Giải quần vợt Roland-Garros

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải quần vợt Roland-Garros
Frenchopen.svg
Grand Slam
Địa điểm Paris
Flag of France.svg Pháp
Mặt sân Đất nện, ngoài trời
Bảng nam 128S / 128Q / 64D
Bảng nữ 128S / 96Q / 64D
Tiền thưởng 28,028,600 (2015)
Trang web chính thức
Các giải Grand Slam

Giải quần vợt Roland-Garros (tiếng Pháp: Tournoi de Roland-Garros), hay còn gọi là Giải quần vợt Pháp mở rộng, là 1 trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam thứ 2 trong năm, thường diễn ra vào khoảng thời gian nửa cuối tháng 5 và đầu tháng 6 tại Paris, Pháp. Giải đấu được đặt theo tên của anh hùng phi công người Pháp - Roland Garros. Đây là giải đấu trên mặt sân đất nện lớn nhất thế giới.[1] Giống như tại Australian Open hay Wimbledon luật thi đấu tại Roland Garros theo thể thức 5 set thắng 3 (đối với nội dung đơn nam) và theo thể thức 3 set thắng 2 (đối với nội dung đơn nữ), không có ván giải hòa (tie-breaker) ở hiệp cuối cùng (trừ Mỹ Mở rộng), ngoài ra còn có nội dung đánh đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ phối hợp. Roland-Garros được coi là giải đấu đòi hỏi nền tảng thể lực khắc nghiệt nhất.[2][3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu lần đầu tiên được khởi tranh vào năm 1891. Tại thời điểm đó, giải có tên gọi Championat de France International de Tennis (Giải vô địch quần vợt quốc tế Pháp). Trong những năm đầu tiên, chỉ các tay vợt nam người Pháp, hoặc người nước ngoài có thẻ hội viên trong một câu lạc bộ quần vợt Pháp mới được quyền tham gia giải. Phải đến năm 1897, giải đấu dành cho nữ mới được tổ chức và mãi đến năm 1924 ban tổ chức mới cho phép mọi tay vợt nước ngoài đến tranh tài.

Năm 1927, Bộ tứ huyền thoại, 4 chàng Ngự lâm pháo thủ hay Bộ tứ Philadelphia (René Lacoste, Jean Borotra, Henri Cochet, và Jacques Brugnon) chấn động làng bóng nỉ toàn cầu khi giành chức vô địch Cúp Davis năm 1927 ngay trên đất Mỹ, sau khi đánh bại đội tuyển Hoa Kỳ. Đội tuyển Pháp giành quyền tổ chức trận bảo vệ chức vô địch năm sau tại Paris.

Để chuẩn bị cho giải Cúp Davis năm 1928, các nhà lãnh đạo Pháp đã quyết định xây dựng một sân thi đấu quần vợt tại Porte d’Auteuil, sau khi CLB Stade de France đã tặng chính quyền 3 hectare để xây dựng sân vận động mới với một điều kiện duy nhất: Sân sẽ mang tên anh hùng không quân Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Roland Garros, một thành viên của câu lạc bộ. Từ đó giải còn mang tên gọi Roland Garros.

Năm 1968, Roland Garros là giải Grand Slam đầu tiên chuyển thành giải "open," (mở rộng), cho phép tất cả các tay vợt nghiệp dư cũng như chuyên nghiệp tham gia thi đấu.

Bắt đầu từ năm 2006, ngày thi đấu khai mạc giải là ngày Chủ nhật.

Thêm vào đó, trước ngày khai mạc một ngày, một số tay vợt sẽ tham gia thi đấu biểu diễn ở ngày Benny Berthet, lợi nhuận từ việc bán vé của ngày Benny Berthet sẽ được trao cho các tổ chức từ thiện.

French Open 2010 – Sân trung tâm Philippe Chatrier

Đặc điểm mặt sân[sửa | sửa mã nguồn]

Trên mặt sân đất nện, bóng đi chậm hơn và nảy rất cao khiến các tay vợt có lối chơi giao bóng mạnh và lên lưới mất đi lợi thế, vì vậy lối chơi tại Roland-Garros thích hợp với những tay vợt thích đánh từ cuối sân mà không hay lên lưới. Do đó có không ít các tay vợt huyền thoại như các cựu số 1 thế giới John McEnroe, Pete Sampras chưa từng 1 lần giành ngôi quán quân tại đây hay ngay cả Roger Federer cũng chỉ từng 1 lần vô địch, trong khi họ có thể vô địch nhiều lần tại 3 giải Grand Slam còn lại. Ngược lại, có khá nhiều các tay vợt giành chức vô địch ở Roland-Garros nhưng không thể chiến thắng tại các giải Grand Slam khác.

Sân Suzanne Lenglen tại Roland Garros

Mở rộng hay di dời vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2004-2008, người ta đã có những kế hoạch xây dựng một sân quần vợt có mái che nhưng sau đó không có gì được thực hiện.[4][5][6]

Đã có những đề xuất mở rộng cơ sở hoặc di chuyển giải đấu đến một địa điểm mới ở vùng ngoại ô thành phố Paris. Sau nhiều tranh cãi, đến năm 2011, Liên đoàn quần vợt Pháp quyết định Roland Garros vẫn tiếp tục được tổ chức tại thủ đô Paris chứ không chuyển tới các vùng ngoại ô. Roland Garros sẽ xây thêm một sân vận động mới và mở rộng thêm các sân vận động hiện tại.

Ngày 9 tháng 6 năm 2015, Thị trưởng Paris - Anne Hidalgo tuyên bố các giấy phép xây dựng đã được ký kết.[7] Công việc dự kiến bắt đầu vào tháng 9 và kết thúc vào năm 2019. Tuy nhiên có nhiều người vẫn không ủng hộ phương án này.

Thống kê kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục Thời Open Tay vợt Số lần Năm
Giải nam diễn ra từ năm 1925
Vô địch đơn nam nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of France.svg Henri Cochet 4 1926, 1928, 1930, 1932
Sau 1968: Flag of Spain.svg Rafael Nadal 9 2005,2006,2007,2008,2010,2011,2012,2013,2014
Vô địch đơn nam liên tục nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of the United States.svg Frank Parker

Flag of Egypt (1922–1958).svg Jaroslav Drobný

Flag of the United States.svg Tony Trabert

Flag of Italy.svg Nicola Pietrangeli
2 1948,194949

1951,1952

1954,1955

1959,1960
Sau 1968: Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5 2005,2006,2007,2008,2010,2011,2012,2013,2014
Vô địch đôi nam nhiều lần nhất Trước 1968: Úc Roy Emerson 6 1960, 1962 với Neale Fraser
1961 với Rod Laver
1963 với Manuel Santana
1964 với Ken Fletcher
1965 với Fred Stolle
Sau 1968: Flag of the Netherlands.svg Paul Haarhuis 3 1995, 1998 với Jacco Eltingh
2002 với Yevgeny Kafelnikov
Flag of Russia.svg Yevgeny Kafelnikov 3 1996-97 với Daniel Vacek
2002 với Paul Haarhuis
Vô địch đôi nam liên tục nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of Australia.svg Roy Emerson 6 1960-65
Sau 1968: Flag of the United States.svg Gene Mayer

Flag of Russia.svg Yevgeny Kafelnikov
Flag of the Czech Republic.svg Daniel Vacek

Flag of Sweden.svg Jonas Björkman
Flag of Belarus.svg Max Mirnyi
2 1978 với Hank Pfister, 1979 với Sandy Mayer


1996-97


2005-06
Vô địch đôi nam nữ phối hợp nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of Australia.svg Ken Fletcher 3 1963-65 (với Margaret Smith Court)
Sau 1968: Flag of France.svg Jean Claude Barclay 4 1968, 1971, 1973 với Françoise Durr
Đoạt nhiều chức vô địch nhất (Tổng số chức vô địch: đơn, đôi, đôi nam nữ phối hợp) Trước 1968: Flag of France.svg Henri Cochet 9 1926-1932 (4 đơn, 3 đôi, 2 đôi nam nữ phối hợp)
Sau 1968: Flag of Sweden.svg Björn Borg 6 1974-81 (6 đơn)
Giải nữ bắt đầu từ năm 1925
Vô địch đơn nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of Australia.svg Margaret Smith Court 5 1962, 1964, 1969-70, 1972
Sau 1968: Flag of the United States.svg Chris Evert Lloyd 7 1974-75, 1979-80, 1983, 1985-86
Flag of Germany.svg Steffi Graf 6 1987-88, 1993, 1995-96, 1999
Vô địch đôi nữ liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of the United States.svg Helen Wills Moody

Flag of Germany.svg Hilde Krahwinkel Sperling
3 1928-30

1936-37
Sau 1968: Flag of SFR Yugoslavia.svg/Hoa Kỳ Monica Seles

Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin
3 1990-92

2005-07
Vô địch đôi nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of France.svg Simone Mathieu 6 1933-34 với Elizabeth Ryan
1936-38 với Billie Yorke
1939 với Jadwiga Jedrzejowska
Sau 1968: Flag of the Czech Republic.svg/Hoa Kỳ Martina Navrátilová



Belarus Natasha Zvereva


Flag of the United States.svg Gigi Fernández
6 1982 với Anne Smith
1984-85, 1987-88 với Pam Shriver
1986 với Andrea Temesvari

1989 với Larisa Savchenko
1992-95, 1997 với Gigi Fernández

1991 với Jana Novotna
Vô địch đôi nữ liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of France.svg Françoise Durr 5 1967-71
Sau 1968: Flag of the Czech Republic.svg/Hoa Kỳ Martina Navrátilová

Hoa Kỳ Gigi Fernández
5 1984-88

1991-95
Vô địch đôi nam nữ phối hợp nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of Australia.svg Margaret Smith Court 4 1963-65 với Ken Fletcher
1969 với Marty Riessen
Sau 1968: Flag of France.svg Françoise Durr 3 1968, 1971, 1973 với Jean Claude Barclay
Đoạt nhiều chức vô địch nhất (Tổng số vô địch: đơn, đôi, đôi nam nữ phối hợp) Trước 1968: Flag of Australia.svg Margaret Smith Court 13 1962-1973 (5 đơn, 4 đôi, 4 đôi nam nữ phối hợp)
Sau 1968: Flag of the Czech Republic.svg/Hoa Kỳ Martina Navrátilová 10 1974-88 (2 đơn, 6 đôi, 2 đôi nam nữ phối hợp)
Các kỷ lục khác
Vô địch trẻ nhất Nam: Hoa Kỳ Michael Chang 17 tuổi 3 tháng
Nữ: Flag of SFR Yugoslavia.svg/Hoa Kỳ Monica Seles 16 tuổi 6 tháng
Vô địch mà không phải là hạt giống Nam: Flag of France.svg Marcel Bernard

Flag of Sweden.svg Mats Wilander

Flag of Brazil.svg Gustavo Kuerten

Flag of Argentina.svg Gaston Gaudio
1946

1982

1997

2004
Nữ: Flag of the United Kingdom.svg Margaret Scriven 1933

Tiền thưởng và điểm thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2007, lần đầu tiên trong lịch sử, tiền thưởng dành cho các tay vợt nam và nữ bằng nhau.[8]

Năm 2015, tổng số tiền thưởng cho các vận động viên là 28,028,600 €

Tiền thưởng năm 2015
Nội dung Vô địch Á quân Bán kết Tứ kết Vòng 4 Vòng 3 Vòng 2 Vòng 1
Đánh đơn Điểm (M/F) 2000 1200 / 1300 720 / 780 360 / 430 180 / 240 90 / 130 45 / 70 10/10
Tiền thưởng €1,800,000 €900,000 €450,500 €250,000 €145,000 €85,000 €50,000 €27,000
Đánh đôi Điểm (M/F) 2000 1200 / 1300 720 / 780 360 / 430 180 / 240 90 / 130
Tiền thưởng* €450,000 €225,000 €112,500 €61,000 €33,000 €18,000 €9,000
Đánh đôi
hỗn hợp
Điểm NA NA NA NA NA NA
Tiền thưởng* €114,000 €57,000 €28,000 €15,000 €8,000 €4,000

*giành cho 2 người

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clarey, Christopher (30 tháng 6 năm 2001). “Change Seems Essential to Escape Extinction: Wimbledon: World's Most Loved Dinosaur”. International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007. 
  2. ^ Clarey, Christopher (26 tháng 5 năm 2006). “In a year of change at Roland Garros, the winners may stay the same”. International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ “French Open – Countdown: Borg's view on RG”. Eurosport. 22 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  4. ^ “Roland Garros set for roof”. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ “French Open Adds Day; Clay Stays the Same”. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ “Only 13 matches completed before rain halts play”. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015. 
  7. ^ http://sports.ndtv.com/tennis/news/243624-roland-garros-revamp-gets-green-light
  8. ^ “Roland Garros Awards Equal Pay”. WTA Tour. 16 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]