Osaka Naomi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Osaka Naomi
大坂 なおみ
Osaka WM17 (4) (36143097936).jpg
Osaka Naomi tại Wimbledon 2017
Tên đầy đủOsaka Naomi
Quốc tịch Nhật Bản
Sinh16 tháng 10, 1997 (22 tuổi)
Osaka, Nhật Bản
Chiều cao1,78 m (5 ft 10 in)
Tay thuậnTay phải (cú trái 2 tay)
Huấn luyện viênWim Fissette (2020–)
Tiền thưởng$13,492,479
Đánh đơn
Thắng/Thua222–132 (62.71%)
Số danh hiệu5
Thứ hạng cao nhấtNo. 1 (26 tháng 1 năm 2019)
Thứ hạng hiện tạiNo. 10 (3 tháng 2 năm 2020)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngVĐ (2019)
Pháp mở rộngV3 (2016, 2018, 2019)
WimbledonV3 (2017, 2018)
Mỹ Mở rộngVĐ (2018, 2020)
Các giải khác
Đánh đôi
Thắng/Thua2–14 (12.5%)
Số danh hiệu0
Thứ hạng cao nhất324 (3 tháng 4 năm 2017)
Thứ hạng hiện tại697 (28 tháng 8 năm 2017)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộngV1 (2017)
Pháp Mở rộngV2 (2016)
WimbledonV1 (2017)
Mỹ Mở rộngV1 (2016)

Ōsaka Naomi (Nhật: 大坂 (おおさか) なおみ? sinh ngày 16 tháng 10 năm 1997[1]) là một nữ vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Nhật Bản.[2] Cô từng xếp hạng số 1 thế giới của WTA ở nội dung đơn vào ngày 26 tháng 1 năm 2019 sau khi vô địch Úc Mở rộng và là tay vợt châu Á đầu tiên đứng số 1 thế giới.

Sinh ra ở Nhật Bản, có bố là người Haiti và mẹ là người Nhật, Osaka sống ở Hoa Kỳ từ khi cô ba tuổi. Cô nổi tiếng ở tuổi mười sáu khi đánh bại cựu vô địch US Open Samantha Stosur trong trận ra mắt WTA Tour tại Stanford Classic 2014. Hai năm sau, cô lọt vào trận chung kết WTA đầu tiên của mình tại Pan Pacific Open 2016 ở Nhật Bản để lọt vào top 50 của bảng xếp hạng WTA. Osaka tạo ra bước đột phá của quần vợt nữ thế giới năm 2018, khi cô giành được danh hiệu WTA đầu tiên của mình tại Indian Wells. Vào tháng 9, cô vô địch Mỹ mở rộng, đánh bại nhà vô địch Grand Slam 23 lần Serena Williams trong trận chung kết để trở thành tay vợt Nhật Bản đầu tiên giành chiến thắng trong một giải đấu đơn Grand Slam. Năm sau, cô trở thành vận động viên quần vợt số 1 thế giới đầu tiên từ Nhật Bản với chiến thắng tại giải Úc mở rộng 2019.

Tiểu sử cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Osaka sinh ra ở Osaka, Nhật Bản, bố là Leonard "San" François người Haiti và mẹ là Osaka Tamaki người Nhật.[1] Cô có một chị gái, Mari, cũng là một tay vợt chuyên nghiệp.

Osaka chuyển đến Hoa Kỳ lúc 3 tuổi với gia đình và hiện sống ở Florida. Cô tốt nghiệp trường tiểu học Elmont Alden Terrace và trường trung học phổ thông Broward Virtual. Câu lạc bộ quần vợt của cô là Viện Harold Solomon (Học viện Tennis SBT Florida), Học viện quần vợt ProWorld.

Tiếng mẹ đẻ của cô là tiếng Anh. Sau khi chọn quốc tịch Nhật Bản, cô cũng bắt đầu học tiếng Nhật.

Sự nghiệp quần vợt[sửa | sửa mã nguồn]

2014-2017: Đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2014, Osaka lần đầu tiên tham gia giải đấu WTA tại Stanford và vào được vòng nhì.

Tại Australian Open, Osaka lần đầu tiên thắng các vòng loại để được vào đấu tại một giải Grand Slam vào năm 2016. Với chiến thắng trước Donna VekićElina Svitolina, cô vào được ngay vòng thứ ba. Tại nội dung đơn của Giải Pháp mở rộng, nhờ thứ hạng cao cô không cần phải đấu vòng loại, và cũng lặp lại thành tích tốt ở đây. Vào tháng 10 năm 2016, cô vào được vòng chung kết Giải WTA Tokyo (thua Caroline Wozniacki 2 set liên tiếp) và lên được vị trí thứ 40 trong bảng xếp hạng WTA.

2018: Vô địch Mỹ mở rộng và Indiana Wells, xếp thứ 4 thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2018, cô bắt đầu leo lên thứ hạng 19 trước ngày 5 tháng 9 năm 2018. Từ đầu năm, cô đã được Aleksander Bajin huấn luyện. Vào tháng 5 năm 2018, cô đã được đào tạo tại Học viện quần vợt Evert ở Boca Raton, Florida, trong khi chơi cho Nhật Bản.

Sau chiến thắng trước Kristína Kučová và hạt giống thứ 16 Elena Vesnina, Osaka đã đạt đến vòng thứ tư của một grand slam lần đầu tiên khi cô đánh bại Ashleigh Barty ở vòng thứ ba của giải Úc mở rộng năm 2018. Cô bị đánh bại bởi Simona Halep ở vòng thứ tư.

Cạnh tranh như một ẩn số trong giải vô địch quần vợt Dubai, cô đã đánh bại Kristina Mladenovic và Anett Kontaveit trước khi thua Elina Svitolina ở tứ kết.

Tại BNP Paribas Open ở Indian Wells, cô đã đánh bại cựu thế giới số 1 Maria Sharapova ở vòng đầu tiên, tiếp tục phong độ tốt của mình với chiến thắng liên tiếp hạt giống số 31 Agnieszka Radwańska và Sachia Vickery tiến tới vòng thứ tư, nơi cô vượt qua Maria Sakkari, và Karolína Plíšková tiến tới trận bán kết đầu tiên của mình. Sau đó, cô đánh bại thế giới số 1 Simona Halep để tiến tới trận chung kết lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Osaka thắng BNP Paribas Open bằng cách đánh bại hạt giống số 20 của Nga Daria Kasatkina.

Vào tháng 3 năm 2018, Osaka cuối cùng đã giành được một trận thắng thần tượng của cô, cựu thế giới số 1 Serena Williams, ở vòng đầu tiên của Miami Open. Sau đó cô thua ở vòng thứ hai bởi hạt giống thứ tư Elina Svitolina. Osaka tiếp tục phong độ năm 2017 tại French Open, đạt đến vòng thứ ba trước khi thua hạt giống thứ 13 Madison Keys.

Trong mùa sân cỏ, cô đã đến bán kết của Nottingham Open, nơi cô đã thua hạt giống Ashleigh Barty. Cô đã được xếp hạng hạt giống thứ mười tám tại Wimbledon, và đạt đến vòng thứ ba, nơi cô đã bị đánh bại bởi hạt giống thứ mười một và cuối cùng vô địch Angelique Kerber. Sau một chuỗi thua sớm ở Washington, Rogers Cup, và Cincinnati, Osaka đã trở lại tại US Open, đánh bại Laura Siegemund và Julia Glushko. Sau đó cô ghi 6-0, 6-0 trước Aliaksandra Sasnovich, chiến thắng tuyệt vời nhất của cô. Trong vòng thứ tư, cô đã vượt qua hạt giống thứ 26 Aryna Sabalenka trong ba set. Tại vòng tứ kết, Osaka đã đánh bại Lesia Tsurenko chỉ trong 58 phút. Với chiến thắng này, cô đã có trận bán kết đầu tiên của mình. Trong trận bán kết, cô đã đánh bại Madison Keys, trở thành người phụ nữ Nhật Bản đầu tiên vào chơi trận chung kết slam, nơi cô sẽ đối mặt với Serena Williams cho danh hiệu này.

2019: Vô địch Úc mở rộng, xếp thứ 1 thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Osaka đã được xếp làm hạt giống thứ tư tại Úc mở rộng. Cô đã đánh bại Magda Linette và Tamara Zianšek để lọt vào vòng thứ ba, nơi cô phải đối mặt với hạt giống số 28 Hsieh Su-wei. Sau khi thua set đầu tiên, cô đã thắng 10 trong số 12 trận gần đây để giành chiến thắng sau ba set. Ở vòng thứ tư, cô đánh bại hạt giống số 13 Anastasija Sevastova trong ba set để vào tứ kết đầu tiên tại Melbourne, nơi cô đánh bại hạt giống thứ sáu Elina Svitolina. Chiến thắng ba set trước hạt giống số 7 Karolína Plíšková đã chứng kiến ​​Osaka tiến tới trận chung kết Grand Slam thứ hai liên tiếp, nơi cô đánh bại hạt giống số 8 Petra Kvitová trong ba set để giành danh hiệu thứ hai liên tiếp. Với chiến thắng này, Osaka đã trở thành tay vợt đầu tiên giành được hai danh hiệu Grand Slam liên tiếp kể từ Serena Williams vào năm 2015. Kể từ ngày 28 tháng 1 năm 2019, cô là tay vợt số 1 thế giới của WTA và là tay vợt châu Á đầu tiên làm được điều đó. Sau giải đấu thành công, cô chia tay với huấn luyện viên Sascha Bajin.

Osaka chật vật sau giải Úc mở rộng. Cô thua ở vòng bốn và vòng ba tại hai giải đấu Premier Mandatory vào tháng 3, Indian WellsMiami Open. Sau khi bắt đầu mùa giải sân đất nện với trận bán kết tại Stuttgart Open nơi cô rút lui vì chấn thương bụng, kết quả tốt nhất của cô là hai trận tứ kết tại Madrid Open và Italia Open. Cô cũng rút lui sau đó vì chấn thương ở tay phải. Tại Pháp mở rộng, Osaka thua Kateřina Siniaková ở vòng ba. Trong mùa giải trên sân cỏ, Osaka thua ở vòng đầu trước Yulia Putintseva ở cả hai giải đấu mà cô tham gia, bao gồm cả vòng đầu tiên tại Wimbledon. Kết quả là cô đã mất thứ hạng số 1 thế giới vào tay Ashleigh Barty.

Trước US Open, Osaka lọt vào tứ kết tại hai giải đấu Premier 5 vào tháng 8, Canada Open và Cincinnati Open, nơi cô bị đánh bại bởi Serena WilliamsSofia Kenin. Những màn trình diễn này đã giúp cô lấy lại thứ hạng số 1 để được xếp hạt giống số 1 tại US Open. Tuy nhiên, hành trình bảo vệ danh hiệu của cô kết thúc ở vòng bốn trước Belinda Bencic, người đã đánh bại cô lần thứ ba trong năm. Sau đó, cô rơi xuống vị trí thứ 4 trên thế giới. Sau giải đấu, Osaka đưa cha cô trở lại làm huấn luyện viên. Sự thay đổi này đã cho thấy hiệu quả ngay lập tức, vì Osaka đã vô địch hai giải đấu tiếp theo của cô. Đầu tiên, cô giành chiến thắng tại Premier 5 Pan Pacific Open tại quê nhà Osaka, đánh bại Anastasia Pavlyuchenkova trong trận chung kết. Hai tuần sau, cô lên ngôi vô địch tại Trung Quốc mở rộng. Trong giải đấu, cô đã đánh bại đương kim vô địch US Open Bianca Andreescu ở tứ kết và số 1 thế giới Ashleigh Barty trong trận chung kết. Những kết quả này đã giúp cô lên vị trí thứ 3 trên thế giới. Vào cuối năm, Osaka đủ điều kiện than dự WTA Final năm thứ hai liên tiếp. Tuy nhiên, sau khi đánh bại Petra Kvitová trong trận đấu đầu tiên, cô đã rút lui vì chấn thương.

2020[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu mùa giải 2020 của mình tại Brisbane, Osaka đánh bại Maria Sakkari, Sofia KeninKiki Bertens, trước khi thua Karolína Plíšková. Tại Úc Mở rộng, Osaka đánh bại Marie Bouzková và Zheng Saisai, trước khi bị Coco Gauff đánh bại ở vòng ba.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chung kết Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỷ số
Vô địch 2018 Mỹ Mở rộng Cứng Hoa Kỳ Serena Williams 6–2, 6–4
Vô địch 2019 Úc Mở rộng Cứng Cộng hòa Séc Petra Kvitová 7–6(7–2), 5–7, 6–4

Đơn: 1 (0–1)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch – Ghi chú
Giải đấu Grand Slam (0–0)
WTA Tour Championships (0–0)
Premier Mandatory & Premier 5 (0–0)
Premier (0–1)
Quốc tế (0–0)
Danh hiệu theo mặt sân
Cứng (0–1)
Cỏ (0–0)
Đất nện (0–0)
Thảm (0–0)
Kết quả TT Ngày Giải đấu Thể loại Mặt sân Đối thủ Tỷ số
Á quân 1. 25 tháng 9 năm 2016 Toray Pan Pacific Open, Tokyo, Nhật Bản Premier Cứng Đan Mạch Caroline Wozniacki 5–7, 3–6

WTA 125 series[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 1 (1 Á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỷ số
Á quân 1. 15 Tháng 11 năm 2015 Hua Hin Championships, Hua Hin, Thái Lan Cứng Kazakhstan Yaroslava Shvedova 4–6, 7–6(10–8), 4–6

Chung kết ITF[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 4 (0–4)[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chủ
$100,000 tournaments
$75,000 tournaments
$50,000 tournaments
$25,000 tournaments
$15,000 tournaments
$10,000 tournaments
Finals by surface
Cứng (0–3)
Đất nện (0–0)
Cỏ (0–1)
Thảm (0–0)
Kết quả TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỷ số
Á quân 1. 2 tháng 6 năm 2013 El Paso, Hoa Kỳ Cứng Hoa Kỳ Sanaz Marand 4–6, 4–6
Á quân 2. 9 tháng 3 năm 2014 Irapuato, Mexico Cứng Hà Lan Indy de Vroome 6–3, 4–6, 1–6
Á quân 3. 3 tháng 5 năm 2015 Gifu, Nhật Bản Cứng Trung Quốc Zheng Saisai 6–3, 5–7, 4–6
Á quân 4. 14 tháng 6 năm 2015 Surbiton, Vương quốc Anh Cỏ Nga Vitalia Diatchenko 6–7(5–7), 0–6

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Naomi Osaka Biography”. WTA. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ “GETTING TO KNOW... NAOMI OSAKA”. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền nhiệm:
Nga Daria Gavrilova
WTA Newcomer of the Year
2016
Kế nhiệm:
Đang giữ danh hiệu