Simona Halep

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Simona Halep
Halep US16 (52) (29236639483).jpg
Quốc tịch România
Nơi cư trúConstanța, România
Sinh27 tháng 9, 1991 (27 tuổi)[1]
Constanța, România
Chiều cao1,68 mét (5,5 ft)[1]
Lên chuyên nghiệp2006[2]
Tay thuậnTay phải (hai tay trái tay)
Huấn luyện viên
Tiền thưởngUS$23,494,071[4]
Đánh đơn
Thắng/Thua426–190 (69.16%)
Số danh hiệu17 WTA, 6 ITF
Thứ hạng cao nhấtSố 1 (9 tháng 10 năm 2017)
Thứ hạng hiện tạiSố 1 (11 tháng 6 năm 2018)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngCK (2018)
Pháp mở rộng (2018)
WimbledonBK (2014)
Mỹ Mở rộngBK (2015)
Các giải khác
WTA FinalsCK (2014)
Thế vận hộiV1 (2012)
Đánh đôi
Thắng/Thua57–55 (50.89%)
Số danh hiệu1 WTA, 4 ITF
Thứ hạng cao nhấtSố 71 (15 tháng 5 năm 2017)
Thứ hạng hiện tạiSố 95 (7 tháng 5 năm 2018)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộngV1 (2011, 2012, 2013, 2014)
Pháp Mở rộngV2 (2012)
WimbledonV1 (2011, 2012, 2013, 2015)
Mỹ Mở rộngV2 (2011)
Đôi nam nữ
Số danh hiệu0
Kết quả đôi nam nữ Grand Slam
Mỹ Mở rộngTK (2015)
Giải đồng đội
Fed Cup12–6 (66.67%)
Cập nhật lần cuối: 7 tháng 5 năm 2018.

Simona Halep (phát âm tiếng România: [siˈmona haˈlep];[5] sinh ngày 27 tháng 9 năm 1991) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Romania. Cô là hiện tại là tay vợt nữ số 1 thế giới trên bảng xếp hạng WTA. Simona đầu tiên lọt vào top 50 thế giới vào cuối năm 2012, top 20 vào tháng 8 năm 2013, và cuối cùng top 10 vào tháng 01 năm 2014. Simona dành được 6 danh hiệu WTA đầu tiên của cô vào cùng một năm dương lịch, năm 2013 (một kỉ lục mà Steffi Graf đã đạt được vào năm 1986 khi cô ấy dành được 7 danh hiệu), được trao danh hiệu là Tay vợt nữ chơi tiến bộ nhất năm đó.[6]

Simona Halep lần đầu tiên dành được một danh hiệu Grand Slam là tại Pháp Mở rộng 2018.[7] Simona chơi trận chung kết Pháp mở rộng năm 2014, trận chung kết Grand Slam đầu tiên của cô, và đã để thua Maria Sharapova sau 3 set. Cô cũng đã vào đến chung kết WTA Finals cùng năm và thua Serena Williams sau 2 set sau khi đã đánh bại Serena 6-0 6-2 ngay trước đó tại vòng bảng[8]. Simona tiếp tục chuỗi thành công của mình trong mùa giải 2015 và 2016 khi đạt 3 danh hiệu mỗi mùa (bao gồm cả hai danh hiệu Premier Mandatory) và tiếp tục nằm trong Top 10[9][cần nguồn tốt hơn]. Trong 2017 cô lọt vào trận chung kết Pháp Mở rộng thứ 2 trong sự nghiệp, và một lần nữa để thua sau 3 set đấu trước Jeļena Ostapenko sau khi dẫn trước 1 set và 3-0 trong set thứ hai.[10]

Cô đã được tặng giải thưởng Cetățean de onoare ("Công Dân Danh Dự") của thành phố Bucharest vào năm 2018.[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “WTA Tennis English”. WTA Tennis. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ “Simona Halep”. Tennis.com. 
  3. ^ (tiếng România) “Simona Halep are antrenor nou. Andrei Pavel a intrat în echipa numărul 2 WTA. Cu cine a mai lucrat ”Cneazul””. Libertatea. 29 tháng 8 năm 2017. 
  4. ^ “WTA ranking and prize money”. WTA (bằng tiếng Anh). 
  5. ^ “Simona a explicat cum se pronunta corect numele ei de familie” [Simona has explained how her last name is spoken out correctly] (bằng tiếng Romanian). Sport.ro. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2016. 
  6. ^ “Center Court: Women's 2013 Awards”. ESPN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2013. 
  7. ^ “Simona Halep beats Sloane Stephens to win French Open”. CBSNews. 9 tháng 6 năm 2018. 
  8. ^ “Serena Williams Punishes Simona Halep for Earlier Defeat at WTA Finals”. nytimes.com. 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  9. ^ “Simona Halep career statistics – Wikipedia”. en.m.wikipedia.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017. 
  10. ^ “Rafael Nadal crushes Stan Wawrinka to claim historic 10th French Open title”. cbssports.com. 11 tháng 6 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]