở rộngWimbledon, và đều để thua trước Rafael Nadal.

Tại Wimbledon, anh có chiến thắng kịch tính trước Marcos Baghdatis tại tứ kết. Trận đấu kéo dài đến 5 giờ, chỉ kém 5 phút so với trận đấu đơn dài nhất trong 1 ngày của lịch sử giải Wimbledon. Trong trận bán kết gặp Rafael Nadal, anh buộc phải bỏ cuộc sớm do chấn thương lưng và bàn chân.

Những thành công của anh tại Wimbledon đồng nghĩa với việc anh trở thành tay vợt số 3 thế giới, sau Roger FedererRafael Nadal, vì Andy Roddick đã chỉ lọt đến tứ kết, còn Nikolai Davydenko thì dừng bước ở vòng 4.

Tháng 8 năm 2007 đánh dấu 1 bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Novak Djokovic khi anh đánh bại Andy Roddick (số 3 khi đó), Rafael Nadal (số 2) ở bán kết rồi Roger Federer (số 1) ở chung kết để giành giải vô địch Roger Master ở Montréal, Canada. Đây là lần đầu tiên kể từ Boris Becker năm 1994 có một tay vợt đánh bại cả 3 tay vợt có thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng ATP tại một giải đấu.

Năm 2008: Grand Slam đầu tiên.[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Nole có 4 danh hiệu gồm Cúp Tennis Masters Cup (sân cứng trong nhà), ATP Masters Series Rome (sân đất nện), ATP Masters Series Indian Wells (sân cứng), Úc Mở rộng (sân cứng). Và đó được coi là năm thi đấu rất thành công của Djokovic khi anh giành được Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp tại Úc đầu năm sau khi đánh bại Roger Federer ở bán kết sau 03 set và Stonga ở chung kết sau 04 set khi đã để thua set đầu tiên.

Cuối năm 2008 anh đoạt thêm chức vô địch Master cup lần đầu tiên trong sự nghiệp(sau này đổi tên là ATP world tour Final)giải đấu danh giá dành cho 08 tay vợt xuất sắc nhất trong năm, thể thức của giải đấu là chia hai bản chứ không đấu loại trực tiếp, anh ở cùng bảng B với Rafael Nadal (2), Nikolay Davydenko (6) và Robin Soderling(8) không phải là trở ngại quá lớn với Djokovic. Trong trận đấu cuối cùng Nole đã chiến thắng thuyết phục trước Nikolay Davydenko với tỉ số 6-1, 7-5,đoạt chức vô địch. Năm 2008 được xem như là năm khởi đầu cho hành trình chinh phục danh hiệu của tay vợt trẻ sau này trở thành tượng đài trong làng quần vợt.

Năm 2009: Mừoi trận chung kết, năm danh hiệu và sự xuất hiện của Big Four.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic năm 2009

Djokovic bắt đầu năm 2009 tại giải Brisbane International ở Brisbane, Australia, nơi mà anh đã bị loại bởi Ernests Gulbis ngay vòng đầu tiên. Ở giải Medibank International tại Sydney, anh thua Jarkko Nieminen ở bán kết.

Với tư cách là đương kim vô địch Úc Mở rộng, Djokovic đã phải rút lui ở trận tứ kết với cựu số 1 thế giới Andy Roddick.

Sau khi thua ở bán kết giải Open 13 tại Marseille trước Jo-Wilfried Tsonga, Djokovic vô địch Barclays Dubai Tennis Championships, đánh bại David Ferrer để giành danh hiệu thứ 12 trong sự nghiệp. Djokovic là đương kim vô địch tại BNP Paribas Open ở Indian Wells, California, một giải ATP World Tour Masters 1000, nhưng đã thua Roddick ở tứ kết. Tại giải Sony Ericsson Open ở Key Biscayne, Florida, một giải ATP World Tour Masters 1000 khác, Djokovic đánh bại Federer ở bán kết, trước khi thua Andy Murray ở chung kết.

Djokovic tại US Open 2009

Djokovic vào chung kết Monte-Carlo Rolex Masters trên mặt sân đất nện, thua Rafael Nadal ở chung kết. Tại giải Internazionali BNL d'Italia ở Rome, một giải ATP World Tour Masters 1000 khác, Djokovic là đương kim vô địch và lại để thua ở chung kết lần nữa.

Djokovic là hạt giống số 1 ở giải đấu tổ chức tại quê nhà, Serbia Mở rộng ở Belgrade. Anh đánh bại tay vợt lần đầu vào chung kết Łukasz Kubot để có danh hiệu thứ 2 trong năm. Là hạt giống số 3 tại Mutua Madrilena Madrid Open, Djokovic vào đến bán kết mà không để thua set nào. Ở đó, anh gặp Nadal và thua mặc dù đã có tới 3 match point. Trận đấu diễn ra trong 4 giờ 3 phút, là trận đấu dài nhất ở thể thức 3 set trong lịch sử ATP World Tour trong Kỷ nguyên mở rộng. Tại French Open, anh dừng bước ở vòng 3 trước tay vợt người Đức Philipp Kohlschreiber.

Djokovic bắt đầu mùa giải sân cỏ tại Mở rộng Gerry Weber, sau sự rút lui của Federer, anh trở thành hạt giống số 1. Anh vào tới chung kết, để thua tay vợt Đức Tommy Haas. Djokovic cũng thua Haas ở tứ kết Wimbledon.

Tại US Open Series, Djokovic vào tứ kết Cúp Rogers ở Montreal, trước khi để thua Andy Roddick. Tại giải Western & Southern Financial Group Masters ở Cincinnati, Djokovic đánh bại tay vợt số 3 thế giới Rafael Nadal ở bán kết. Anh thua số 1 thế giới Roger Federer ở chung kết. Tại US Open 2009, Djokovic vào tới bán kết mà chỉ để thua 2 set, đánh bại Ivan Ljubičić, hạt giống số 15 Radek Štěpánek và hạt giống số 10 Fernando Verdasco. Sau đó anh để thua Roger Federer.

Tại Trung Quốc Mở rộng ở Bắc Kinh, anh đánh bại Victor Hănescu, Viktor Troicki, Fernando Verdasco, và Robin Söderling để vào chung kết, nơi anh đánh bại Marin Čilić trong 2 set để vô địch lần thứ 3 trong năm. Tại Shanghai ATP Masters 1000, Djokovic thua ở bán kết trước Nikolay Davydenko.

Tại giải Davidoff Swiss Indoors ở Basel, Djokovic đánh bại Jan Hernych để vào tứ kết. Anh sau đó thắng Stanislas Wawrinka ở tứ kết. Anh thắng trận bán kết trước Radek Štěpánek. Tại chung kết, anh đánh bại tay vợt chủ nhà và đã 3 lần vô địch giải đấu Roger Federer để vô địch danh hiệu thứ 4 trong năm.

Ở giải Masters 1000 cuối cùng trong năm BNP Paribas Masters tại Paris, Djokovic vô địch giải Masters 1000 đầu tiên trong năm. Anh đánh bại Rafael Nadal ở bán kết. Trong trận chung kết Djokovic vượt qua Gaël Monfils.

Tới giải đấu cuối năm ATP World Tour Finals ở Luân Đôn với tư cách là đương kim vô địch, Djokovic đánh bại Nikolay Davydenko ở lượt đầu tiên vòng bảng. Ở trận đấu thứ 2, anh thua Robin Söderling. Mặc dù thắng Rafael Nadal ở trận thứ 3 nhưng Djokovic vẫn không vào được bán kết.

Djokovic kết thúc năm với vị trí thứ 3 thế giới năm thứ 3 liên tiếp. Djokovic chơi 97 trận trong cả năm, nhiều nhất trong số các tay vợt ở ATP World Tour, với 78 trận thắng – 19 trận thua. Là tay vợt có số trận thắng nhiều nhất trong năm, Djokovic vào đến 10 trận chung kết và giành được 5 danh hiệu.

Năm 2010: Giành cúp Davis cùng Serbia[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic bắt đầu mùa giải bằng giải đấu biểu diễn Kooyong Classic. Ở trận đấu đầu tiên, Djokovic đánh bại Tommy Haas, nhưng để thua Fernando Verdasco ở trận tiếp theo. Ở Úc Mở rộng, Djokovic bị loại ở tứ kết bởi Jo-Wilfried Tsonga trong trận đấu kịch tính kéo dài 5 ván đấu. Dù vậy, thành tích này cũng giúp Djokovic lần đầu leo lên vị trí thứ 2 thế giới. Tại giải ATP500 ABN AMRO World Tennis TournamentRotterdam, Djokovic tiến vào bán kết và thất bại trước Mikhail Youzhny. Tại giải ATP500 Dubai Tennis ChampionshipsU.A.E, được xếp làm hạt giống số 2, Djokovic lần lượt đánh bại Guillermo García-López, Victor Troicki, Ivan Ljubicic, Marcos Baghdatis để vào chung kết gặp Mikhail Youzhny, với chiến thắng 7-5 5-7 6-3, Djokovic đã có được danh hiệu đầu tiên của năm. Sau đó Djokovic tham gia cùng đội tuyển Serbia tại vòng 1 cúp đồng đội nam thế giới Cúp Davis gặp đội tuyển Hoa Kỳ. Với 2 chiến thắng quan trọng trước Sam QuerreyJohn Isner, Djokovic đã đưa đội tuyển Serbia vào tứ kết với thắng lợi chung cuộc 3-2.

Tại giải ATP1000 đầu tiên trong năm Indian Wells Masters, Djokovic để thua Ivan Ljubicic ở vòng 4. Tại giải ATP1000 Miami Masters, Djokovic đã để thua ngay vòng đấu đầu tiên trước Olivier Rochus. Với 2 thất bại liên tiếp này, Djokovic quyết định bổ nhiệm Todd Martin làm huấn luyện viên của mình.

Tại giải ATP1000 đầu tiên trên sân đất nện Monte-Carlo Rolex Masters, hạt giống số 2 Djokovic đã tiến vào bán kết gặp Fernando Verdasco với chiến thắng trước Stanislas WawrinkaDavid Nalbandian. Sau đó Djokovic đã để thua Verdasco với tỉ số 2-6 2-6. Tại giải ATP1000 Internazionali BNL d'Italia tại Roma, Djokovic lại để thua Verdasco ở tứ kết sau 3 ván đấu.Trở về tại giải đấu ATP250 Serbia Mở rộng được tổ chức trên quê nhà, nhà đương kim vô địch đã bỏ cuộc tại tứ kết gặp Filip Krajinovic.

Tại giải Grand Slam thứ 2 trong năm trên sân đất nện, Djokovic đã tiến vào tứ kết sau khi đánh bại Evgeny Korolev, Kei Nishikori, Victor Hănescu, và Robby

Ginepri. Ở tứ kết Djokovic bất ngờ để thua Jurgen Melzer sau khi đã thắng 2 ván đầu và 1 break trước trong ván thứ 3.

Tại Grand Slam thứ 3 trong năm Wimbledon, được xếp làm hạt giống số 3 của giải, Djokovic đã đánh bại Olivier Rochus, Taylor Dent, Albert Montanes, Lleyton Hewitt, và Yen-Hsun Lu trên con đường vào bán kết gặp Tomas Berdych, Djokovic đã thua sau 3 set đấu.

Đến Grand Slam cuối cùng Us Open, Djokovic lần lượt đánh bại Troicki, Petzschner, Blake, Mardi Fish, Gaël Monfils, Roger Federer trên đường lọt vào chung kết nhưng lại để thua trước Rafael Nadal với tỉ số 1-3 (4-6,7-5,4-6,2-6).

Cũng trong năm 2010, Djokovic dành được danh hiệu Davis Cup cùng đội tuyển Serbia sau chiến thắng 3-2 trước đội tuyên Pháp ở trận chung kết.

Năm 2011: Vươn lên số 1 thế giới.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic sau khi giành chiến thắng trước Tsonga tại bán kết Wimbledon 2011, qua đó lần đầu tiên trong sự nghiệp vươn lên vị trí số 1 thế giới.

Mùa giải tennis 2011, Djokovic vượt qua cái bóng của cặp Federer và Nadal để đứng số 1 thế giới, đây là năm đánh dấu làng banh nỉ nhìn djokovic bằng cặp mắt kính nể chứ không còn là người tô màu hay thêm gia vị cho những cuộc đối đầu của Federer và Nadal, cũng là mùa giải đánh dấu sự ra đời của một huyền thoại khác đã chen chân vào và lật đổ thế song cực đã hình thành gần 10 năm này của làng banh nỉ.

Khởi đầu là chức vô địch Grand Slam Úc mở rộng và kết thúc là US open. Ngoài 3 chức vô địch Grand Slam (Úc Mở rộng, Wimbledon và Mỹ Mở rộng), Djokovic còn đoạt thêm 7 danh hiệu đơn khác.Thành tích chói sáng ấy đã giúp Djokovic vượt qua siêu sao bóng đá Lionel Messi (Argentina) và "ông vua" mới của làng đua công thức 1 Sebastian Vettel (Đức) để đoạt giải thưởng vận động viên (VĐV) nước ngoài xuất sắc nhất năm 2011 của BBC (BBC Overseas Sports Personality of the Year). Đây là lần thứ 6 trong 11 năm qua, một VĐV quần vợt được các biên tập viên thể thao của các tờ báo, tạp chí Anh và khu vực bình chọn cho giải thưởng này.

Djokovic bắt đầu mùa giải 2011 bằng một phong độ ấn tượng khi đánh bại Roger FedererAndy Murray để đăng quang ở Úc mở rộng. Sau đó, tay vợt Serbia có hai lần hạ gục "ông vua sân đất nện" Nadal trên đường đoạt danh hiệu ở Indian Wells và Miami (Mỹ), rồi tiếp tục thống trị mặt sân đất nện ở các giải Rome (Ý) và Madrid (Tây Ban Nha).

Cột mốc đáng nhớ nhất của Djokovic là chiến thắng trước Nadal ở chung kết Wimbledon để lần đầu tiên leo lên vị trí số 1 thế giới. Chấn thương vai sau đó không cho Djokovic được thể hiện nhiều ở giải đấu tại Cincinnati (Mỹ), nhưng tay vợt Serbia vẫn hồi phục kịp thời để nâng cao chiếc cúp Mỹ mở rộng sau khi đánh bại Nadal trong trận chung kết.

Sau Mỹ mở rộng 2011, tay vợt Serbia ẵm trọn các giải thưởng dành cho tay vợt xuất sắc nhất của năm từ ATP và ITF.

Năm 2011 là một năm đại thành công của Djokovic, đánh dấu sự khởi đầu kỷ nguyên thống trị của anh với làng quần vợt thế giới kéo dài cho đến những năm sau.

Năm 2012: Lần thứ 3 vô địch Úc mở rộng, kết thúc năm ở số 1 thế giới.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic bước vào mùa giải mới tại giải Grand Slam đầu tiên trong năm Úc mở rộng. Được xếp là hạt giống số 1 của giải, Djokovic đã liên tiếp đánh bại các đối thủ Paolo Lorenzi, Santiago Giraldo, Nicolas Mahut, Lleyton Hewitt, David Ferrer để tiến vào bán kết gặp Andy Murray. Ở bán kết, Djokovic đã vượt qua Murray sau 4 giờ 50 phút trong 1 trận đấu kéo dài 5 set căng thẳng với các tỉ số 6-3 3-6 6-7 6-1 7-5 để giành quyền vào chung kết gặp Rafael Nadal. Trong trận chung kết, một lần nữa Djokovic đánh bại Nadal lần thứ 3 liên tiếp tại chung kết các giải Grand Slam để dành chức vô địch úc mở rộng thứ 3 và là Grand Slam thứ 5 trong sự nghiệp. Tỉ số các set là 5-7, 6-4, 6-2, 6-7, 7-5 sau 5h53 phút thi đấu. Đây là trận chung kết kéo dài nhất trong lịch sử các kì Grand Slam và là trận đấu dài nhất trong lịch sử Úc Mở rộng

Anh lọt vào chung kết giải Grand Slam trên sân đất nện tại Pháp sau khi vượt qua Starace, Kavčič, Devilder, Seppi, Jo-Wilfried Tsonga, Federer rồi để thua trong trận chung kết kéo dài 2 ngày với Rafael Nadal với tỉ số các set lần lượt là 4-6,3-6,6-2,5-7. Đáng chú ý tình huống quyết định khi Djokovic mắc lỗi giao bóng kép.

Bước vào Wimbledon, được xếp hạng hạt giống số 1, Djokovic lần lượt vượt qua Ferrero, Harrison, Štepánek, Troicki, Florian Mayer trước khi để thua Roger Federer tại bán kết.

Giải Grand Slam cuối cùng trong năm diễn ra tại Mỹ, Djokovic vươt qua các đối thủ Lorenzi, Dutra da Silva, Benneteau, Wawrinka, Juan Martín del Potro, David Ferrer trên đường vào chung kết trước khi để thua Andy Murray sau 5 set đấu (6-7,5-7,6-2,6-3,2-6).

Cũng trong năm này, anh giành được chức vô địch ATP World tour Final sau khi đánh bại Roger Federer ở trận chung kết với tỉ số 2-0 (7-6,7-5).

Anh kết thúc năm 2012 với vị trí số 1 trên bảng xếp hạng ATP, đây là năm thứ hai liên tiếp Djokovic kết thúc năm ở vị trí số 1 thế giới.

Năm 2013: 3 lần liên tiếp vô địch Úc mở rộng.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic thực hiện cú giao bóng trong một trận đấu tại Roland Garros 2013

Ở giải Grand Slam đầu tiên trong năm, Djokovic chiến thắng Andy Murray trong trận chung kết sau 4 set, nâng cao chiếc cúp vô địch lần thứ 3 liên tiếp tại Australian Open. Anh là vận động viên đầu tiên kể từ kỉ nguyên mở rộng liên tiếp giành được 3 danh hiệu Grand Slam châu Á/Đại Dương này, vào các năm 2011, 2012, và 2013.[5] Đây là danh hiệu Grand Slam thứ sáu của anh trong sự nghiệp.Tiếp nối thành công này, anh giành tiếp chức vô địch thư tư liên tiếp tại Dubai. Nhưng với chấn thương và phong độ không tốt, anh đã phải rút lui sớm tại 2 giải Masters 1000 quan trọng, đó là BNP Paribas Open (Indian Wells) và Sony Open Tennis (Miami). Djokovic bước vào mùa giải trên mặt sân đất nện với vị trí là hạt giống số 1, khởi đầu với Monte-Carlo Masters. Dù trước đó anh gặp chấn thương, và thi đấu không chắc chắn trong những trận đấu đầu tiên của mùa giải, nhưng kể từ khi bước vào vòng tứ kết, Djokovic đã chúng tỏ anh xứng đang với ngôi vị số 1 thế giới sau khi lần lượt hạ 2 hiện tượng của giải, Jarkko NieminenFabio Fognini với tỉ số 6-4, 6-3 và 6-2, 6-1. Cuối cùng, anh đã giành được danh hiệu Monte-Carlo Rolex Masters đầu tiên của mình trong sự nghiệp, sau khi đánh bại Rafael Nadal 6-2, 7-6(1). Hiện tại anh chỉ còn thiếu giải Western & Southern Open tại Cincinnati là đủ bộ sưu tập trong hệ thống giải đấu ATP World Tour Masters 1000.

Bước vào Roland Garros với quyết tâm chinh phục chức vô địch, anh lần lượt vượt qua Goffin, Pella, Dimitrov, Kohlschreiber, Tommy Haas để tiến vào bán kết gặp ông vua sân đất nện Rafael Nadal nhưng lại một lần nữa chịu gác vợt sau 5 set đấu vô cùng kịch tính (4-6,6-3,1-6,7-6,7-9).

Quên đi thất bại tại Pháp mở rộng, Djokovic hướng đến giải Grand Slam thứ 3 trong năm tại Wimbledon, anh lần lượt đánh bại các tay vợt Mayer, Reynolds,Chardy, Haas, Tomáš Berdych, Juan Martín del Potro để tiến vào chung kết gặp tay vợt chủ nhà Andy Murray. Djokovic để thua Murray tại trận chung kết sau 3 set (4-6,5-7,4-6). Bước vào mùa sân cứng diển ra tại Bắc Mỹ, Djokovic thi đấu không thành công tại 2 giải Master 1000 là Cincinnati (thua John Isner tại tứ kết) và Roger Cup (thua Rafael Nadal tại chung kết). Đến giải Grand Slam cuối cùng trong năm là US open, Djokovic vượt qua các đối thủ Berankis, Becker, Sousa, Granollers, Mikhail Youzhny và Stanislas Wawrinka để tiến vào chung kết, trong đó có trận đấu căng thẳng kéo dài 5 set với Wawrinka. Tại chung kết anh gặp đối thủ là tay vợt người Tây Ban Nha Rafael Nadal và một lần nữa nhận thất bại sau 4 set (2-6,6-3,4-6,1-6), qua đó chính thức đánh mất vị trí số 1 vào tay Rafael Nadal. Sau trận thua này, Djokovic đã liên hệ và bổ nhiệm huyền thoại Boris Becker làm huấn luyện viên của mình bắt đầu từ mùa giải 2014.

Đánh mất ngôi số 1 thế giới, Djokovic có sự đáp trả lại khi dành chiến thắng trước Nadal tại chung kết giải ATP 500 China Open. Phong độ tốt trong giai đoạn cuối năm giúp anh thâu tóm thêm 2 giải Master 1000 tại Thượng Hải và Paris cùng chức vô địch ATP World Tour Final sau khi đánh bại Rafael Nadal tại chung kết (6-3,6-4)

Anh kết thúc năm 2013 ở vị trí số 2 thế giới.

Năm 2014: Vô địch Wimbledon lần thứ 2, trở lại vị trí số 1 thế giới.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic tham dự Úc mở rộng với tư cách là đương kim vô địch nhưng bị loại ở tứ kết bởi Stan Wawrinka người sau đó đã lên ngôi vô địch sau khi đánh bại Nadal sau 4 set, anh tham dự hai giải master 1000 sau đó là Indianwell, Miami Master và đều giành chức vô địch sau khi đánh bại Federer và Nadal, tiếp mùa giải trên sân đất nện, anh bị loại ở bán kết bởi Roger Federer ở Monte Carlo, anh bỏ giải Madrid Master nhưng tham dự Roma Master và đoạt chức vô địch sau khi đánh bại Nadal trong trận chung kết.

Djokovic thi đấu tại ATP World Tour Finals 2014

Bước vào Roland Garros, Djokovic tràn trề cơ hội lên ngôi vô địch giải Grand Slam trên sân đất nện, anh đã vượt qua Gubis ở bán kết và gặp Nadal ở chung kết, trong trận chung kết mặc dù đã dẫn trước Nadal trong set 1 với tỷ số 6-3 nhưng sau đó đã để thua 3 set còn lại để lỡ hẹn với chức vô địch Grand Slam duy nhất còn thiếu trong sự nghiệp.Sau Roland Garros Djokovic tham dự Wimbledon danh giá trên mặt sân cỏ và đoạt chức vô địch sau khi thắng Federer trong trận chung kết với các tỷ số 6-7, 6-3, 6-3, 5-7, 6-4, trong set 4, có lúc Djokovic dẫn trước Federer 5-2 nhưng bị thua ngược 7-5, tuy nhiên anh kịp bừng tỉnh trở lại đúng lúc để thắng 6-4 trong set 5 quyết định để lên ngôi vô địch. Trận chung kết Wimbledon 2014 được đánh giá là trận chung kết hay nhất và kịch tính nhất chỉ sau Nadal - Federer năm 2008, sau khi đoạt chức vô địch Wimbledon 2014, Djokovic chiếm lại vị trí số 1 của Nadal trên bản xếp hạng các tay vợt của ATP.

Tiếp theo hai giải Master 1000 tại Bắc Mỹ là Cicinnati tại Mỹ và Montreal tại Canada, Djokovic thi đấu không thành công và bị loại sớm, đến giải Grand Slam cuối cùng là Mỹ mở rộng anh bị loại bất ngờ ở bán kết bởi tay vợt châu Á Nhật Bản là Kei Nishikori, sau đó anh thua Roger Federer trong trận chung kết giải Thượng Hải Master 1000 với các tỷ số 6-4, 6-4. Sau đó anh trở lại và vô địch hai giải là Paris Master thắng Milos RaonicATP World Tour Finals giải đấu danh giá dành cho 8 tay vợt xuất sắc nhất năm, trong trận chung kết Djokovic vô địch mà không tốn giọt mồ hôi nào do Federer bỏ cuộc vì chấn thương.

Djokovic kết thúc năm 2014 với vị trí số 1 thế giới trước sự bám đuổi về điểm số rất quyết liệt của Roger Federer. Đây là lần thư 3 anh kết thúc mùa giải với vị trí số 1 thế giới.

Năm 2015 Thống trị tennis thế giới, kỷ lục về số điểm trên bảng xếp hạng.[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic bắt đâu năm 2015 với tư cách là tay vợt số 1 thế giới, anh tham dự giải Qatar nhưng bị loại bởi Karlovic, đến giải ATP Dubai 500 anh thua Roger Federer trong trận chung kết, bắt đầu giải Grand Slam đầu tiên trong năm, Australian open 2015, Djokovic đi đến trận chung kết, trong trận chung kết anh chiến thắng Andy Murray sau 4 set với các tỷ số 7-6, 6-7, 6-4, 6-0 nâng cao chiếc cúp tại Úc lần thứ 5. Sau Úc mở rộng anh tiếp tục vô địch hai giải Master 1000 liên tiếp là Indian well, Miami Master, trong trận chung kết Indianwell anh thắng Federer sau 3 set, còn trong chung kết Miami Master anh thắng Murray cũng trong 3 set nâng tỷ số đối đầu giữa anh và Murray lên con số 19-8.

Tiếp tục mùa giải tennis trên sân đất nện với mở màn là Monte carlo tại Monaco nơi gia đình anh đang sinh sống. Trên con đường tiến đến chức vô địch anh loại Nadal ở bán kết sau 2 set, trong trận chung kết với Berdych, anh đã giành chiến thắng sau 3 set, trở thành tay vợt lần đầu tiên trong lịch sử vô địch 3 giải Master 1000 đầu năm liên tiếp. Djokovic không tham dự Madrid Master nhưng sau đó tham dự và vô địch giải Master 1000 khác tổ chức trên sân đất nện tại Italia là giải Roma Master, trong trận chung kết Roma Master anh giành chiến thắng dễ dàng trước Roger federer sau 2 set với các tỷ số là 6-2, 6-4, sau chức vô địch Roma master anh đã có 24 chức vô địch ATP Master 1000 vượt lên federer người có 23 chức vô địch trở thành tay vợt đứng thứ hai dành nhiều chức vô địch nhất các giải Master 1000 sau Nadal với 27 lần vô địch.

Djokovic tại Roland Garros 2015

Djokovic bước vào Roland Garros với tư cách là tay vợt số 1 thế giới và là hạt giống số 1 của giải, theo kết quả phân nhánh anh ở cùng nhánh đấu với vua sân đất nện Nadal và khả năng cả hai sẽ gặp nhau tại vòng tứ kết của giải, ở vòng 1 anh vượt qua Nieminen sau 3 set, vòng 2 anh vượt qua Gilles Muller cũng sau 03 set mặc dù bị đau và cần đến sự chăm sóc của bác sĩ trong gần 10 phút cuối set 2, vòng 3 anh vượt tay vợt trẻ người Úc là kokkinakis sau 03 set đều với tỷ số 6-4, ở vòng 4 anh vượt qua tay vợt nước chủ nhà là Rasquest để bước vào vòng tứ kết đại chiến cùng Nadal. Trong trận tứ kết Roland Garros 2015, trận đấu chỉ gay cấn và kịch tính trong Set 1 khi Djokovic dẫn trước 4-0 nhưng Nadal san bằng tỷ số 4-4, sau đó Djokovic thắng 7-5, hai set còn lại thế trận nghiêng hoàn toàn về tay vợt số 1 thế giới với các tỷ số lần lượt là 6-3; 6-1 chính thức biến Nadal thành cựu vương tại Pháp Mở rộng, chiến thắng trước Nadal tại tứ kết Roland Garros cũng là lần đầu tiên Djokovic thắng được Nadal tại Pháp mở rộng sau 6 lần trước toàn thua trước đó trong đó có hai lần tại chung kết là năm 2012 và 2014, và anh cũng là tay vợt duy nhất thắng được Nadal trong tất cả các giải Grand Slam đồng thời rút ngắn thành tích đối đầu giữa anh và Nadal là 23 - 21, sau khi vượt quá Nadal anh đụng tiếp tay vợt hạt giống khác và đang chơi rất tốt trên sân đất nện từ đầu năm đến nay là Andy Murray trong trận đấu diễn ra trong 2 ngày, anh dẫn trước 2-0 trong hai set đầu tiên nhưng lại bị gỡ hòa trong hai set tiếp sau, tuy nhiên trong set quyết định, bãn lĩnh của tay vợt số 1 đã giúp anh thắng dễ với tỷ số 6-1 để giành quyền vào chơi chung kết gặp Wanwrinka, nhưng lại thua 1-3 trước chính Wanwrinka, một lần nữa anh lỗi hẹn với chức vô địch Roland Garros đầu tiên trong sự nghiệp và cơ hội thâu tóm toàn bộ Grand Slam trong sự nghiệp thi đấu.

Đến Wimbledon, anh thi đấu rất thành công và vào đến chung kết, trong đó có chiến thắng 3-2 trong cuộc marathon diễn ra trong 2 ngày thi đấu ở vòng 4 với Kevin Anderson (Nam Phi). Sau khi loại Richard Gasquet (Pháp) ở bán kết, Nole vào chung kết và gặp lại kỳ phùng địch thủ Roger Federer. Trước sức ép to lớn từ khán giả, anh thắng set 1 qua loạt tiebreak, thua set 2 cũng ở loạt tiebreak, thắng 2 sec 3 và 4 nhờ 1 điểm break dành được trong mỗi sec và 1 Championship point ở set cuối, anh lên ngôi sau chiến thắng 7-6, 6-7, 6-4, 6-3 và giành Grand Slam thứ 9 trong sự nghiệp và thứ 3 tại Wimbledon.

Đến mùa giải sân cứng ở Bắc Mỹ, anh đều thua tại hai trận chung kết Master 1000 là Roger cup và Cicinnati trước Murray và Federer, tuy nhiên anh trở lại kịp thời tại giải Grand Slam cuối cùng trong năm là Mỹ mở rộng anh đã đoạt chức vô địch sau khi thắng Federer trong trận chung kết với tỷ số 3-1, tỷ số các set lần lượt là 6-4; 5-7; 6-4; 6-4, đoạt chức vô địch mỹ mở rộng lần thứ hai trong sự nghiệp và là Grand Slam thứ 10, như vậy tính đến tháng 09/2015 anh đã vào chơi cả 4 trận chung kết Grand Slam của năm và đoạt 3 chức vô địch, anh chắc chắn đứng số 1 thế giới khi kết thúc năm 2015.

Nối tiếp thành công anh vô địch hai giải ATP500Masters 1000 tại Bắc KinhThượng Hải, cả hai giải anh không để thua set đấu nào. Anh tiếp tục vô địch giải Masters 1000 là Paris Master, như vậy anh đã vô địch 6 giải Master 1000 trong năm, một kỷ lục chưa có tay vợt nào làm được trong quá khứ.

Đến giải ATP World Tour Finals danh giá dành cho 8 tay vợt xuất sắc nhất năm, Djokovic tiếp tục vô địch sau khi đánh bại Roger Federer trong trận chung kết với các tỷ số lần lượt là 6-3, 6-4 và lần thứ 4 liên tiếp vô địch giải đấu này. Như vậy Djokovic đã lập kỷ lục dự 15 trận chung kết liên tiếp trong năm 2015, một kỷ lục mà có lẻ sau này chưa biết có tay vợt nào san bằng.

Năm 2015 là một năm đại thành công của Djokovic, còn xuất sắc hơn mùa giải thần thánh 2011 của anh, Djokovic thể hiện sự thống trị tuyệt đối với làng banh nỉ thế giới.

Năm 2016: Giành Grand Slam sự nghiệp, đương kim vô địch cả 4 giải Grand Slam (Nole Slam) và phá kỉ lục điểm số ATP.[sửa | sửa mã nguồn]

Anh khởi đầu năm 2016 bằng chiến thắng tại giải quần vợt Qatar Open trước Rafael Nadal trong trận chung kết với tỷ số 6-1, 6-2 qua đó vượt lên trên tỷ số đối đầu giữa hai tay vợt là 24 - 23 nghiêng về Djokovic. Sau đó anh lọt vào trận chung kết của giải Úc mở rộng. Trong trận chung kết anh giành chiến thắng trước tay vợt Vương quốc Anh Andy Murray với tỷ số 3-0(6-1,7-5,7-67-3) để lần thứ sáu vô địch giải này và là Grand Slam thứ 11 trong sự nghiệp

Djokovic tham dự giải quần vợt ATP500 tại Dubai, nhưng phải sớm bỏ cuộc trong trận đấu với Feliciano Lopez do gặp phải vấn đề về mắt. Anh nhanh chóng trở lại tại giải ATP 1000 đầu tiên trong năm Indian Wells, Djokovic tiến một mạch vào bán kết gặp kình địch Rafael Nadal và giành chiến thắng sau 2 set (7-65;6-2), qua đó tiếp tục nâng thành tích đối đầu giữa anh và Nadal lên thành 25-23. Trong trận chung kết, Djokovic dễ dàng giành chiến thắng chóng vánh trước tay vợt của Canada Milos Raonic sau 2 set (6-2,6-0). Chiến thắng này giúp Djokovic lần thứ 3 liên tiếp nâng cao chiếc cup vô địch tại Indian Wells và anh chính thức san bằng kỷ lục giành 27 Masters 1000 của Rafael Nadal.

Tiếp nối thành công tại Indian Well, Djokovic tham dự Miami Masters - giải Masters 1000 thứ hai trong năm. Anh lần lượt vượt qua các tay vợt Edmund, J.Sousa, D.Thiem, Tomas Berdych, D.Goffin trên con đường tiến vào trận chung kết và chiến thắng tay vợt người Nhật Bản Kei Nishikori sau 2 set (6-3,6-3). Với chức vô địch này, anh đã giành được danh hiệu thứ 6 tại Miami, cân bằng với số danh hiệu của huyền thoại Andre Agassi. Và quan trọng hơn cả, với danh hiệu Masters 1000 thứ 28 trong sự nghiệp, Novak Djokovic đã trở thành tay vợt nam giành được nhiều danh hiệu ATP Masters 1000 nhiều nhất trong lịch sử quần vợt thế giới, anh phá bỏ kỷ lục giành 27 danh hiệu mà Rafael Nadal đã thiết lập trước đó.[6]

Bước vào mùa giải diễn ra trên mặt sân đất nện, Djokovic tham dự Monte Carlo Master với nhiệm vụ bảo vệ chức vô địch tại đây. Được đánh giá là hạt giống số 1 nhưng Djokovic bất ngờ để thua ngay tại vòng 2 trước tay vợt không mấy tên tuổi Jiri Vesely sau 3 set (4-6;6-2;4-6). Bị loại sớm khỏi giải đấu cùng với việc Rafael Nadal đăng quang đã khiến Djokovic bị chính Nadal bắt kịp số danh hiệu ATP Masters 1000 với mỗi người 28 danh hiệu.

Djokovic trở lại và tham dự giải quần vợt Mutua Madrid Open diễn ra tại Tây Ban Nha sau ba năm vắng mặt, anh lấy lại phong độ hủy diệt và một mạch vượt qua các đối thủ trên con đường vào chung kết gặp lại người bạn thân Andy Murray. Trong trận chung kết, Djokocvic dễ dàng giành chiến thắng trong set 1 với tỷ số 6-2, để thua lại set 2 với tỷ số 3-6. Trong set thứ 3 quyết định, Djokovic thể hiện được bản lĩnh của mình, đặc biệt trong game cuối cầm giao bóng để kết thúc trận đấu, anh bị Murray dẫn 0-40 nhưng vẫn lật ngược tình thế và giành thắng lợi chung cuộc 6-3. Giành chiến thắng trước Murray, Novak Djokovic lần thứ hai nâng cao chiếc cup vô địch Mutua Madrid Open, qua đó với danh hiệu Masters 1000 thứ 29, anh một lần nữa vượt qua Rafael Nadal để trở thành tay vợt nắm giữ kỷ lục giành nhiều danh hiệu ATP Masters 1000 nhiều nhất trong lịch sử.[7]

Anh tham dự giải Masters 1000 cuối cùng trên mặt sân đất nện diễn ra tại Roma, Italia. Anh tiến vào chung kết sau những trận đấu căng thẳng với Rafael NadalKei Nishikori để gặp tay vợt người Vương quốc Anh Andy Murray. trong trận chung kết, anh để thua sau hai set với tỉ số 3-6, 3-6.

Giải quần vợt Pháp mở rộng là giải Grand Slam duy nhất Djokovic còn thiếu trong sự nghiệp, anh đã 3 lần vào chung kết nhưng đều chịu thất bại. Vì vậy, Djokovic đến Paris tham dự giải quần vợt Pháp mở rộng 2016 với quyết tâm cực lớn. Anh được phân vào nhánh thăm khá thuận lợi, lần lượt dễ dàng vượt qua Lu Yen-hsun, Steve Darcis, A.Bedene ở 3 vòng đấu đầu tiên. Những cơn mưa không ngớt ở Paris làm gián đoạn các trận đấu khiến cho trận đấu ở vòng 4 giữa Djokovic và Roberto Bautista Agut phải kéo dài trong vòng 3 ngày, cuối cùng Djokovic dành chiến thắng trước Agut sau 4 set (3-6,6-4,6-1,7-5). Vượt qua khó khăn ở vòng 4 Djokovic giành chiến thắng trước Tomas BerdychDominic Thiem tại tứ kết và bán kết cùng với tỉ số 3-0 để lần thứ 4 tiến vào chung kết giải quần vợt Pháp mở rộng. Bước vào trận chung kết với Murray, Djokovic nhập cuộc không tốt khiến anh để thua set đầu tiên với tỉ số 3-6. Không để cái dớp trở lại, Djokovic bừng tỉnh và thi đấu xuất sắc trong 3 set đấu tiếp theo. Sau 3h03' thi đấu Djokovic vượt qua Murray với tỉ số 3-6,6-1,6-2,6-4 qua đó lần đầu tiên đăng quang ngôi vô địch Giải quần vợt Pháp mở rộng. Chức vô địch này giúp Djokovic trở thành tay vợt thứ 8 trong lịch sử và thứ 5 tính từ Kỷ nguyên mở rộng hoàn tất bộ sưu tập Grand Slam sự nghiệp. Djokovic cũng trở thành tay vợt đầu tiên sau 46 năm (Rod Laver - 1969) vô địch liên tiếp 4 giải Grand Slam khác nhau. Thành tích này của Djokovic được gọi là "Nole Slam".

Sau đó Djokovic thi đấu không thành công tại Wimbledon khi bị loại ở vòng 3 bởi Sam Querrey. Djokovic mở đầu US Open Series tại Rogers Cup và giành ngôi vô địch. Tuy nhiên sau đó anh bị loại tại vòng 1 Olympic Rio bởi Juan Martin del Potro sau hai loạt tie-break. Đây mới là lần đầu tiên kể từ tháng 1/2009 mà Djokovic bị loại từ trận vòng 1 của một giải đấu. Anh rút lui khỏi giải Cincinnati - Master duy nhất còn thiếu trong sự nghiệp vì chấn thương cổ tay.

Tới US Open với chấn thương cổ tay, Djokovic trải qua Grand Slam kì lạ nhất sự nghiệp với việc lọt vào bán kết năm thứ 10 liên tiếp sau chưa đầy 10 set đấu sau khi các đối thủ Jiri Vesely rút lui ở vòng 2, Mikhail Youzhny bỏ cuộc tại vòng 3 khi tỉ số set 1 đang là 4-2 nghiêng về Djokovic và Jo-Wilfried Tsonga bỏ cuộc khi đang bị Djokovic dẫn trước 2-0 (6-3, 6-2). Tại bán kết, Djokovic đánh bại Gaels Monfils trong vòng 4 set và sẽ gặp Stan Wawrinka tại trận chung kết.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (12)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Úc Mở rộng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 4–6, 6–4, 6–3, 7–62
2011 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–4, 6–2, 6–3
2011 Wimbledon Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3, 6–1, 1-6, 6-4
2011 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2, 6–4, 6-7, 6-1
2012 Úc Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7, 6–4, 6–2, 6-7, 7-5
2013 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6-72, 7-63, 6-3, 6-2
2014 Wimbledon Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–77, 6–4, 7–64, 5–7, 6–4
2015 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 7-6, 6-7, 6-4, 6-0
2015 Wimbledon Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7-6, 6-7, 6-4, 6-3
2015 Mỹ mở rộng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6-4; 5-7; 6-4; 6-4
2016 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6-1; 7-5; 7-63
2016 Pháp mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 3-6; 6-1; 6-2; 6-4

Á quân (8)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2007 Mỹ Mở rộng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–74, 6–72, 4–6
2010 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 7-5, 4–6, 2–6
2012 Pháp Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4-6, 3-6, 6–2, 5–7
2012 Mỹ Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–710, 5-7, 6-2, 6-3, 2-6
2013 Wimbledon Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 4-6, 5-7, 4-6
2013 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2 3–6 6–4 6–1
2014 Pháp Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3, 5–7, 2–6, 4–6
2015 Pháp mở rộng Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6-4, 5-7, 4-6, 4-6

Masters Cup / ATP World Tour Finals[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (5)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Masters Cup Flag of Russia.svg Nikolay Davydenko 6–1, 7–5
2012 ATP World Tour Finals Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7–68, 7–5
2013 ATP World Tour Finals Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3 6–4
2014 ATP World Tour Finals Flag of Switzerland.svg Roger Federer bỏ cuộc
2015 ATP World Tour Finals Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6-3, 6-4

ATP Masters Series / ATP World Tour Masters 1000[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (29)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
1 2007 Miami Masters Flag of Argentina.svg Guillermo Canas 6–3, 6–2, 6–4
2 2007 Rogers Cup, Montreal Thụy Sĩ Roger Federer 7–6(2), 2–6, 7–6(2)
3 2008 Indian Well Hoa Kỳ Mardy Fish 2-6,7-5,3-6
4 2008 Internazionali d'Italia, Roma Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 4–6, 6–3, 6–3
5 2009 Paris Pháp Gael Monfils 6-2, 5-7, 7-6(3)
6 2011 Indian Wells Masters Tây Ban Nha Rafael Nadal 4-6, 6-3, 6-2
7 2011 Miami Masters Tây Ban Nha Rafael Nadal 4-6, 6-3, 7-6(4)
8 2011 Madrid Masters Tây Ban Nha Rafael Nadal 7-5, 6-4
9 2011 Rome Masters Tây Ban Nha Rafael Nadal 6-4, 6-4
10 2011 Rogers Cup, Montreal Hoa Kỳ Mardy Fish 6-2, 3-6, 6-4
11 2012 Miami Masters Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6, 7–6(7–1)
12 2012 Rogers Cup, Toronto Pháp Richard Gasquet 6-2, 3-6, 6-4
13 2012 Thượng Hải Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 5-7, 7–6(13–11),6-3
14 2013 Monte Carlo Tây Ban Nha Rafael Nadal 6–2, 7–6(7–1)
15 2013 Thượng Hải Flag of Argentina.svg Juan Martin Del Potro 6–1, 3-6, 7–6(7–3)
16 2013 Paris Tây Ban Nha David Ferrer 7-5, 7-5
17 2014 Indian Wells Masters Thụy Sĩ Roger Federer 3-6, 6-3, 7-6(3)
18 2014 Miami Masters Tây Ban Nha Rafael Nadal 6-3, 6-3
19 2014 Internazionali d'Italia, Roma Tây Ban Nha Rafael Nadal 4-6, 6-3, 6-3
20 2014 Paris Canada Milos Raonic 6-2, 6-3
21 2015 Indian Wells Masters Thụy Sĩ Roger Federer 6-3, 6-7(5-7), 6-2
22 2015 Miami Masters Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 7-5, 4-6, 6-0
23 2015 Monte Carlo Cộng hòa Séc Tomáš Berdych 7–5, 4–6, 6–3
24 2015 Internazionali d'Italia, Roma Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 6-3
25 2015 Thượng Hải Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 6-2, 6-4
26 2015 Paris Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-2, 6-4
27 2016 Indian Wells Masters Canada Milos Raonic 6-2, 6-0
28 2016 Miami Masters Nhật Bản Kei Nishikori 6-3, 6-3
29 2016 Madrid Masters Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-2, 3-6, 6-3

Á quân (13)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2007 Indian Wells Flag of Spain.svg Rafael Nadal 2-6, 5-7
2008 Cincinnati Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 7-64, 7-65
2009 Miami Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 2-6,5-7
2009 Monte Carlo Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3-6,6-2,1-6
2009 Rome Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6-7,2-6
2009 Cincinnati Flag of Switzerland.svg Roger Federer 1-6,5-7
2011 Cincinnati Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandAndy Murray 4-6,0-3
2012 Monte Carlo Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3-6,1-6
2012 Rome Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7,3-6
2012 Cincinnati Flag of Switzerland.svg Roger Federer 0-6, 6-7(7–9)
2015 Montréal Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandAndy Murray 4-6, 6-4, 3-6
2015 Cincinnati Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6-7(1–7), 3-6
2016 Rome Andy Murrray 3-6,3-6

Toàn bộ (90)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (66)[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng kết
Grand Slam (12-8)
Tennis Masters Cup/ATP World Tour Final (5-0)
ATP Masters Series (29-13)
ATP Tour (20-6)
Số Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở chung kết Tỉ số
1. 23 tháng 7, 2006 Amersfoort, Hà Lan Đất nện Flag of Chile.svg Nicolás Massú 7-6(5), 6-4
2. 8 tháng 10, 2006 Metz, Pháp Cứng Flag of Austria.svg Jürgen Melzer 4-6 6-3 6-2
3. 7 tháng 1, 2007 Adelaide, Úc Cứng Flag of Australia.svg Chris Guccione 6-3, 6-7(6), 6-4
4. 1 tháng 4, 2007 Miami Masters, Hoa Kỳ Cứng Flag of Argentina.svg Guillermo Cañas 6-3, 6-2, 6-4
5. 6 tháng 5, 2007 Estoril, Bồ Đào Nha Đất nện Flag of France.svg Richard Gasquet 7-6, 0-6, 6-1
6. 12 tháng 8, 2007 Montreal Masters, Canada Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7-6, 2-6, 7-6
7. tháng 10, 2007 Viên, Áo Cứng Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6-4, 6-0
8. 27 tháng 1, 2008 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 4-6, 6-4, 6-3, 7-6
9. 23 tháng 3, 2008 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Hoa Kỳ Maddy Fish 6-2, 5-7, 6-3
10. 11 tháng 5, 2008 Master Rome, Ý Đất nện Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 4-6, 6-3, 6-3
11. 16 tháng 11, 2008 Master Cup, Trung Quốc Cứng Flag of Russia.svg Nicolay Davydenko 6-1, 7-5
12. 28 tháng 2, 2009 Dubai Tennis C., UAE Cứng Flag of Spain.svg David Ferrer 7-5, 6-3
13. 10 tháng 5, 2009 Serbia Mở rộng, Serbia Cứng Ba Lan Lukasz Kubot 6-3, 7-6
14. 5 tháng 10, 2009 China Open, Trung Quốc Cứng Croatia Marin Cilic 6-2, 7-6
15. 8 tháng 11, 2009 Davidoff Swiss Indoors, Thụy Sĩ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 4-6, 6-2
16. 15 tháng 11, 2009 BNP Paribas Masters, Pháp Cứng Flag of France.svg Gael Monfils 6-2, 5-7, 7-6
17. 28 tháng 2, 2010 Dubai Tennis C., UAE Cứng Flag of Russia.svg Mikhail Youzhny 7-5, 5-7, 6-3
18. 10 tháng 10, 2010 Bắc Kinh,Trung Quốc Cứng Flag of Spain.svg David Ferrer 6–2, 6–4
19. 30 tháng 1, 2011 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6-4, 6-2, 6-3
20. 26 tháng 2, 2011 Dubai, UAE Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–3, 6–3
21. 20 tháng 3, 2011 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 6–3, 6–2
22. 3 tháng 4, 2011 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 6–3, 7–6(4)
23. 1 tháng 5, 2011 Beograd, Serbia Cứng Flag of Spain.svg Feliciano López 7–6(4), 6–2
24. 8 tháng 5, 2011 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 7–5, 6–4
25. 15 tháng 5, 2011 Roma, Ý Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–4, 6–4
26. 3 tháng 7, 2011 Wimbledon, Anh Cỏ Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–4, 6–1, 1–6, 6–3
27. 14 tháng 8, 2011 Montreal, Canada Cứng Flag of the United States.svg Mady Fish 6–2, 3–6, 6–4
28. 12 tháng 9, 2011 Mỹ Mở rộng, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2, 6–4, 6–7(3), 6–1
29. 29 tháng 1, 2012 Úc mở rộng, Úc Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7, 6-4, 6-2, (5)6-7, 7-5
30. 1 tháng 4, 2012 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–1, 7–6(4)
31. 2012 Montreal Masters, Canada Cứng Pháp Richard Gasquet 6-2, 3-6, 6-4
32. 2012 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 5-7, 7–6(13–11) ,6-3
33. 2012 ATP World Tour Final, Vương quốc Anh Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 7–68, 7–5
34. 2013 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6-72, 7-63, 6-3, 6-2
35. 2013 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2, 7–6(7–1)
36. 2013 BNP Paribas Masters, Pháp Cứng Tây Ban Nha David Ferrer 7-5, 7-5
37. 2013 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Argentina Juan Martin Del Potro 6–1, 3-6, 7–6(7–3)
38. 2013 ATP World Tour Final, Vương quốc Anh Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3 6–4
39. 2014 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 3-6, 6-3, 7-6(3)
40. 2014 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6-3, 6-3
41. 2014 Roma, Ý Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4-6, 6-3,6-3
42. 2014 BNP Paribas Masters, Pháp Cứng Canada Milos Raonic 6-2, 6-3
43. 2014 Wimbledon, Anh Cỏ Thụy Sĩ Roger Federer 6–77, 6–4, 7–64, 5–7, 6–4
44. 2014 ATP World Tour Final, Vương quốc Anh Cứng Thụy Sĩ Roger Federer Bỏ cuộc
45. 2015 Úc mở rộng, Úc Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 7-6, 6-7, 6-4, 6-0
46. 2015 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 6-3 6-7(5-7) 6-2
47. 2015 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 7-5, 4-6, 6-0
48. 2015 Monte Carlo, Monaco Đất nện Cộng hòa Séc Tomáš Berdych 7–5, 4–6, 6–3
49. 2015 Roma, Ý Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 6-3
50. 2015 Wimbledon, Anh Cỏ Thụy Sĩ Roger Federer 7-6, 6-7, 6-4, 6-3
51. 2015 Mỹ Mở rộng, Hoa Kỳ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 6-4; 5-7; 6-4; 6-4
52. 2015 China Open, Trung Quốc Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6-2, 6-2
53. 2015 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 6-2,6-4
54. 2015 BNP Paribas Masters, Pháp Cứng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-2,6-4
55. 2015 ATP World Tour Final, Vương quốc Anh Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 6-3,6-4
56. 2016 Qatar Open, Doha, Qatar Cứng Tây Ban Nha Rafael Nadal 6-1,6-2
57. 2016 Úc mở rộng, Úc Cứng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-1,7-5,7-6(7-3)
58. 2016 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Canada Milos Raonic 6-2,6-0
59. 2016 Miami, Hoa Kỳ Cứng Nhật Bản Kei Nishikori 6-3,6-3
60. 2016 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-2,3-6,6-3
61. 2016 Paris, Pháp Đất nện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 3-6,6-1,6-2,6-4

Á quân đơn (23)[sửa | sửa mã nguồn]

TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở vòng chung kết Điểm số
1. 30 tháng 7, 2006 Umag, Croatia Nện Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6–6(1),nghỉ
2. 18 tháng 3, 2006 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 2–6, 5–7
3. 9 tháng 9, 2007 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–7(4), 6–7(2), 4–6
4. 15 tháng 6, 2008 London (Queen's Club),, Anh Cỏ Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–7(6), 5–7
5. 3 tháng 8, 2008 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–7(4), 6–7(5)
6. 28 tháng 9, 2008 Bangkok, Thái Lan Cứng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 6–7(4), 4–6
7. 5 tháng 4, 2009 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 2–6, 5–7
8. 19 tháng 4, 2009 Monte Carlo, Monaco Nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3–6, 6–2, 1–6
9. 3 tháng 5, 2009 Roma, Ý Nện Flag of Spain.svg [Rafael Nadal 6–7(2), 2–6
10. 16 tháng 6, 2009 Halle, Đức Cỏ Flag of Germany.svg Tommy Haas 3–6, 7–6(4), 1–6
11. 23 tháng 8, 2009 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 1–6, 5–7
12. 12 tháng 9, 2010 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 7–5, 4–6, 2–6
13. 8 tháng 11, 2010 Basel, Thụy Sĩ Cứng (i) Flag of Switzerland.svg Roger Federer 4–6, 6-3, 1–6
14. 21 tháng 8, 2011 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 4–6, 0–3 bỏ cuộc
15. 22 tháng 4, 2012 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3–6, 1–6
16. 21 tháng 5, 2012 Rome, Italia Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5–7, 3–6
17. 11 tháng 6, 2012 Giải quần vợt Pháp Mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 3–6, 6–2, 5–7
18 2012 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–710, 5-7, 6-2, 6-3, 2-6
19 2013 Wimbledon, Anh Cỏ Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 4-6, 5-7, 4-6
20 2013 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2 3–6 6–4 6–1
21 2014 Giải quần vợt Pháp Mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3, 5–7, 2–6, 4–6
22 2015 Giải quần vợt Pháp Mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6-4, 5-7, 4-6, 4-6
23 2015 Dubai, UAE Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6-3, 7-5

Thu nhập từ thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Grand Slams Vô địch ATP Tổng cộng Thu nhập ($) Xếp hạng tiền thưởng
2003 0 0 0 2.704 937
2004 0 0 0 40.790 292
2005 0 0 0 202.416 114
2006 0 2 2 644.940 28
2007 0 5 5 3.927.700 3
2008 1 3 4 5.689.078 2
2009 0 5 5 5,476,472 3 [8]
2010 0 2 2 4.278.856 3 [8]
2011 3 7 10 12.595.803 1 [8]
2012 1 5 6 12.803.739 1 [8]
2013 1 6 7 12.447.947 2
2014 1 6 7 14.269.463 1
2015 3 8 11 21.646.145 1
2016 (đến 06/06/2016) 2 4 6 8.367.350 1
Career 12 53 65 101.917.404 1

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Anh lập gia đình với Jelena Ristic vào tháng 7/2014 tại khu resort thơ mộng trên hòn đảo Sveti Stefan thuộc Montenegro, Hai người sau đó đã có 1 bé trai mang tên Stefan Djokovic.[9]

Djokovic lập ra một tổ chức từ thiện mang chính tên anh: Novak Djokovic Foundation.

Djokovic được các đồng nghiệp và người hâm mộ đánh giá là một trong những tay vợt vui tính và hài hước nhất của làng banh nỉ thế giới, biệt danh "Djoker" đã nói lên điều đó. Djokovic có sở thích thường hay bắt trước các đồng nghiệp như Rafael Nadal, Maria Sharapova, Serena Williams,... và thường pha trò hài hước, gây tiếng cười cho khán giả. Bên cạnh đó anh cũng là một tay vợt khá nóng tính khi thi đấu, điển hình là hay đập vợt khi thi đấu không tốt, nhưng có vẻ chính hành động này lại khiến Djokovic tập trung hơn sau đó và thi đấu thăng hoa.

Hiện tại Djokovic sử dụng vợt của Head, trang phục thi đấu của Uniqlo và giày của Adidas

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2011[sửa | sửa mã nguồn]

- 10 là số danh hiệu mà Djokovic giành được trong mùa, trong đó có 3 danh hiệu Grand Slam (Úc Mở rộng, WimbledonHoa Kỳ Mở rộng) và cả 5 ngôi vô địch ở các giải Masters 1000 (Indian Wells, Key Biscayne, Madrid Masters, Roma MastersCúp Rogers).

- 70 là số trận thắng trong mùa của Djokovic, trong đó, anh từng tạo ra chuỗi 43 trận thắng liên tiếp từ đầu mùa cho đến bán kết Roland Garros (nơi anh bị chặn đứng bởi Federer); Djokovic cũng chỉ thua có 6 trận trong mùa (trong đó có 2 trận thua tại ATP World Tour Finals vào cuối năm - một giải đấu mà anh tham gia "lấy lệ" và nhanh chóng buông vợt khá chóng vánh trước David FerrerJanko Tipsarević). Thành tích này của Djokovic được xác nhận chỉ thua thành tích của John McEnroe trong mùa giải 1984 với 82 trận thắng và 3 trận thua.

- 1 và 16.145 là thứ hạng và điểm số của Djokovic trên bảng điểm xếp hạng của ATP - đây là số điểm kỷ lục đối với một tay vợt từ khi ATP thay đổi hệ số tính điểm vào năm 2009; xếp ngay sau Djokovic lần lượt là NadalFederer với những con số tương ứng lần lượt là 2 và 9.595; 3 và 8.170.

- 14,418,664$ là số tiền thưởng mà Djokovic giành được trong mùa; đây là số tiền thưởng kỷ lục mà một tay vợt thắng được trong mùa giải; kỷ lục của Djokovic đã vượt qua số tiền thưởng 10,1 triệu USD của Nadal (mùa giải 2010) và Federer (mùa giải 2007).[10]

- 6 là số trận toàn thắng trước Nadal ở chung kết các giải đấu trong mùa, Djokovic đã khiến cho Nadal nếm trải thứ cảm giác khó khăn mà anh từng buộc Federer phải chịu đựng trong ngần ấy năm.

Mùa giải 2013[sửa | sửa mã nguồn]

- Với chức vô địch Úc mở rộng, Djokovic trở thành tay vợt đầu tiên từ kỷ nguyên Mở vô địch 3 lần liên tiếp tại đây. Với 4 chức vô địch tổng cộng, anh cũng san bằng kỷ lục trước đó của Agassi và Federer[11].

Mùa giải 2015[sửa | sửa mã nguồn]

- Djokovic trở thành tay vợt đầu tiên và duy nhất vô địch liên tiếp 3 giải Master 1000 đầu năm là Indian Well, MiamiMonte Carlo, sau 2 chức vô địch Roma Master, Thượng Hải Master và Paris Master anh đã có 26 chức vô địch giải Master vượt qua Federer (24 master 1000), chỉ còn kém Nadal với 27 lần.[12]

- Djokovic là người đầu tiên trong làng quần vợt chuyên nghiệp vượt qua cột mốc 21 triệu USD tiền thưởng chỉ trong một mùa giải, kỷ lục tiền thưởng trong 1 mùa giải trước đây thuộc về Rafael Nadal, với 14,5 triệu USD vào năm 2013. Tuy nhiên, ở phong độ hiện tại, Djokovic thực sự là vua trên mọi mặt sân và anh đã dễ dàng phá vỡ kỷ lục của Nadal.[13]

- Anh là tay vợt duy nhất đến năm 2015 vô địch 6 giải Master 1000 trong cùng một năm, kỷ lục trước đây chỉ là 5 giải của chính anh năm 2011 và Nadal năm 2013.Anh cũng lập kỷ lục khác là tay vợt duy nhất vô địch Paris Master 1000 ba lần liên tiếp.[14]

- Năm 2015, sau khi vô địch ATP world Tour Final, anh đã lập kỷ lục dự 15 trận chung kết, vô địch 11 giải, đồng thời anh lập kỷ lục vô địch ATP Final 4 năm liên tiếp, anh đã vô địch giải này 5 lần và hiện anh chỉ còn kém kỷ lục 6 lần vô địch của Federer trong quá khứ.[15]

Mùa giải 2016[sửa | sửa mã nguồn]

- Với chức vô địch tại Australian Open, Djokovic chính thức cân bằng số chức vô địch 6 lần của huyền thoại Roy Emerson, còn tính riêng trong kỷ nguyên mở rộng anh là tay vợt thành công nhất tại giải đấu này.

- Với chức vô địch giải Master 1000 là Indianwell anh chính thức san bằng kỷ lục của Rafael Nadal với 27 chức vô địch Master 1000

- Sau chức vô địch Miami Masters 2016, Djokovic trở thành tay vợt sở hữu nhiều danh hiệu ATP Masters 1000 nhiều nhất trong lịch sử quần vợt thế giới với 28 danh hiệu, cũng với chức vô địch này anh thiết lập nên kỷ lục tay vợt duy nhất trong lịch sử vô địch hai Masters 1000 đầu năm trong ba năm liên tiếp.

- Sau khi giành quyền vào tứ kết của giải quần vợt Pháp mở rộng, Djokovic trở thành tay vợt đầu tiên trong lịch sử quần vợt thế giới giành được 100 triệu USD tiền thưởng từ thi đấu.

- Với chức vô địch Pháp mở rộng 2016, anh là tay vợt thứ hai sau 46 năm giành chức vô địch cả bốn giải Grand Slam khác nhau liên tiếp (Wimbledon 2015, Mỹ mở rộng 2015, Úc mở rộng 2016 và Pháp mở rộng 2016).

Đối đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic là tay vợt duy nhất trong nhóm big four có tỉ lệ đối đầu chiến thắng các đối thủ còn lại, anh lần lượt dẫn trước Federer (23-22) Nadal (25-23)và Murray (22-9). Ban đầu anh hoàn toàn lép vế trong đối đầu với Federer và Nal, anh toàn thua cặp đôi đó tại ngưỡng cửa thiên đường như là bán kết hay chung kết đến nổi anh thốt lên rằng " Tôi sinh nhầm thời", bước ngoặt của Djokovic bắt đầu mùa giải 2011, mùa giải mà anh bắt đầu thực hiện chế độ dinh dưỡng không Gluten để nâng cao thể lực thì anh bắt đầu giành chiến thắng thu hẹp khoảng cách và vượt lên trên cả Nadal và Federer, cũng trong năm này anh phá vỡ thế thống trị thế giới của họ và vuơn lên đứng số 1 thế giới trong đó có 7 chiến thắng liên tiếp trong 7 trận chung kết trước Nadal

Với Roger Federer (Djokovic dẫn 23-22)

Djokovic có thành tích đối đầu cân bằng với Federer, tính hết năm 2015, cả hai đã gặp nhau tổng công 44 lần với tỷ số cân bằng là 22-22, những năm đầu từ 2007 - 2010, chiến thắng nghiêng về Federer, tuy nhiên bắt đầu từ mùa giải 2011, phần thắng lại nghiêng về Djokovic nhiều hơn, trong năm 2015 hay tay vợt gặp nhau tổng cộng 08 lần với phần thắng nghiêng vì Djokovic 05 lần toàn là các trận chung kết lớn, Federer thắng 3 lần trong đó có 01 lần chung kết Master 1000.

Vào năm 2016, với một phong độ giữ vững như năm ngoái, tại giải Grand Slam đầu tiên trong năm - Úc Mở rộng, tại bán kết, Djokovic gặp Federer và anh chiến thắng sau 4 sét và vượt lên trên Federer để dẫn trước với tỉ số 23-22.

Với Rafael Nadal (Djokovic dẫn 26-23)

Trận chung kết Mỹ mở rộng 2011 giữa Djokovic và Nadal

Cũng giống như Federer, Djokovic có tỷ lệ đối đầu với Nadal là cân bằng, 23-23. Cuộc đối đầu giữa Djokovic và Nadal có phần căng thẳng và kịch tính hơn so với cuộc đối đầu giữa Nadal và Federer. Djokovic là tay vợt duy nhất có tỷ lệ đối đầu không lép vế Nadal so với các tay vợt còn lại đang thi đấu hoặc đã giải nghệ, tuy nhiên tỷ lệ này có thể thay đổi theo chiều hướng nghiêng về Djokovic vì Nadal ngày càng sa sút và đánh mất phong độ, trong năm 2015 cả hai chạm trán nhau đến 4 lần với toàn thắng cho Djokovic.

Bước qua năm 2016, với chiến thắng 6-1,6-2 trong trận chung kết ATP 250 Qatar Open, anh đã lần đầu tiên trong sự nghiệp dẫn trước Nadal với tỷ số 24-23.[16] Tiếp tục chiến thắng Nadal tại bán kết Indian Wells, Djokovic gia tăng thành tích đối đầu giữa anh và Nadal lên con số 25-23 nghiêng về Djokovic.

Với Andy Murray (Djokovic dẫn 24-10)

Djokovic có tỷ lệ đối đầu áp đảo đối với Murray, cụ thể đến hết năm 2015 cả hai tay vợt này gặp nhau tổng cộng 31 lần với 22 lần chiến thắng cho Djokovic, kể từ Wimbledon 2013 đến hết 2015, Murray chỉ một lần chiến thắng trong số 11 lần hai tay vợt đối đầu nhau, lối đánh của hay tay vợt khá tương đồng nhưng Djokovic bản lĩnh hơn trong những thời điểm quyết định nên hoàn toàn chiếm ưu thế.Theo lời cha của Djokovic Murray đã phí phạm tài năng khi không giữ được bình tĩnh và cái đầu lạnh cần thiết trong những trận cầu quan trọng.

Lối đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic lấy lối đánh chủ động dưới vạch Basseline làm chủ động, anh ít khi lên lưới trừ những lúc dồn ép được đối thủ hoặc giao bóng lên lưới để làm bất ngờ cho đối thủ, còn lại anh chủ yếu tấn công từ cuối sân, lối đánh của anh được xem là thông minh nhất trong số các tay vợt còn thi đấu, theo thống kê trong mổi trận đấu quảng đường di chuyển của anh cũng ít hơn Roger Federer và Rafael Nadal, điểm số dành được trên mổi met di chuyển cũng ít hơn nên thật dễ hiểu khi thể lực của anh bao giờ cũng sung sức hơn, anh ít khi vị chấn thương không như Nadal luôn bị chấn thương hành hạ do lối đánh dùng quá nhiều sức.

Anh rất chuộng cú bỏ nhỏ, trong mổi trận đấu anh thường thắng điểm bất ngờ từ cú bỏ nhỏ sát lưới, Djokovic thường thực hiện cú bỏ nhỏ từ cuối sân để gây bất ngờ cho đối thủ, khác với Nadal thường thực hiện cú bỏ nhỏ khi đã di chuyển vào trong sân và Federer thực hiện cú bỏ nhỏ như là cú cắt trái bóng ngắn

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Novak Djokovic”. atpworldtour.com. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ “Djokovic cân bằng kỷ lục 6 danh hiệu Australian Open”. 
  3. ^ The winners of the 2012 Laureus World Sports Awards are…, Serbia's Novak Djokovic was acclaimed Laureus World Sportsman of the Year after his remarkable 2011 when he won three Grand Slam events - the Australian Open, Wimbledon and the US Open - and took away the tennis world No 1 ranking from Rafael Nadal.
  4. ^ “Novak Djokovic has been named the Laureus World Sportsman of the Year at a ceremony on Wednesday in Shanghai, China.”. 
  5. ^ “Djokovic lần thứ 3 liên tiếp vô địch Australia mở rộng”. 
  6. ^ “Ông vua mới của ATP Masters 1000”. 
  7. ^ “Hạ Murray, Djokovic độc chiếm ngôi "Vua Masters". 
  8. ^ a ă â b http://www.atpworldtour.com/~/media/83CECA5E6E40428D83464B7828CC4043.ashx
  9. ^ “Vợ chồng Djokovic đón con trai đầu lòng.”. 
  10. ^ Djokovic lập kỷ lục tiền thưởng quần vợt
  11. ^ Hủy diệt Murray, Djokovic đi vào lịch sử
  12. ^ “Vô địch Monte Carlo Masters, Djokovic lập kỷ lục mới”. 
  13. ^ “Djokovic lập kỷ lục về tiền thưởng”. 
  14. ^ “Djokovic lập kỷ lục giành sáu Masters 1000 trong một năm”. 
  15. ^ “Djokovic vô địch ATP World Tour Final 2015, xác lập kỷ lục mới.”. 
  16. ^ “Djokovic vượt lên tỷ số đối đầu với Nadal”.