Alexander Zverev

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Alexander Zverev
Zverev RG21 (23) (51376278168).jpg
Zverev tại Pháp mở rộng 2021
Quốc tịch Đức
Nơi cư trúMonte Carlo, Monaco
Sinh20 tháng 4, 1997 (25 tuổi)[1]
Hamburg, Germany
Chiều cao1,98 m
Lên chuyên nghiệp2013
Tay thuậntay phải (trái 2 tay)
Huấn luyện viênAlexander Zverev Sr.
Tiền thưởngUS$26,797,250[2]
Đánh đơn
Thắng/Thua298–138 (68.35%) (at ATP Tour level, Grand Slam level, and in Davis Cup)
Số danh hiệu17
Thứ hạng cao nhấtNo. 3 (6 tháng 11, 2017)
Thứ hạng hiện tạiNo. 4 (23 tháng 8, 2021)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngSF (2020)
Pháp mở rộngSF (2021)
Wimbledon4R (2017, 2021)
Mỹ Mở rộngF (2020)
Các giải khác
ATP Tour FinalsW (2018)
Thế vận hộiGold medal olympic.svg (2020)
Đánh đôi
Thắng/Thua50–54 (48.08%) (at ATP Tour level, Grand Slam level, and in Davis Cup)
Số danh hiệu2
Thứ hạng cao nhấtNo. 68 (18 tháng 3, 2019)
Thứ hạng hiện tạiNo. 130 (23 tháng 8, 2021)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Pháp Mở rộng1R (2016)
Giải đấu đôi khác
Thế vận hộiQF (2021)
Giải đồng đội
Davis CupQF (2018)
Hopman CupF (2018, 2019)
Thành tích huy chương
Cập nhật lần cuối: 23 August 2021.

Alexander "Sascha" Zverev[3] ([ˌalɛˈksandɐ ˈzaʃa ˈt͡sfɛʁɛf];[4][5][6] tiếng Nga: Александр Зверев,[a] IPA: [ɐlʲɪˈksandr ˈzvʲerʲɪf]; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1997) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Đức. Anh hiện đang là người trẻ nhất trong top 30 ATP.[7][8] Anh là con của cựu tay vợt người Nga Aleksandr Mikhailovich Zverev và là em trai của tay vợt Mischa Zverev.

Vào tháng 5 năm 2017, Zverev vào tốp 10 lần đầu tiên sau khi đánh bại Novak Djokovic ở chung kết của Ý Mở rộng 2017, do đó là danh hiệu Masters 1000 đầu tiên trong sự nghiệp.[9] Anh đã giành được danh hiệu Masters 1000 thứ hai liên tiếp khi anh đánh bại Roger Federer tại Canada Masters 2017, cuối cùng anh đạt được vị cao nhất trong sự nghiệp hiện giờ là thứ 4 Thế giới.[10]

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev sinh năm 1997 ở Hamburg, Đức. Cả cha và mẹ của anh, Aleksandr và Irina đều là cựu tay vợt Nga; cha anh thi đấu chuyên nghiệp cho Liên Xô. Anh trai của Zverev, Mischa, cũng là một tay vợt chuyên nghiệp.

Sự nghiệp thời thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 10 năm 2013 tới tháng 6 năm 2014, Zverev là tay vợt trẻ số 1 thế giới. Là một tay vợt trẻ, anh đã giành được kỷ lục thắng/thua là 96-35.[11]

Zverev lọt vào trận chung kết của Pháp Mở rộng trẻ 2013, thua trước Christian Garín.[12] Sau khi thua ở vòng ba của giải Wimbledon trẻ 2013, anh lọt vào trận bán kết của Mỹ Mở rộng trẻ 2013 và để thua nhà vô địch lúc đó, Borna Ćorić.[13]

Zverev vô địch Úc Mở rộng trẻ 2014 với vị trí hạt giống số 1, đánh bại hạt giống số 2, Stefan Kozlov ở chung kết.[14]

Sự nghiệp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2017: Top năm bảng xếp hạng và 2 danh hiệu Masters[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev bắt đầu năm mới bằng việc gặt hái kết quả tốt nhất của mình tại Grand Slam vào thời điểm đó, rơi vào vòng 3 của Úc Mở rộng để thi đấu với á quân Rafael Nadal trong trận đấu 5 set.[15] Zverev đã đánh bại Robin HaaseFrances Tiafoe, trong những lượt đầu tiên và thứ hai tương ứng để đạt được người Tây Ban Nha. Zverev đại diện cho Đức ở vòng đấu đầu tiên của Davis Cup, thua Steve Darcis sau khi giành chiến thắng trước Arthur De Greef, chiến thắng đầu tiên của anh tại Davis Cup. Trong lần xuất hiện thứ hai của mình tại giải Open Sud de France, Zverev đã giành danh hiệu đầu tiên trong năm của mình đánh bại Richard Gasquet trong các sét trắng. Zverev và anh trai của ông cũng giành chức vô địch đôi tại Montpellier, đánh bại Fabrice MartinDaniel Nestor.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev với anh trai, Mischa (phải), năm 2013

Nơi ở chính của Zverev là Monte Carlo. Anh cũng sống ở Hamburg và Florida.[3] Sở thích của anh là chơi golfbóng rổ. Anh nói rằng mình là một fan hâm mộ bóng rổ và là cổ động viên của Miami Heat.[3][16] Roger Federer là thần tượng của anh.[3]

Zverev nói tiếng Đức, tiếng Ngatiếng Anh.[17]

Bê bối thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Zverev với anh trai, Mischa (phải), năm 2013

Ngày 23 tháng 2 năm 2022, sau khi kết thúc giải ATP 500, Zverev đi về phía trọng tài và đập vợt ba lần lên ghế của ông. Những cú đập suýt trúng chân trọng tài, làm ông này hoảng sợ. của Tay vợt Đức sau đó về ghế của anh trong tiếng la ó của khán giả, nhưng rồi lại đứng lên, quát về phía trọng tài: "Nhìn xem quả bóng rơi ở đâu, 8-6 ở loạt tie-break. Nhờ ông mà trận đấu kết thúc, nhờ quyết định của ông đấy. Ông là đồ n**".[18][19]

Bỏi vì hành vi phi thể thao này, Zverev bị loại khỏi nội dung đơn nam của Mexico Mở rộng 2022 - giải đấu có sự tham gia của Rafael Nadal. Đối thủ của anh - Peter Gojowczyk - được vào thẳng vòng trong.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; hoặc (NH) giải không tổ chức. SR=tỉ lệ vô địch (số chức vô địch/số giải đấu)
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.

Đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tournament 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 SR T_B % thắng
Giải đấu Grand Slam
Úc Mở rộng A A Q1 V1 V3 V3 V4 0 / 4 7–4 64%
Pháp Mở rộng A A Q2 V3 1R TK TK 0 / 4 10–4 71%
Wimbledon A A V2 V3 V4 V3 V1 0 / 5 8–5 62%
Mỹ Mở rộng A Q2 V1 V2 V2 V3 V4 0 / 5 7–5 58%
Thắng-Thua 0–0 0–0 1–2 5–4 6–4 10–4 10–4 0–0 0 / 18 32–18 64%

Thống kê sự nghiệp Alexander Zverev

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ tiếng Nga: Александр Александрович Зверев, chuyển tự. Aleksandr Aleksandrovich Zverev

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Alexander Zverev”. ATP Tour. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
  2. ^ “ATP Prize Money Leaders” (PDF). Pro Tennis Live. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  3. ^ a b c d “Alexander Zverev exklusiv: „Ich liebe die große Bühne" (Phỏng vấn) (bằng tiếng Đức). Phóng viên Inga Radel. Tennisnet.com. ngày 6 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2017. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp)
  4. ^ Wie Alexander Zverev zum Weltstar gemacht wird. welt.de (bằng tiếng Đức). WeltN24 GmbH. ngày 26 tháng 6 năm 2016. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:07. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017.
  5. ^ Alexander Zverev erobert die Tennis-Top-Ten. welt.de (bằng tiếng Đức). WeltN24 GmbH. ngày 22 tháng 5 năm 2017. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:03. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017.
  6. ^ Deutscher Tennisstar - Alexander Zverev gewinnt die BMW Open. welt.de (bằng tiếng Đức). Munich Television. ngày 9 tháng 5 năm 2017. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:16. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017.
  7. ^ “Alexander Zverev ATP Profile”. ATP. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014.
  8. ^ “Alexander Zverev ITF Tennis Pro Circuit Profile”. ITF Tennis. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014.
  9. ^ “Zverev Puts On Serving Clinic For Rome Title”. ATP. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
  10. ^ Pachelli, Nick (ngày 27 tháng 8 năm 2017). “The Rise of Alexander Zverev”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017.
  11. ^ “Alexander Zverev ITF Tennis Junior Profile”. ITF Tennis Junior. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014.
  12. ^ “ITF: 2013 junior champions crowned at roland garros”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  13. ^ “ITF: Head to head results”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  14. ^ “ABC: Alexander Zverev wins 2014 Australian Open boys' title”. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  15. ^ Ubha, Ravi. “Australian Open 2017: Nadal beats Zverev in four-hour epic”. edition.cnn.com. Cable News Network. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  16. ^ “Getting to know...Alexander Zverev”. ITFTennis.com. ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2014.
  17. ^ “Alexander Zverev Bio”. ATP.
  18. ^ VnExpress. “Zverev tấn công trọng tài”. vnexpress.net. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2022.
  19. ^ Salt, Nathan (23 tháng 2 năm 2022). “Zverev loses temper and is THROWN OUT of the Mexican Open”. Mail Online. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2022.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Canada Filip Peliwo
ITF Junior World Champion
2013
Kế nhiệm:
Nga Andrey Rublev
Tiền nhiệm:
Croatia Borna Ćorić
ATP Star of Tomorrow
2015
Kế nhiệm:
Hoa Kỳ Taylor Fritz