Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh nha phiến lần thứ Nhất
Một phần của Chiến tranh Nha phiến
Destroying Chinese war junks, by E. Duncan (1843).jpg
Nemesis phá hủy tàu chiến Trung Quốc junks trong Trận Chuenpee thứ nhì, 7 tháng 1 năm 1841
Thời gian 18 tháng 3 năm 1839 – 29 tháng 8 năm 1842[1]
(3 năm, 5 tháng, 1 tuần và 4 ngày)
Địa điểm Trung Quốc
Kết quả Anh chiến thắng, Điều ước Nam Kinh
Thay đổi lãnh thổ Đảo Hồng Kông nhượng cho Anh
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland
Trung Quốc
Chỉ huy và lãnh đạo
Lực lượng
19.000 quân[2]Hàng chục tàu chiến cỡ lớn và vừa 200.000 quân
Thương vong và tổn thất
69 tử trận
451 bị thương
18.000–20.000 bị tử trận hoặc bị thương (ước)
Nguồn thương vong:[2]

Chiến tranh nha phiến lần thứ Nhất (1839-1842), còn được gọi là chiến tranh nha phiến và Chiến tranh Anh-Trung Quốc, là cuộc chiến tranh giữa Vương quốc Liên hiệp Anh và Irelandnhà Thanh trên quan điểm trái ngược nhau của họ về quan hệ ngoại giao, thương mại, hành chính tư pháp cho người nước ngoài, và nhất là việc Anh quốc buôn bán thuốc phiện vào Trung Quốc[3].

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn bán thuốc phiện của Anh quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ 17 và 18, nhu cầu đối với hàng hóa Trung Quốc (đặc biệt là lụa, đồ sứ, và trà) tại thị trường châu Âu đã tạo ra một sự mất cân bằng thương mại do các thị trường hàng hóa phương Tây ở Trung Quốc hầu như không tồn tại; Trung Quốc chủ yếu dựa vào chế độ tự cung tự cấp và người châu Âu không được phép buôn bán vào bên trong Trung Quốc.

Anh quốc nhập khẩu từ Trung Quốc các hàng len, thiếc, đồng, pha lê; cùng các hàng vải đến từ Ấn Ðộ. Trung Quốc xuất khẩu qua thương gia Anh các hàng trà, tơ lụa, điều, vải bố, đồ sứ. Lúc đầu mỗi năm Trung Quốc xuất khẩu trà khoảng 30 vạn cân, cuối thế kỷ thứ 18 lên đến 1.800 vạn cân, đến thế kỷ thứ 19 đạt 2.000 vạn cân; chiếm trên 90 % hàng xuất khẩu. Trong một xã hội nông nghiệp tự túc như Trung Quốc thời đó, hàng của nước Anh không bán được; nên thương gia Anh phải dùng bạc nén [ngân lượng] để mua trà, cứ 100 cân gíá 19 lượng. Số bạc nén thương gia Anh bán hàng tại Trung Quốc, chỉ bằng 1/10 số cần mua. Bạc châu Âu đổ vào Trung Quốc khi các chế độ Quảng Châu (nhất cảng thông thương), thiết lập vào giữa thế kỷ 17, giới hạn thương mại đường biển đến Quảng Châu và với thương nhân Trung Hoa của Mười ba nhà máy. Công ty Đông Ấn Anh đã có quyền độc quyền phù hợp với thương mại của Anh. Lúc này tại Âu châu chủ nghĩa trọng thương thịnh hành, quý trọng hiện kim, người Anh cảm thấy việc buôn bán tại Trung Quốc tổn thất cho quốc gia rất nhiều; nên khi phát hiện thuốc phiện là mặt hàng dễ bán, bèn chú tâm buôn thứ hàng này. Công ty Đông Ấn Anh quốc bắt đầu bán đấu giá cây thuốc phiện được trồng trên các đồn điền của họ ở Ấn Độ cho các thương nhân nước ngoài độc lập để đổi lấy bạc.

Thuốc phiện sau đó được vận chuyển đến bờ biển Trung Quốc và bán cho thương lái Trung Quốc và họ bán lẻ thuốc bên trong Trung Quốc. Điều này ngược lại dòng chảy của bạc và số lượng ngày càng gia tăng người nghiện thuốc phiện đã cảnh báo các quan chức Trung Quốc.

Năm 1773, công ty Ðông Ấn Ðộ có được độc quyền mua nha phiến tại Ấn Ðộ, bèn khuyến kích trồng thêm, khống chế vận tải tiêu thụ. Trung Quốc mỗi năm nhập khẩu từ 4.000 rương lên đến 6.000 rương; mỗi rương giá từ 140 lạng bạc tăng lên đến 350 lượng. Năm 1796, Trung Quốc đình chỉ đánh thuế nha phiến, coi như hàng cấm. Sau đó 4 năm, Tổng đốc Lưỡng Quảng vạch rõ rằng nha phiến “đối với Di nước ngoài là đất bùn, nhưng đối với ta là hàng hóa bạc nén”, khiến cho dân nội địa trở thành thất nghiệp; ông là người đầu tiên tấu trình về mối họa nha phiến về khía cạnh kinh tế dân sinh.

Từ năm 1809 đến 1817, nhà Thanh có 5 lần ra chỉ dụ cấm thuốc phiện. Thuyền nước ngoài tiến đến cửa khẩu, do Hàng thương cam kết bảo chứng rằng không chở nha phiến, nếu tra ra thuyền bị đuổi về, những người buôn bán riêng với người nước ngoài bị trừng trị nặng. Nhưng rồi trở thành vô hiệu, gian dân và quan địa phương cấu kết chia lời, thương thuyền Cảng Cước chuyển vận số lượng lớn, giao dịch buôn bán ngay tại Áo Môn, Hoàng Phố.

Ðầu thế kỷ thứ 19, mậu dịch chính quy tại Trung Quốc phần lớn xuất siêu. Năm 1812, hàng nhập khẩu hóa giá trị 1.270 vạn lượng, xuất khẩu ước 1.510 vạn lượng; năm 1813, nhập khẩu 1.260 vạn lượng, xuất khẩu ước 1.290 vạn lượng. Số liệu này căn cứ vào sổ bạ của Hàng thương tại Quảng Châu. Nhưng nha phiến là vật cấm, không ghi vào sổ bạ; nếu đem tất cả nha phiến nhập vào, thì số nhập siêu đã rất lớn. Năm 1818, số hàng nhập khẩu là 1.880 vạn lượng, xuất khẩu khoảng 1400 vạn lượng, nếu kể thêm 300 vạn lượng nha phiến nhập vào thì số nhập siêu của Trung Quốc lên tới trên 700 vạn lượng bạc.

Ðời Gia Khánh cấm thuốc phiện bị thất bại, Ðầu thời Ðạo Quang, vấn đề này được nhà đương cục quan tâm. Số lượng nha phiến tiêu thụ vẫn tiếp tục tăng : từ năm 1821-1828, trung bình mỗi năm hơn 9.000 rương; 1828-1835, 18.000 rương; 1835-1838, hơn 39.000 rương. Mỗi rương giá bình quân 400 lượng. Ðầu thế kỷ thứ 19, người Mỹ mua thuốc phiện từ Thổ Nhĩ Kỳ chuyển đến Quảng Châu, mỗi năm cũng đến trên 1.000 rương. Sau năm 1831, nhờ bán thuốc phiện, mỗi năm người Anh lấy bạc nén từ Quảng Châu đến 400 vạn lượng; những điều cấm đoán chỉ ghi trên giấy tờ, còn cái họa về nha phiến và thất thoát bạc nén thì ngày càng nghiêm trọng.

Dưới thời Thanh, dân chúng mua bán bằng tiền đồng, nhưng ngân khố quốc gia lấy bạc nén làm chuẩn. Nhân dân nạp thuế đều căn cứ vào giá bạc nén cao hạ, dùng tiền nộp. Bởi vậy giá bạc nén ảnh hưởng lớn đến dân sinh. Do bạc chảy ra nước ngoài ngày càng nhiều (để nhập khẩu thuốc phiện), giá bạc nén càng cao, khiến vật giá tăng cao, nhân dân phải dùng nhiều tiền đồng nạp thuế. Cuối thế kỷ thứ 18, 1 lượng bạc đổi được 7 hoặc 8 trăm tiền đồng; đầu thế kỷ thứ 19, đổi được trên dưới 1.000 tiền đồng; từ 1821-1838, từ 1.200, 1.300 đến trên 1.600 tiền đồng; trong vòng 40 năm giá bạc nén tăng lên gấp đôi. Nhà nông không có đủ tiền để nạp thuế đúng hạn, tài chính thiếu thốn, nhà đương cục buộc phải chú ý đến bạc nén tuồn ra do buôn lậu nha phiến.

Bạc nén thất thoát chưa phải vấn đề lớn nhất, mà cái chính là thuốc phiện vốn là chất độc “tuyệt nhân mệnh lại tổn thương nguyên khí”. Nguồn thuốc phiện càng rộng, tiêu thụ càng lớn thì bạc càng thiếu hụt, quốc kế dân sinh càng khó khăn, phong tục càng đồi bại. Một sỹ phu nhận xét: “Trên thì quan phủ, khoa bảng thân sĩ; dưới đến công, thương, con hát, tôi đòi; cho đến phụ nữ, tăng ni, đạo sĩ, đều hút thuốc phiện. Một khi đã nghiền, thì một giờ không bỏ được, gia đình trung lưu thường bị phá sản; thứ khói thuốc này quấy nhiễu trăm mạch, đưa đến bệnh hoạn, lâu rồi tinh thần đại hao, không thể cứu trị.” Vua Đạo Quang từng nói “Vật này không cấm tuyệt, khiến lưu hành trong nội địa, không những tan nhà, mà còn tan cả nước.”

Nhà Thanh cấm thuốc phiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vài năm 1839, Hoàng đế Đạo Quang đã bác bỏ đề nghị hợp pháp hoá và thu thuế thuốc phiện, đã bổ nhiệm Lâm Tắc Từ xử lý vấn đề bằng cách bãi bỏ việc buôn bán thuốc phiện.

Tranh vẽ Lâm Tắc Từ

Lâm Tắc Từ [1785-1850] người tỉnh Phúc Kiến, xuất thân Tiến sĩ ; lúc 48 tuổi giữ chức Tuần phủ Giang Tô, 53 tuổi Tổng đốc Hồ Quảng. Ông ta là người tài đức kiêm toàn, ngôn hành xứng với chức vụ, thanh liêm chính trực. Ông rất lưu tâm đến thời cuộc, “mắt thấy nha phiến vô cùng độc hại, tâm lòng như sôi sục”. Trong thời gian giữ chức Tuần phủ Giang Tô [1832-1833] đã tối thiểu hai lần dâng tấu đề cập đến họa nha phiến, “đối với cái hại cho quốc kế dân sinh, lửa giận khiến tóc muốn dựng đứng lên”, “Nha phiến nếu không cấm tuyệt, thì nước mỗi ngày một nghèo, dân mỗi ngày một yếu; chỉ hơn chục năm sau, trung nguyên không còn quân mạnh có thể ngự địch, không có bạc nén để lo quân lương”. Ông hết sức ủng hộ việc mạnh tay cấm thuốc phiện. Ông lập luận cái hại của nha phiến quá sâu, phép thường không thể ngăn chặn được, dùng tử hình cấm thuốc phiện chính hợp với đạo lý “trị tội chết một kẻ để người khác không còn phải chết thêm”.

Lâm Tắc Từ nhấn mạnh cái hại của nha phiến qua hai lãnh vực kinh tế, quốc phòng khiến vua Ðạo Quang rất xúc động, trong ngày ban chiếu chỉ tưởng lệ, triệu Lâm Tắc Từ đến gặp mặt ; trong 7 ngày từ ngày 28/12/1838 đến 3/1/1839 gặp 8 lần, mỗi lần khoảng 1 giờ rưỡi. Ban cho chức Khâm sai đại thần, tra biện hải khẩu Quảng Ðông, tiết chế Thủy sư, với trọng trách thanh tra nha phiến. Ðồng thời mệnh Tổng đốc, Tuần phủ Quảng Ðông ra sức hợp tác, nhắm “trừ sạch ô uế, đoạn tuyệt gốc rễ”. Lâm Tắc Từ cũng biết “thân hãm nguy cơ, nhưng từ chối không được, chỉ biết đem hết lòng thành, mong trừ mối họa lớn cho Trung nguyên”. Vua Ðạo Quang thì “huấn dụ thiết tha, ủy nhiệm trọng chức”, khiến Lâm Tắc Từ “chảy nước mắt nhận chức, còn họa phúc vinh nhục không màng đến”.

Sau khi lãnh trách nhiệm lập tức điều tra việc nhập hàng lậu tại Quảng Ðông, cùng giao cho Tổng đốc, Tuần phủ tra bắt gian thương. Vào ngày 10/3/1839, Lâm Tắc Từ ban ra 2 đạo dụ đưa cho người ngoại quốc, nội dung buôn thuốc phiện là tội, lệ cấm rất nghiêm, không thể buôn lén; các phà chở nha phiến phải mang nộp quan, không được tàng trữ chút nào. Lại đưa ra bản cam kết bằng chữ Hán và chữ nước ngoài, cam đoan “Từ nay thuyền đến không được chở kèm nha phiến; nếu mang đến, một khi bắt được, hàng hóa phải nạp quan, bản thân chịu tội chết, thuận tình cam chịu tội”. Ông nhấn mạnh pháp luật phải thi hành “Nếu một ngày chưa hết nha phiến, thì bản Ðại thần chưa trở về; thề thủy chung với công việc này, không có lý gì để dừng lại.” Gần 100 năm nay, chính phủ Trung Quốc đối với việc thông thương với Tây phương, chưa bao giờ kiên quyết như vậy.

Lâm Tắc Từ giám sát việc thiêu hủy thuốc phiện

Ngày 27/3/1839, Lâm Tắc Từ đã tịch thu 20.283 két thuốc phiện (khoảng 1.210 tấn hoặc 2.660.000 bảng Anh) mà không đưa ra bồi thường, thương mại bị phong toả, và thương nhân nước ngoài chỉ giới hạn với khu vực của họ[4]. Ngày 3/6 thực hành thiêu hủy; trước đó nơi bờ biển tại Hổ Môn chọn một chỗ thích hợp đào vũng dẫn nước vào, đổ nhiều muối, đem nha phiến trộn vào, cùng thêm vôi vào dung dịch, lấy bừa sắt bừa kỹ, trộn lật, rồi tống ra biển, thời gian mất 20 ngày mới thiêu hủy xong.

Muốn đoạn tuyệt nha phiến từ gốc, khi Lâm Tắc Từ bệ kiến vua Ðạo Quang, tâu sẽ dùng hịch gửi vua nước Anh đề nghị cấm bán thuốc phiện sang Trung Quốc. Lúc mới đến Quảng Ðông, Lâm Tắc Từ đã soạn bản chiếu hội [thông báo] gửi cho Nữ hoàng Victoria [1819-1901]. Nội dung chiếu hội trình bày việc thông thương cần có lợi cho hai bên, không thể “dùng vật hại người để mưu cầu không chán”. Nước Anh cấm nha phiến rất nghiêm, đã biết rõ cái hại của nha phiến; vậy không thể chuyển sang hại Trung Quốc, và “Người ta giết một mạng người, thì phải đền mạng, huống hồ nha phiến hại người, nào chỉ một mạng!”. Xét theo đạo đức thì lập luận của Lâm Tắc Từ không sai vào đâu; nhưng theo quan điểm vụ lợi của Tây phương thì lời khuyên của ông chỉ là vô nghĩa.

Anh quốc chuẩn bị tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1839, sau khi nạp nha phiến, Charles Elliot mấy lần gửi báo cáo cho Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng H. Palmerston kiến nghị cấp tốc hành động, cũng xin Tổng đốc Ấn Ðộ phái quân hạm đến. Vào đầu tháng 8, thương gia tại Luân Ðôn hội họp thảo luận các vấn đề đối với Trung Hoa, cùng với hiệp hội Ấn Ðộ và Trung Quốc [thành lập năm 1836] nhấn mạnh các điều: buôn bán nha phiến có lợi cho nước Anh nên cần phát triển, cưỡng bách Trung Quốc bồi thường số nha phiến bị thu, mở rộng các cảng khẩu tại duyên hải và sông Trường Giang, thương nhân Trung, Anh trực tiếp giao dịch, người Anh được mang quyến thuộc đến cư trú nếu như Trung Quốc không chịu mở cảng khẩu thì buộc phải cắt nhượng các đảo. Lại cho rằng lúc này là thời cơ thích hợp đánh Trung Quốc, vũ lực có thể thu hiệu quả ngoài mong ước. Dư luận nước Anh thì rúng động vì nghe những tin tức tuyên truyền thổi phồng như: quan dân nước Anh tại Trung Quốc bị bạo lực hiếp chế, mất tự do, bị giam cầm đến sắp chết đói, lại uy hiếp đòi xử tử... Thương gia tại các thành thị lớn cũng rầm rộ gửi thư cho chính phủ Anh yêu cầu bảo hộ quyền lợi thương gia tại Trung Quốc. Ngày 18/10/1839, Palmerston báo cho Charles Elliot biết rằng Anh sẽ mang quân đến. Tháng giêng năm 1840, Nữ hoàng Victoria diễn thuyết tại quốc hội nội dung mật thiết lưu ý đến quyền lợi người Anh tại Trung Quốc.

Chính phủ Anh, mặc dù không chính thức phủ nhận quyền của Trung Quốc kiểm soát nhập khẩu thuốc phiện, phản đối việc tịch thu bất ngờ này và sử dụng sức mạnh hải quân và pháo binh của mình gây chiến với quân nhà Thanh và giành thắng lợi nhanh chóng[3].

Tương quan lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời bấy giờ, quân Anh trang bị loại vũ khí tiêu chuẩn hạng nhẹ - súng nòng trơn mồi bằng đá lửa có gắn lưỡi lê. Trong khi đó, quân đội nhà Thanh chỉ có phân nửa người được sử dụng súng ống, đa phần là súng điểu thương. Loại súng điểu thương được quân Thanh sử dụng có kết cấu tương tự như súng không nòng xoắn của Anh quốc. Tuy nhiên, súng của quân Thanh có tốc độ xạ kích kém hơn (mỗi phút bắn ra 2 phát đạn), độ chính xác cũng thấp hơn so với súng đá lửa nòng trơn của quân địch.

Theo lý thuyết, súng của quân Anh mỗi phút có thể bắn ra 3 phát đạn, tỷ lệ trúng mục tiêu ở 50 mét là 90%. Trong khi đó, súng của Thanh quân chỉ bắn được 2 phát đạn một phút, tỷ lệ trúng đạt 70%. Giả sử trên chiến trường, mỗi bên có 10 quân sĩ, khoảng cách đến mục tiêu là như nhau, thì trong vòng 1 phút, quân Anh bắn được 30 phát súng, trúng 27 mục tiêu; còn quân Thanh bắn được 20 phát đạn và chỉ trúng 14 mục tiêu. Từ phép tính ấy, có thể thấy súng đá lửa nòng trơn của quân Anh có hiệu năng cao gấp 2 lần so với súng điểu thương của quân Thanh. Tuy nhiên đó là khi quân số 2 bên ngang nhau, còn thực tế thì quân Thanh đông hơn nhiều, nên hoàn toàn có thể dựa vào số lượng áp đảo để bù đắp thiếu hụt này.

Tương tự như súng ống, pháo của Trung Hoa cũng là loại cũ hơn, tầm bắn thấp hơn và và độ chính xác không cao.

Đội quân của Anh quốc được trang bị chiến thuyền có pháo giúp họ làm chủ mặt biển, cũng nắm trong tay quyền tấn công chủ động. Về mặt này thì quân Thanh hoàn toàn thua kém, hải quân Thanh chỉ toàn là các tàu buồm cỡ nhỏ, hỏa lực yếu và chạy chậm nên không thể đọ nổi với tàu Anh. Để phòng ngừa khả năng đổ bộ xâm lược của quân Anh, nhà Thanh triều phải bố trí phòng vệ ở mười mấy cửa biển, khiến lực lượng bị phân tán, lại thêm giao thông và liên lạc khó khăn đã khiến quân đội Thanh triều khó có thể tập trung binh lực.

Về chất lượng binh sỹ, quân Anh phần lớn được huấn luyện kỹ, có kỷ luật tốt và giàu kinh nghiệm chiến đấu. Còn quân đội nhà Thanh thì sau 200 năm hòa bình đã trở nên rất suy thoái, ngay cả quân Bát Kỳ được coi là tinh nhuệ nhất cũng đã suy đồi, trở nên yếu ớt, không còn khả năng chiến đấu dũng mãnh như thời kỳ lập quốc. Đến thời Đạo Quang, nhà vua từng thao duyệt hỏa khí doanh Bát kỳ ở kinh sư, là binh chủng chuyên về hỏa khí khi đó, trước giờ vẫn xưng là tinh hoa của Bát kỳ, vậy mà kết quả là đa phần đại pháo bắn không trúng bia, đạn thì có viên bay nửa chừng rớt xuống đất.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/1840 quân Anh từ mũi Hảo Vọng mang 16 chiếc Quân hạm Ấn Ðộ, 4 tàu pháo cỡ lớn chạy bằng động cơ hơi nước, 28 thuyền vận tải, 4.000 quân thủy bộ hành trình đến vùng biển Quảng Ðông.

Sau khi chiến hạm Anh xuất hiện tại biển Quảng Ðông, Lâm Tắc Từ sợ chúng theo gió nam xâm phạm phía bắc; lập tức báo cho các tỉnh đề phòng. Ngoại trừ Ðặng Ðình Trinh mới được điều nhiệm chức Tổng đốc Mân Chiết có quân phòng, các tỉnh khác cho rằng sự việc xẩy ra tại Quảng Ðông nên không lưu ý.

Chiến lược của quân Anh là gây áp lực tại phương bắc, khiến cho Thanh đình mau bị khuất phục; cho nên không đánh Quảng Châu, chỉ phong tỏa mà thôi. Khi qua Hạ Môn [Phúc Kiến] có sự xung đột, một số pháo đài phòng thủ bị tàu Anh bắn pháo, quân lính Thanh thương vong trên 20 người, riêng quân Anh cũng bị tổn thất.

Tàu Anh đánh chìm tàu Trung Quốc trong Chiến tranh Nha phiến

Hải quân Hoàng gia Anh lên kế hoạch chiếm đảo Chu San mà mục tiêu chính là kiểm soát cảng Định Hải, mở đường cho các hoạt động quân sự của Anh ở Trung Quốc. Cuộc chiến diễn ra chóng vánh trong hai ngày 5-6/7/1840, khi 5 tàu chiến Anh đánh chìm 13 tàu chiến Trung Quốc, mở đường để 3.650 binh sĩ Anh đổ bộ lên đảo. Thương vong bên phía Anh chỉ duy nhất một người. Quân Anh cướp bóc rất nhiều, khiến dân Trung Quốc căm thù, trật tự không dễ duy trì, việc cấp dưỡng cho quân Anh gặp khó khăn, không ít bị nhiễm bệnh hoặc tử vong.

Quân Anh dùng Ðịnh Hải làm cơ sở để kế tục tiến về phía bắc, xuất hiện vùng cửa khẩu Bạch Hà (Ðại Cô, Thiên Tân). Tâm lý vua Ðạo Quang đã bị giao động, hiện tại hạm đội Anh đến gần kinh kỳ, uy lực mạnh như vậy, đại họa trong gang tấc; nhưng đối với riêng nhà vua thì lời lẽ của Anh quốc vẫn tỏ ra cung kính, đề cập rằng nước Anh động binh vì giận quan binh tại Quảng Châu. Đạo Quang bèn dựa theo lời lẽ của họ, sai Kỳ Thiện đi đàm phán.

Kỳ Thiện hứa hẹn với nước Anh là sẽ bồi thường thiệt hại và xử phạt các quan lại ở Quảng Đông, hơn nữa phía bắc khí hậu lạnh không tiện dừng lâu, quan quân tại Ðịnh Hải mắc nhiều bệnh, bèn chấp thuận trở về Quảng Ðông, trả lại Ðịnh Hải cho Trung Quốc, để đợi tiếp tục nghị bàn. Trung tuần tháng 9/1840, hạm đội Anh rời Ðại Cô [Thiên Tân] hướng về phía nam. Riêng Lâm Tắc Từ, Ðặng Ðình Trinh bị cách chức nghị xử. Lâm Tắc Từ sau khi bị tội, vẫn ra sức tâu nha phiến đáng nghiêm trừng, người Anh dục vọng vô đáy, việc phòng biển không thể xem thường, cần phải tạo thuyền chế pháo; lúc này vua Ðạo Quang chỉ muốn hòa hoãn, nên chê rằng “lời tâu hồ đồ”.

Vào cuối tháng 11/1840, Kỳ Thiện đến Quảng Châu đàm phán với Charles Elliot. Kỳ Thiện bằng lòng bồi thường một phần tiền nha phiến, giao thiệp hai bên bình hành, nhưng cự tuyệt việc cắt hải đảo cho Anh. Ðạo Quang cho điều binh tăng viện Quảng Ðông, chuẩn bị đánh dẹp. Charles Elliot cũng thấy được ý đồ của Kỳ Thiện, nên quyết định đánh xong rồi thương nghị. Vào ngày 17/1/1841, quân Anh đột kích các pháo đài tại Ðại Giác, Sa Giác thuộc Hổ Môn [Quảng Ðông]; quân phòng thủ tử thương hơn 700, 11 binh thuyền bị thiêu hủy.

Kỳ Thiện nhượng bộ, lập hiệp nghị sơ bộ với Charles Elliot được gọi là “Xuyên Tỵ thảo ước”, đồng ý cắt nhường Hồng Kông, bồi thương 600 vạn nguyên, hai nước giao dịch bình đẳng, khôi phục mậu dịch tại Quảng Châu, phóng thích người Anh bị bắt tại Chiết Giang; quân Anh trả lại Sa Giác, Ðại Giác, cùng Ðịnh Hải. Ngày 26/1/1841, Hương Cảng chính thức rơi vào tay quân Anh. Vua Ðạo Quang muốn Kỳ Thiện đánh dẹp, lại nhận được tin không giữ được Ðại Giác, Sa Giác thì lại càng thêm giận dữ, bèn tuyên chiến với quân Anh vào ngày 27/1/1841, mệnh Kỳ Thiện và Y Lý Bố tại Chiết Giang cùng tiến quân. Ba ngày sau được tin Kỳ Thiện đã nhượng cho người Anh đất Hương Cảng, bèn phái thêm người cháu là Dịch Sơn làm Tĩnh nghịch tướng quân; cùng Quân cơ đại thần Thượng thư bộ Hộ Long Văn, Ðề đốc Hồ Nam Dương Phương làm Tham tán đại thần đến Quảng Châu tăng viện; cùng phủ nhận Xuyên Tỵ thảo ước. Ngoài ra Đạo Quang thảo chiếu chỉ trách mắng Kỳ Thiện nặng nề, bắt giải về kinh cùng tịch thu tài sản.

Đề đốc Quan Thiên Bồi

Quân Anh ra tay hành động trước. Ngày 26/1/1841, tức trước khi Bắc Kinh tuyên chiến một ngày, quân Anh tổng công kích Hổ Môn, pháo đài đều bị hủy hết, Ðề đốc Quan Thiên Bồi đốc chiến tới cùng và đã tử trận. Ngày thứ hai, pháo đài Ô Dõng tại Hổ Môn bị chiếm, quân phòng thủ bị bắt và giết hơn 1.000, số còn lại đào ngũ; binh thuyền Anh tiến đến Hoàng Phố (Quảng Ðông). Ngày thứ ba, Tham tán Dương Phương đến nơi, xin đình chiến. Quân các tỉnh đến tham chiến, thì chỉ lo mưu lợi “ngày ngày báo cáo tiêu dùng lương, tranh được cung ứng” còn việc đánh giặc không lo đến. Ngày 21/5/1841, khoảng 1.700 quân thủy bộ lợi dụng ban đêm, sử dụng thuyền nhỏ đột kích, dùng hỏa tiển, ống phun lửa đánh hỏa công, cướp phá Di quán, làm quân Anh quẫn bách. Sáng hôm sau 2.400 quân Anh phản công, cả ba đạo quân của triều đình đều bị thua. Trong 4 ngày, các vị trí quan trọng tại Quảng Châu đều mất, ngoài thành lửa cháy; Dịch Sơn chỉ huy 18.000 quân rút vào trong thành, tình trạng tuyệt vọng.

Ngày 27/5, Charles Elliot cùng đại biểu của Dịch Sơn đính lập điều ước như sau: Trong 6 ngày, Khâm sai đại thần Trung Quốc cùng quân lính rút ra khỏi thành 60 lý, nạp tiền chuộc thành 600 vạn, sau khi giao xong quân Anh rút ra khỏi Hổ Môn. Khi chưa giải quyết xong, không được đặt quân phòng thủ ; lại bồi thường tổn thất tại Di quán số tiền 30 vạn.

Trong khi quân đội triều đình hủ bại thì tinh thần phản kháng của nhân dân lại rất mãnh liệt. Qua một năm, nhờ sự cổ vũ của Lâm Tắc Từ, nhân dân Quảng Ðông tham gia tổ chức đoàn luyện, tinh thần chống địch dấy lên. Ngày 29/5/1841, quân Anh trên đường triệt thoái khỏi ngoại ô Quảng Châu đã cướp phá hiếp dâm; nên khoảng 200 quân Anh bị hơn 1000 dân vây tại vùng Tam Nguyên Lý [Quảng Ðông] phía bắc thành. Ngày hôm sau, 2.000 quân Anh đến tiếp viện, dân chúng vẫn không chịu rút; lúc bấy giờ mưa gió nổi lên, súng quân Anh bắn không hiệu quả, trong lúc giao tranh tử thương 20 người. Qua sự khuyên giải của viên Tri phủ Quảng Ðông mới được yên; đó là lần thứ nhất dân Quảng Ðông có hành động trực tiếp chống quân Anh. Kế đó nhân dân ban bố cáo văn “Thệ diệt Anh nghịch”, tinh thần cao, lòng tự tin mạnh; rồi các tổ chức chống Anh lần lượt thành lập.

Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng H. J. T. Palmerston trách cứ Charles Elliot đòi hỏi quá ít quyền lực khi đàm phán, vào ngày 30/4 đã triệu hồi Charles Elliot; cử Henry Pottinger [Phác Ðỉnh Tra] làm Toàn quyền với sứ mệnh đòi nhiều tiền bồi thường, buộc Trung Quốc mở thêm các cửa khẩu. Sir Henry Pottinger rời nước Anh vào ngày 5/6/1841, đến Áo Môn vào ngày 10/8, đây là chuyến đi nhanh nhất từ Âu Châu đên viễn đông lúc bấy giờ.

10 ngày sau, quân Anh huy động 3.500 người, xâm phạm phương bắc lần thứ hai. Bước thứ nhất đánh Hạ Môn [Phúc Kiến], Tổng binh Giang Kế Vân chết trận. Quân Anh phá pháo đài, rồi tiếp tục tiến đến Ðịnh Hải [Chiết Giang]. Tại nơi này trong mấy tháng nay, viên Khâm sai đại thần Dụ Khiêm phụ trách tỉnh Chiết Giang tích cực đề phòng, quân số khoảng 7.000. Quân Anh 3 lần tấn công, 3 viên Tổng binh Trịnh Quốc Hồng, Cát Vân Phi, Vương Tích Bằng mãnh liệt chống cự, cuối cùng vì vũ khí thua sút, lần lượt trận vong, quân lính tổn thất hơn 1.000; quân Anh tử trận khoảng 30 người chưa kể số bị thương. Ðịnh Hải thất thủ lần thứ hai vào ngày 1/10/1841, tuy nhiên dân chúng chống trả, người Anh chỉ kiểm soát được trong phạm vi 10 dặm xung quanh huyện thành, để làm chỗ dừng quân mùa đông, chờ đại binh tới. Vào ngày 10/10, quân Anh tiếp tục chiếm Trấn Hải [Chiết Giang], Dụ Khiêm trầm mình tự vẫn, Tổng binh Tạ Triều Ân đánh đến cùng rồi tử trận. Ngày 13, quân Anh chiếm lấy Ninh Ba [Chiết Giang], cướp bóc gian dâm, bị dân chúng chống đối bắt được hơn 40 quân Anh.

Ngày 10/3/1842, nhà Thanh huy động quân thủy lục 3 cánh cùng tiến, 1 cánh vào được thành Ninh Ba, nhưng bị đánh lui. Hơn 1.200 quân Anh truy kích đến Từ Khê [Chiết Giang], phía tây bắc Ninh Ba; quân hai bên giáp lá cà, quân Thanh chết gần 1.000 người trong đó có Phó tướng Chu Quí, phía quân Anh tổn thất hơn 20 người; suốt mấy tháng chuẩn bị phản công bị thất bại hoàn toàn.

Quân Anh sau khi được tăng viện, bèn tấn công yếu địa Sạ Phố tại vùng vịnh Hàng Châu [bắc Chiết Giang]. Vùng này quân phòng thủ trên 6.000 người. Vào ngày 8/5 quân Anh đổ bộ, lực lượng phòng thủ gồm quân Thiểm Tây, Cam Túc và kỳ binh kháng cự, cuối cùng cũng không cứu được Sạ Phố. Quân Thanh tử thương hơn 600 người, dân chúng bị giết hơn 700; quân Anh mất 30 người chết trong đó có 1 Thượng hiệu, bị thương 62 người. Vào đầu tháng 6, Hải quân Anh đến cửa khẩu Ngô Tùng [Thượng Hải], tại đây quân phòng thủ khoảng 1 vạn người. Sáng ngày 16 bắt đầu đánh, qua 2 giờ đồng hồ, Tổng đốc Lưỡng Giang Ngưu Giám sợ hãi bỏ trốn, Ðề đốc Giang Nam Trần Hoa Thành tử trận; Ngô Tùng, Bảo Sơn [Thượng Hải] đều mất, quân ở Thượng Hải bỏ thành chạy.

Mục tiêu kế tiếp của quân Anh là Trấn Giang, nơi giao điểm của Trường Giang và Vận Hà, cùng cố đô Nam Kinh. Vào tháng 7 đại quân Anh gồm 50 tàu chiến, 10 chiếc thuyền hơi nước, hơn 50 thuyền vận tải, 9.000 quân binh ngược theo sông Trường Giang. Quân Thanh tại ải Giang Âm [Giang Tô] quan trọng ven sông Trường Giang bỏ chạy, quân Anh bình yên ngược sông đến Trấn Giang. Quân trú phòng tại Trấn Giang gồm 6.000; thành trong là quân Bát Kỳ, thành ngoài là Lục doanh [người Hán]. Ngày 21/7, hơn 6.000 quân Anh, sau khi đánh chiếm thành ngoài, đánh thẳng vào thành trong; cùng với 1.500 quân Bát Kỳ cận chiến, quân Anh bị chết hơn 170 người, quân Kỳ chết khoảng 600, dân chúng tử thương rất nhiều, toàn thành bị đốt cướp, tan hoang. Ðối ngạn với Trấn Giang là thành Dương Châu rất lo lắng, chấp nhận nạp 50 vạn tiền cho quân Anh, nên không bị chiếm lãnh. Nhưng dân tại Trấn Giang và Dương Châu [Yangzhou] vẫn không chịu khuất phục, tiếp tục chống cự; vào ngày 4/8/1842 quân Anh tiến bức Nam Kinh.

Tháng 8/1842, Hải quân Anh đã kiểm soát Trường Giang. Chỉ trong vòng một tháng, quân Anh chiếm Thượng Hải, Chiết Giang, làm gián đoạn tuyến đường vận lương, khiến nhà Thanh kiệt quệ, buộc phải đàm phán. Tổng đốc Lưỡng Giang Ngưu Giám xin hòa; Henry Pottinger [Phác Ðỉnh Tra] đáp rằng đợi Khâm sai đại thần Kỳ Anh, Y Lý Bố đến sẽ thuận theo lời yêu cầu, có thể không đánh thành.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp ước Nam Kinh đã được ký kết vào ngày 29 tháng tám 1842 đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh nha phiến lần thứ Nhất giữa Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland và nhà Thanh của Trung Quốc. Nhà Thanh phải bồi thường chiến phí cho Anh, mở 11 cảng và cho truyền đạo tự do. Hương Cảng (Hong Kong) và vùng cửa sông Châu Giang được chuyển giao cho người Anh trong 99 năm và lợi ích của Anh phải được đặt lên hàng đầu khi Trung Quốc cân nhắc giao thương với bất kỳ quốc gia phương Tây nào khác.

Ðiều ước chủ yếu gồm: Chuẩn cho người Anh mang quyến thuộc đến cư trú; đặt 5 cảng khẩu mậu dịch: Quảng Châu [Quảng Ðông], Phúc Châu [Phúc Kiến], Hạ Môn [Phúc Kiến], Ninh Ba [Chiết Giang], Thượng Hải, thiết lập lãnh sự; cấp nhường Hương Cảng cho người Anh. Bồi thường nha phiến số tiền 600 vạn nguyên, tiền Hàng thương thiếu 300 vạn, tiền binh phí 1.200 vạn, tổng cộng 2.100 vạn nguyên; giao trước 600 vạn nguyên, số còn lại giao xong trong 4 năm. Chuẩn cho người Anh được tự do mậu dịch không kinh qua trung gian Hàng thương; trả người Anh bị bắt, khoan miễn cho người Trung Quốc từng giao dịch làm việc với Anh. Những hàng xuất khẩu đánh thuế một cách công bình; hàng hóa của nước Anh nhập khẩu theo lệ nạp thuế xong, thương nhân Trung Quốc vận chuyển không phải chịu thêm thuế. Sau khi Trung Quốc hứa thi hành hòa ước, quân Anh sẽ rút ra khỏi sông Trường Giang. Riêng Ðịnh Hải [Dinghai, Chiết Giang], đảo Cổ Lãng [Gulang, Phúc Kiến], thì đợi sau khi trả xong nợ và mở các cửa khẩu mới rút.

Đây là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên bất lợi cho Trung Quốc. Thất bại của hiệp ước trong việc thỏa mãn các mục tiêu của Anh về quan hệ ngoại giao và thương mại được cải thiện đã dẫn tới chiến tranh nha phiến lần thứ hai (1856–60).[5]. Tại Trung Quốc, cuộc chiến này được xem là bắt đầu Bách niên quốc sỉ, tức là 100 năm đất nước Trung Quốc bị sỉ nhục và xâu xé bởi ngoại quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Le Pichon, Alain (2006). China Trade and Empire. Oxford University Press. pp. 36–37. ISBN 0-19-726337-2.
  2. ^ a ă Martin, Robert Montgomery (1847). China: Political, Commercial, and Social; In an Official Report to Her Majesty's Government. Volume 2. James Madden. pp. 80–81.
  3. ^ a ă Tsang, Steve (2007). A Modern History of Hong Kong. I.B.Tauris. p. 3–13, 29. ISBN 1-84511-419-1.
  4. ^ Farooqui, Amar (tháng 3 năm 2005). Smuggling as Subversion: Colonialism, Indian Merchants, and the Politics of Opium, 1790–1843. Lexington Books. ISBN 0739108867. 
  5. ^ Tsang 2004, p. 29