Vắc-xin vector virus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Vắc-xin vector virusvắc-xin sử dụng vector là virus nhằm đưa vật liệu di truyền mã hóa cho một kháng nguyên mong muốn vào tế bào vật chủ của người nhận. Tính đến tháng 4 năm 2021, 6 loại vắc-xin vector virus đã được ít nhất một quốc gia cấp phép, trong đó có 4 vắc-xin COVID-19 và 2 vắc-xin Ebola.

Công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Vắc-xin vector virus sử dụng virus đã chỉnh sửa làm vector để vận chuyển một đoạn axit nucleic mã hóa kháng nguyên cho một tác nhân lây nhiễm khác vào tế bào vật chủ. Vật chất di truyền này không tích hợp vào bộ gen của người.[1]

Vắc-xin vector virus cho phép biểu hiện tính kháng nguyên trong tế bào, tạo ra đáp ứng tế bào T gây độc tế bào mạnh mẽ, không giống như vắc-xin tiểu đơn vị (Subunit vaccine) chỉ tạo miễn dịch dịch thể. Hầu hết các vector virus được chỉnh sửa để không còn khả năng sao chép vì các gen cần thiết cho sao chép đã bị loại bỏ.[2]

Virus làm vector[sửa | sửa mã nguồn]

Adenovirus[sửa | sửa mã nguồn]

Các vector Adenovirus có ưu điểm là hiệu quả tải nạp cao, biểu hiện gen chuyển (transgene), và tính hướng mô (tissue tropism) của virus rộng, và có thể lây nhiễm cho cả tế bào đang phân chia và không phân chia. Một bất lợi là nhiều người đã có sẵn khả năng miễn dịch với adenovirus do tiếp xúc trước đó. Serotype (typ huyết thanh) adenovirus 5 ở người thường được sử dụng vì nó có thể dễ dàng được tạo ra với hiệu giá kháng thể cao.[2]

Kể từ tháng 4 năm 2021, 4 loại vắc-xin vector adenovirus cho COVID-19 đã được ít nhất một quốc gia ủy quyền, gồm:

Zabdeno, liều đầu tiên của vắc-xin Zabdeno / Mvabea Ebola, có nguồn gốc từ serotype adenovirus 26 của người, biểu hiện glycoprotein trên biến thể Mayinga của Zaire ebolavirus.[11] Cả hai liều đều là vector không sao chép và mang mã di truyền của một số protein virus Ebola.[12]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vắc-xin rVSV-ZEBOVvắc-xin Ebola. Đây là vắc-xin DNA tái tổ hợp sử dụng vật chất di truyền của virus viêm miệng mụn nước (VSV) biến đổi gen, vắc-xin này có khả năng sao chép.[13][14] Gen quy định glycoprotein vỏ VSV tự nhiên được thay thế bằng gen virus Ebola chủng Zaire 1995 tại Kikwit.[15][16][17]

Mvabea, liều thứ hai của vắc-xin Zabdeno / Mvabea Ebola, là một vector Ankara được biến đổi từ một loại Poxviridae (gây bệnh đậu mùa). Cả hai liều đều là vector không sao chép và mang mã di truyền của một số protein virus Ebola.[12]

Các virus khác được nghiên cứu làm vật trung gian cho vắc-xin gồm virus liên quan adeno (adeno-associated virus), retrovirus (kể cả lentivirus), cytomegalovirus, virus Sendai,[2] cũng như virus cúm và virus sởi.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các thử nghiệm lâm sàng trên người đã được tiến hành đối với vắc-xin vector virus chống lại một số bệnh truyền nhiễm như virus Zika, virus cúm, virus hợp bào hô hấp, HIV, sốt rét, SARS-CoV-2.[1]

Hai vắc-xin Ebola sử dụng công nghệ vector virus được sử dụng trong các đợt bùng phát dịch Ebola ở Tây Phi (2013–2016) và ở Cộng hòa Dân chủ Congo (2018–2020).[1] Vắc-xin rVSV-ZEBOV đã được chấp thuận sử dụng trong y tế ở Liên minh Châu Âu vào tháng 11 năm 2019,[18] và ở Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2019.[19][20] Vắc-xin Zabdeno / Mvabea được chấp thuận sử dụng trong y tế tại Liên minh Châu Âu vào tháng 7 năm 2020.[12][21][22]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

 

  1. ^ a b c d “Understanding and Explaining Viral Vector COVID-19 Vaccines”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention. 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021.
  2. ^ a b c Ura T, Okuda K, Shimada M (tháng 7 năm 2014). “Developments in Viral Vector-Based Vaccines”. Vaccines. 2 (3): 624–41. doi:10.3390/vaccines2030624. PMC 4494222. PMID 26344749.
  3. ^ Clinical trial number NCT04400838 for "Investigating a Vaccine Against COVID-19" at ClinicalTrials.gov
  4. ^ “A Phase 2/3 study to determine the efficacy, safety and immunogenicity of the candidate Coronavirus Disease (COVID-19) vaccine ChAdOx1 nCoV-19”. EU Clinical Trials Register. European Union. ngày 21 tháng 4 năm 2020. EudraCT 2020-001228-32. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  5. ^ “How Gamaleya's Vaccine Works”. The New York Times. ngày 8 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  6. ^ Clinical trial number NCT04436471 for "An Open Study of the Safety, Tolerability and Immunogenicity of the Drug 'Gam-COVID-Vac' Vaccine Against COVID-19" at ClinicalTrials.gov
  7. ^ Clinical trial number NCT04436276 for "A Study of Ad26.COV2.S in Adults" at ClinicalTrials.gov
  8. ^ Clinical trial number NCT04505722 for "A Study of Ad26.COV2.S for the Prevention of SARS-CoV-2-Mediated COVID-19 in Adult Participants" at ClinicalTrials.gov
  9. ^ Zhu FC, Guan XH, Li YH, Huang JY, Jiang T, Hou LH, và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2020). “Immunogenicity and safety of a recombinant adenovirus type-5-vectored COVID-19 vaccine in healthy adults aged 18 years or older: a randomised, double-blind, placebo-controlled, phase 2 trial”. Lancet. 396 (10249): 479–488. doi:10.1016/S0140-6736(20)31605-6. PMC 7836858. PMID 32702299.
  10. ^ Clinical trial number NCT04566770 for "Phase IIb Clinical Trial of A COVID-19 Vaccine Named Recombinant Novel Coronavirus Vaccine (Adenovirus Type 5 Vector)" at ClinicalTrials.gov
  11. ^ Clinical trial number NCT02313077 for "A Safety and Immunogenicity Study of Heterologous Prime-Boost Ebola Vaccine Regimens in Healthy Participants" at ClinicalTrials.gov
  12. ^ a b c “Johnson & Johnson Announces European Commission Approval for Janssen's Preventive Ebola Vaccine” (Thông cáo báo chí). Johnson & Johnson. ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2020.
  13. ^ Marzi A, Ebihara H, Callison J, Groseth A, Williams KJ, Geisbert TW, Feldmann H (tháng 11 năm 2011). “Vesicular stomatitis virus-based Ebola vaccines with improved cross-protective efficacy”. The Journal of Infectious Diseases. 204 Suppl 3 (suppl 3): S1066-74. doi:10.1093/infdis/jir348. PMC 3203393. PMID 21987743.
  14. ^ “Ervebo (Ebola Zaire Vaccine, Live) Suspension for intramuscular injection” (PDF). Merck Sharp & Dohme.
  15. ^ Martínez-Romero C, García-Sastre A (tháng 11 năm 2015). “Against the clock towards new Ebola virus therapies”. Virus Research. 209: 4–10. doi:10.1016/j.virusres.2015.05.025. PMID 26057711.
  16. ^ Choi WY, Hong KJ, Hong JE, Lee WJ (tháng 1 năm 2015). “Progress of vaccine and drug development for Ebola preparedness”. Clinical and Experimental Vaccine Research. 4 (1): 11–6. doi:10.7774/cevr.2015.4.1.11. PMC 4313103. PMID 25648233.
  17. ^ Regules JA, Beigel JH, Paolino KM, Voell J, Castellano AR, Hu Z, và đồng nghiệp (tháng 1 năm 2017). “A Recombinant Vesicular Stomatitis Virus Ebola Vaccine”. The New England Journal of Medicine. 376 (4): 330–341. doi:10.1056/NEJMoa1414216. PMC 5408576. PMID 25830322.
  18. ^ “Ervebo EPAR”. European Medicines Agency (EMA). ngày 12 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2020. Text was copied from this source which is © European Medicines Agency. Reproduction is authorized provided the source is acknowledged.
  19. ^ “First FDA-approved vaccine for the prevention of Ebola virus disease, marking a critical milestone in public health preparedness and response”. U.S. Food and Drug Administration (FDA). ngày 19 tháng 12 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2019. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  20. ^ “Ervebo”. U.S. Food and Drug Administration (FDA). ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2020.
  21. ^ “Zabdeno EPAR”. European Medicines Agency (EMA). ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  22. ^ “Mvabea EPAR”. European Medicines Agency (EMA). ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]