Elina Svitolina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Elina Svitolina
Еліна Світоліна
Svitolina RG16 (14) (26794846264).jpg
Quốc tịch Ukraina
Nơi cư trúKharkiv, Ukraina
Monte Carlo, Monaco
Sinh12 tháng 9, 1994 (24 tuổi)[1]
Odessa, Ukraina
Chiều cao1,74 m (5 ft 8 12 in)[1]
Lên chuyên nghiệp2010
Tay thuậnTay phải (hai tay trái tay)
Huấn luyện viênAndrew Bettles (2017–)
Nick Saviano (2018–)
Tiền thưởngUS$13,108,625
Trang chủsvitolina.com
Đánh đơn
Thắng/Thua329–169 (66.06%)
Số danh hiệu13 WTA, 1 WTA 125K, 6 ITF
Thứ hạng cao nhất3 (11 tháng 9 năm 2017)
Thứ hạng hiện tại4 (29 tháng 10 năm 2018)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngTK (2018)
Pháp mở rộngTK (2015, 2017)
WimbledonV4 (2017)
Mỹ Mở rộngV4 (2017, 2018)
Các giải khác
WTA Finals (2018)
Thế vận hộiTK (2016)
Đánh đôi
Thắng/Thua47–60 (43.93%)
Số danh hiệu2 WTA, 2 ITF
Thứ hạng cao nhất108 (4 tháng 5 năm 2015)
Thứ hạng hiện tại1037 (29 tháng 10 năm 2018)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộngV1 (2014, 2016)
Pháp Mở rộngV2 (2014)
WimbledonV2 (2016)
Mỹ Mở rộngV2 (2014)
Giải đấu đôi khác
Thế vận hộiV1 (2016)
Đôi nam nữ
Kết quả đôi nam nữ Grand Slam
Úc Mở rộngBK (2017)
Pháp Mở rộngV2 (2015, 2017)
WimbledonV3 (2014)
Mỹ Mở rộngV2 (2018)
Giải đồng đội
Fed Cup10–9
Hopman CupCK (2016)
Cập nhật lần cuối: 12 tháng 11 năm 2018.

Elina Mykhaylivna Svitolina (tiếng Ukraina: Еліна Миxайлівна Світоліна, phát âm [ɛˈlʲinɑsβiˈtɔlʲinɑ]; sinh ngày 12 tháng 9 năm 1994) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp Ukraina. Lên chuyên nghiệp năm 2010, Svitolina có thứ hạng ở đơn cao nhất là số 3 vào ngày 11 tháng 9 năm 2017.

Svitolina giành được 9 danh hiệu WTA, cao nhất của cô là giải Premier 5, Dubai Tennis Championships, Internazionali BNL d'ItaliaRogers Cup vào năm 2017. Tháng 2 năm 2017, sau khi vô địch giải Dubai, Svitolina trở thành tay vợt đầu tiên người Ukraina vào top 10.

Trong sự nghiệp, Svitolina đã từng đánh bại nhiều tay vợt vô địch giải Grand Slam như Ana Ivanović, Serena Williams, Angelique Kerber, Garbiñe MuguruzaPetra Kvitová. Ở đôi, cô giành được hai danh hiệu. Thứ hạng cao nhất ở đôi là số 108 vào ngày 4 tháng 5 năm 2015.

Cuộc sống[sửa | sửa mã nguồn]

Svitolina sinh ra tại Odessa, Ukraina, có bố là Mikhaylo Svitolin (một cựu võ sĩ đấu vật) và mẹ là Olena Svitolina (một cựu vận động viên cờ đam).[2] Cô có một người anh trai tên là Yulian. Khi Elina còn là một đứa trẻ, thì Yulian đang tập quần vợt. Svitolina bắt đầu tập quần vợt khi cô mới 5 tuổi. Svitolina cùng gia đình cô chuyển đến Kharkiv khi cô mới 13 tuổi. Hiện nay, cô đang sống ở Kharkiv.

Mặt sân mà Svitolina thích nhất là sân cỏsân đất nện.

Svitolina tuyên bố rằng trong sự nghiệp đầu đời của mình, cô đã từ chối đề nghị thay đổi quốc tịch của mình để đổi lấy "khoản tiền lớn về tài chính".[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giải trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Svitolina vô địch Giải Pháp Mở rộng 2010 ở nội dung đơn nữ trẻ, đánh bại tay vợt người Tunisia Ons Jabeur sau 2 set đấu, 6-2 và 7-5.

Chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2017[sửa | sửa mã nguồn]

Svitolina khởi đầu năm 2017 khi cô tham dự giải Brisbane International, đánh bại tay vợt số 1 thế giới Angelique Kerber ở vòng tứ kết, nhưng thất bại trước hạt giống số 3 giải Karolína Plíšková ở vòng bán kết. Svitolina tham dự giải Úc Mở rộng 2017 với tư cách là hạt giống số 11 của giải. Nhưng cô sớm dừng bước ở vòng ba trước hạt giống sô 24 của giải là Pavlyuchenkova.

Svitolina tham dự giải Dubai Tennis Championships và xếp hạt giống số 7. Cô được miễn vòng một và vòng hai cô thắng tay vợt người Trung Quốc Zheng Saisai, vòng ba cô thắng tay vợt người Mỹ McHale. Vào vòng tứ kết, cô thắng tay vợt người Mỹ khác là Lauren Davis, vào đến vòng bán kết, cô bất ngờ thắng hạt giống số 1 của giải là Kerber sau hai set đấu. Elina vô địch giải đấu sau chiến thắng trước tay vợt số 10 của giải là Caroline Wozniacki.

Cô tham dự giải Mutua Madrid Open 2017 với tư cách là hạt giống số 11. Nhưng ở vòng một, cô thất bại trước tay vợt người Trung Quốc Zheng Saisai sau 3 set đấu. Internazionali BNL d'Italia 2017 là giải tiếp theo cô tham dự. Cô xếp loại hạt giống sô 8 của giải. Cô được miễn vòng một và vòng hai cô thắng tay vợt người Pháp Alizé Cornet, vào vòng ba cô thắng tay vợt người Đức Mona Barthel. Vào tứ kết cô bất ngờ thắng tay vợt hạt giống số 2 là Plíšková sau 2 set đấu, vào đến bán kết cô thắng hạt giống số 3 của giải là Garbiñe Muguruza khi bị chấn thương và bỏ cuộc. Ở trận chung kết cô thắng Halep sau ba set đấu. Giải tiếp theo Pháp Mở rộng 2017, cô được xếp loại hạt giống số 5. Cô đi đến vòng bốn của giải và gặp tay người Croatia là Petra Martić. Cô đánh bại sau ba set đấu trước khi bị loại ở vòng tứ kết trước tay vợt Simona Halep.

Giải Wimbledon 2017 là giải Grand Slam tiếp theo của cô. Cô tham dự giải và xếp loại hạt giống số 4 của giải. Cô thắng vòng một trước tay vợt người Úc Ashleigh Barty, thắng vòng hai trước tay vợt người Ý Francesca Schiavone và thắng vòng ba trước tay vợt người Đức Carina Witthöft. Vào vòng bốn thì cô thất bại trước tay vợt xếp hạt giống số 13 của giải là Jeļena Ostapenko sau hai set đấu.

Cô tham dự giải Rogers Cup 2017 và xếp loại hạt giống số 5. Cô được miễn vòng một. Vòng hai cô đánh bại tay vợt người Nga Kasatkina sau hai set đấu. Sau đó, cô lần lượt đánh bại tay vợt hạt giống số 9 là Venus Williams và số 4 là Muguruza. Vào đến bán kết, cô một lần nữ gặp Halep. Cô thắng sau hai set đấu 6-1 và 6-1. Svitolina vô địch giải đấu khi đánh bại hạt giống số sáu của giải là Caroline Wozniacki. Tại Cincinnati, Elina được xếp loại hạt giống số 5 của giải. Vòng hai cô thắng tay vợt đồng hương là Tsurenko sau hai set và thua vòng ba trước tay vợt người Đức Julia Görges.

Svitolina tham dự giải Grand Slam cuối cùng Mỹ Mở rộng. Cô xếp hạt giống số 4 của giải. Cô thắng vòng một giải là Kateřina Siniaková sau ba set đấu, vòng hai cô thắng tay vợt người Nga Evgeniya Rodina và vòng ba thắng tay vợt chủ nhà Shelby Rogers cùng sau hai set đấu. Vào vòng bốn, cô thua trước tay vợt chủ nhà được xếp hạt giống số 15 khác là Madison Keys sau ba set đấu.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; hoặc (NH) giải không tổ chức.
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.

Giải Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; hoặc (NH) giải không tổ chức.
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.
Giải đấu 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 SR T-B
Úc Mở rộng A A V1 V3 V3 V2 V3 TK 0 / 6 11-6
Pháp Mở rộng Q1 Q2 V2 V2 TK V4 TK V3 0 / 6 15-6
Wimbledon A VL1 V1 V1 V2 V2 V4 V1 0 / 6 5-6
Mỹ Mở rộng A V1 V2 V1 V3 V3 V4 V4 0 / 7 11-7
Thắng-Thua 0–0 0–1 2–4 3–4 9–4 7–4 12–4 9–4 0–0 0 / 25 42–25

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “WTA Tennis English”. WTA Tennis. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018. 
  2. ^ a ă (tiếng Ukraina) I was offered a lot of money to play for other countries, but, luckily, I'm from Ukraine - Svitolina, Radio Free Europe (31.7.2017)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]