Garbiñe Muguruza

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Garbiñe Muguruza
Muguruza US16 (6) (29827653006).jpg
Garbiñe Muguruza tại Giải quần vợt Mỹ mở rộng 2016
Quốc tịch Tây Ban Nha
Nơi cư trúGeneva, Thụy Sĩ
Sinh8 tháng 10, 1993 (25 tuổi)
Caracas, Venezuela
Chiều cao1,82 m (5 ft 11 12 in)
Lên chuyên nghiệp2011
Tay thuậnPhải (trái tay 2 tay)
Huấn luyện viênAlejo Mancisidor (2010–2015)
Sam Sumyk (since 2015)
Tiền thưởng11.128.219 $
Đánh đơn
Thắng/Thua293–149 (66.29%)
Số danh hiệu4 WTA, 7 ITF
Thứ hạng cao nhất1 (11 tháng 9 năm 2017)
Thứ hạng hiện tại2 (27 tháng 10 năm 2017)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngQF (2017)
Pháp mở rộngW (2016)
WimbledonW (2017)
Mỹ Mở rộng4R (2017)
Các giải khác
WTA FinalsSF (2015)
Thế vận hội3R (2016))
Đánh đôi
Thắng/Thua72–43
Số danh hiệu5 WTA, 1 ITF
Thứ hạng cao nhất10 (23 tháng 2 năm 2015)
Thứ hạng hiện tại469 (25 tháng 9 năm 2017)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộng2R (2014, 2015)
Pháp Mở rộngSF (2014)
Wimbledon3R (2014)
Mỹ Mở rộng3R ((2014)
Giải đấu đôi khác
WTA FinalsF (2015)
Thế vận hộiQF (2016)
Giải đồng đội
Fed Cup7–2

Garbiñe Muguruza Blanco (tiếng Tây Ban Nha: [ɡarˈβiɲe muɣuˈɾuθa], sinh ngày 8 tháng 10 năm 1993 tại Caracas, Venezuela) là vận động viên quần vợt người Tây Ban Nha. Tính tới thời điểm này, cô đã có 2 danh hiệu Grand Slam chuyên nghiệp, trong đó có chức vô địch Pháp mở rộng 2016 khi đánh bại Serena WilliamsWimbledon 2017 khi đánh bại Venus Williams, trở thành người đầu tiên trong lịch sử giành chiến thắng trước cả hai chị em nhà Williams chung kết Grand Slam[1]. Cô cũng từng giữ vị trí số 1 thế giới trong 4 tuần vào cuối năm 2017.

Dựa nhiều vào lối chơi đánh bóng bền cuối sân và tấn công mạnh mẽ, Muguruza sớm gây chú ý khi vào tới vòng 4 Giải quần vợt Úc mở rộng năm 2014 khi loại hạt giống Caroline Wozniacki. Cùng năm đó, cô cũng loại hạt giống số 1 Serena Williams trên đường vào tứ kết Roland Garros. Tới năm 2015, cô giành danh hiệu đầu tiên với Giải Trung Quốc mở rộng và vào chung kết Grand Slam lần đầu tiên ở Wimbledon. Tại giải WTA Finals cuối năm, cô toàn thắng vòng bảng trước khi thua cuộc ở bán kết trước nhà vô địch của giải đấu sau đó, Agnieszka Radwańska.

Muguruza cũng khá thành công ở nội dung đôi nữ, khi từng về á quân tại WTA Finals năm 2015 và bán kết Pháp mở rộng 2014. Cô cũng có 5 danh hiệu cùng đồng hương, Carla Suárez Navarro.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chung kết giải đấu Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 3 (2 danh hiệu, 1 á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỷ số
Á quân 2015 Wimbledon Cỏ Hoa Kỳ Serena Williams 4–6, 4–6
Vô địch 2016 French Open Đất nện Hoa Kỳ Serena Williams 7–5, 6–4
Vô địch 2017 Wimbledon Cỏ Hoa Kỳ Venus Williams 7–5, 6–0

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các kỷ lục này đạt được trong Kỷ nguyên Mở của quần vợt.
Giải đấu Năm Kỷ lục đạt được Player tied
Pháp Mở rộng 2016 Đánh bại cả SerenaVenus Williams ở chung kết Grand Slam[2] Stands alone
Wimbledon 2017

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Garbiñe Muguruza: Bio, Facts”. Celebrity Fact. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ “Wimbledon: Garbine Muguruza defeats Venus Williams in final to claim second major singles title”. ABC News (Australian Broadcasting Corporation). Ngày 16 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]