Alexander Zverev

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Alexander Zverev
Zverev A. WM16 (37) (27801537234).jpg
Tên đầy đủAlexander Zverev [a]
Quốc tịch Đức
Nơi cư trúMonte Carlo, Monaco
Sinh20 tháng 4, 1997 (22 tuổi)
Hamburg, Đức
Chiều cao2,00 m
Lên chuyên nghiệp2013
Tay thuậnTay phải (trái tay hai tay)
Huấn luyện viênAleksandr Mikhailovich Zverev
Juan Carlos Ferrero[1]
Tiền thưởng5.503.515 $
Đánh đơn
Thắng/Thua109–63 (63.37%)
Số danh hiệu6
Thứ hạng cao nhất4 (11 tháng 9 năm 2017)
Thứ hạng hiện tại4 (2 tháng 10 năm 2017)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngV3 (2017)
Pháp mở rộngV3 (2016)
WimbledonV4 (2017)
Mỹ Mở rộngV2 (2016, 2017)
Đánh đôi
Thắng/Thua22–26 (45.83%)
Số danh hiệu1
Thứ hạng cao nhất89 (26 tháng 6 năm 2017)
Thứ hạng hiện tại98 (2 tháng 10 năm 2017)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Pháp Mở rộngV1 (2016)
Giải đồng đội
Davis CupV1 (2016, 2017)
Hopman CupVòng bảng (2016, 2017)
Cập nhật lần cuối: 2 tháng 10 năm 2017.

Alexander "Sascha" Zverev[2] ([ˌalɛˈksandɐ ˈzaʃa ˈt͡sfɛʁɛf];[3][4][5] tiếng Nga: Александр Зверев,[a] IPA: [ɐlʲɪˈksandr ˈzvʲerʲɪf]; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1997) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Đức. Anh hiện đang là người trẻ nhất trong top 30 ATP.[6][7] Anh là con của cựu tay vợt người Nga Aleksandr Mikhailovich Zverev và là em trai của tay vợt Mischa Zverev.

Vào tháng 5 năm 2017, Zverev vào tốp 10 lần đầu tiên sau khi đánh bại Novak Djokovic ở chung kết của Ý Mở rộng 2017, do đó là danh hiệu Masters 1000 đầu tiên trong sự nghiệp.[8] Anh đã giành được danh hiệu Masters 1000 thứ hai liên tiếp khi anh đánh bại Roger Federer tại Canada Masters 2017, cuối cùng anh đạt được vị cao nhất trong sự nghiệp hiện giờ là thứ 4 Thế giới.[9]

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev sinh năm 1997 ở Hamburg, Đức. Cả cha và mẹ của anh, Aleksandr và Irina đều là cựu tay vợt Nga; cha anh thi đấu chuyên nghiệp cho Liên Xô. Anh trai của Zverev, Mischa, cũng là một tay vợt chuyên nghiệp.

Sự nghiệp thời thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 10 năm 2013 tới tháng 6 năm 2014, Zverev là tay vợt trẻ số 1 thế giới. Là một tay vợt trẻ, anh đã giành được kỷ lục thắng/thua là 96-35.[10]

Zverev lọt vào trận chung kết của Pháp Mở rộng trẻ 2013, thua trước Christian Garín.[11] Sau khi thua ở vòng ba của giải Wimbledon trẻ 2013, anh lọt vào trận bán kết của Mỹ Mở rộng trẻ 2013 và để thua nhà vô địch lúc đó, Borna Ćorić.[12]

Zverev vô địch Úc Mở rộng trẻ 2014 với vị trí hạt giống số 1, đánh bại hạt giống số 2, Stefan Kozlov ở chung kết.[13]

Sự nghiệp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2017: Top năm bảng xếp hạng và 2 danh hiệu Masters[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev bắt đầu năm mới bằng việc gặt hái kết quả tốt nhất của mình tại Grand Slam vào thời điểm đó, rơi vào vòng 3 của Úc Mở rộng để thi đấu với á quân Rafael Nadal trong trận đấu 5 set.[14] Zverev đã đánh bại Robin HaaseFrances Tiafoe, trong những lượt đầu tiên và thứ hai tương ứng để đạt được người Tây Ban Nha. Zverev đại diện cho Đức ở vòng đấu đầu tiên của Davis Cup, thua Steve Darcis sau khi giành chiến thắng trước Arthur De Greef, chiến thắng đầu tiên của anh tại Davis Cup. Trong lần xuất hiện thứ hai của mình tại giải Open Sud de France, Zverev đã giành danh hiệu đầu tiên trong năm của mình đánh bại Richard Gasquet trong các sét trắng. Zverev và anh trai của ông cũng giành chức vô địch đôi tại Montpellier, đánh bại Fabrice MartinDaniel Nestor.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev với anh trai, Mischa (phải), năm 2013

Nơi ở chính của Zverev là Monte Carlo. Anh cũng sống ở Hamburg và Florida.[2] Sở thích của anh là chơi golfbóng rổ. Anh nói rằng mình là một fan hâm mộ bóng rổ và là cổ động viên của Miami Heat.[2][15] Roger Federer là thần tượng của anh.[2]

Zverev nói tiếng Đức, tiếng Ngatiếng Anh.[16]

Thống kế sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; hoặc (NH) giải không tổ chức.
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.

Đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tournament 2013 2014 2015 2016 2017 SR T_B % thắng
Giải đấu Grand Slam
Úc Mở rộng A A Q1 V1 V3 0 / 2 2-2 50%
Pháp Mở rộng A A Q2 V3 V1 0 / 2 2-2 50%
Wimbledon A A V2 V3 V4 0 / 3 6-3 67%
Mỹ Mở rộng A Q2 V1 V2 V2 0 / 3 2-3 40%
Thắng-Thua 0-0 0-0 1-2 5-4 6-4 0 / 10 12-10 52%

Thống kế sự nghiệp Alexander Zverev

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă tiếng Nga: Александр Александрович Зверев, chuyển tự. Aleksandr Aleksandrovich Zverev

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “#NextGenATP Alexander Zverev Surprises, Impresses New Coach Juan Carlos Ferrero”. Truy cập 7 tháng 10 năm 2017. 
  2. ^ a ă â b Alexander Zverev exklusiv: „Ich liebe die große Bühne“ (bằng tiếng Đức). Phỏng vấn bởi Inga Radel. Tennisnet.com. Ngày 6 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ Wie Alexander Zverev zum Weltstar gemacht wird. welt.de (bằng tiếng Đức) (WeltN24 GmbH). Ngày 26 tháng 6 năm 2016. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:07. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017. 
  4. ^ Alexander Zverev erobert die Tennis-Top-Ten. welt.de (bằng tiếng Đức) (WeltN24 GmbH). Ngày 22 tháng 5 năm 2017. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:03. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017. 
  5. ^ Deutscher Tennisstar - Alexander Zverev gewinnt die BMW Open. welt.de (bằng tiếng Đức) (Munich Television). Ngày 9 tháng 5 năm 2017. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:16. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017. 
  6. ^ “Alexander Zverev ATP Profile”. ATP. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  7. ^ “Alexander Zverev ITF Tennis Pro Circuit Profile”. ITF Tennis. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  8. ^ “Zverev Puts On Serving Clinic For Rome Title”. ATP. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017. 
  9. ^ Pachelli, Nick (ngày 27 tháng 8 năm 2017). “The Rise of Alexander Zverev”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017. 
  10. ^ “Alexander Zverev ITF Tennis Junior Profile”. ITF Tennis Junior. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ “ITF: 2013 junior champions crowned at roland garros”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  12. ^ “ITF: Head to head results”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  13. ^ “ABC: Alexander Zverev wins 2014 Australian Open boys' title”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  14. ^ Ubha, Ravi. “Australian Open 2017: Nadal beats Zverev in four-hour epic”. edition.cnn.com. Cable News Network. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017. 
  15. ^ “Getting to know...Alexander Zverev”. ITFTennis.com. Ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2014. 
  16. ^ “Alexander Zverev Bio”. ATP. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Canada Filip Peliwo
ITF Junior World Champion
2013
Kế nhiệm:
Nga Andrey Rublev
Tiền nhiệm:
Croatia Borna Ćorić
ATP Star of Tomorrow
2015
Kế nhiệm:
Hoa Kỳ Taylor Fritz