Bách niên quốc sỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh Nhật Bản minh họa việc xử trảm tù binh Trung Quốc trong Chiến tranh Thanh-Nhật.

Bách niên quốc sỉ (giản thể: 百年国耻; phồn thể: 百年國恥; bính âm: bǎinián guóchǐ, tiếng Anh: century of humiliation, nỗi nhục trăm năm của đất nước) là một khái niệm sử học được dùng cho lịch sử Trung Quốc để nói tới giai đoạn các cường quốc châu Âu, Hoa KỳĐế quốc Nhật Bản can thiệp vào Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1839 tới 1949.[1] Khái niệm này được nhắc tới lần đầu vào năm 1915 trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc dâng cao nhằm phản đối Yêu sách hai mươi mốt điều của Nhật Bản đối với chính phủ Viên Thế Khải và sau đó được cả Quốc dân đảngCộng sản đảng phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc để kích động tinh thần dân tộc của dân chúng.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm bắt đầu của Bách niên quốc sỉ thường được coi là từ giữa thế kỷ 19 với thất bại của Nhà Thanh trước Đế quốc Anh trong Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất[3] với nạn nghiện thuốc phiện lan rộng và sự suy sụp nhanh chóng về mặt chính trị của Nhà Thanh.[4]

Các sự kiện chính trong Lịch sử Trung Quốc thường được coi là một phần của Bách niên quốc sỉ có thể kể tới các Hiệp ước bất bình đẳng mà nhà Thanh phải ký với các cường quốc như Điều ước Hoàng Phố (黄埔条约), Điều ước Ái Hồn (瑷珲条约), cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, Chiến tranh nha phiến lần thứ hai, sự kiện cướp phá Viên Minh Viên của liên quân các nước, chiến tranh Pháp-Thanh, chiến tranh Thanh-Nhật, cuộc Xâm lược Tây Tạng của Đế quốc Anh,[5] Yêu sách hai mươi mốt điều của Đế quốc Nhật và Chiến tranh Trung-Nhật. Trong giai đoạn này, Trung Quốc thất bại trong tất cả các cuộc xung đột mà nước này tham gia và sau đó thường xuyên phải thực hiện những nhượng bộ lớn trước các yêu sách của cường quốc thắng trận.[6]

Có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm kết thúc của Bách niên quốc sỉ. Cả Tưởng Giới ThạchMao Trạch Đông đều tuyên bố giai đoạn này kết thúc sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt khi Tưởng đề cao các hoạt động chống Nhật của chính quyền Quốc dân đảng trong chiến tranh thế giới thứ hai cũng như vị thế của Trung Quốc sau chiến tranh trong Khối Đồng Minh thắng trận năm 1945, còn Mao nhấn mạnh việc thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Ý niệm về sự kết thúc của Bách niên quốc sỉ sau đó còn được dùng để chỉ việc Chí nguyện quân Trung Quốc đẩy lùi quân đội Liên hiệp quốc trong Chiến tranh Triều Tiên, sự kiện trao trả Hồng KôngMa Cao về Trung Quốc năm 1997 và 1999, đôi khi là cả sự kiện tổ chức Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giai đoạn này vẫn chưa thể kết thúc chừng nào Đài Loan còn chưa thống nhất về Trung Quốc.[2][7]

Ý nghĩa và chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Bách niên quốc sỉ được dùng rộng rãi trong các nghiên cứu lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như trong trào lưu Dân tộc chủ nghĩa hiện đại tại Trung Quốc để nhấn mạnh vào "chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc",[8] đặc biệt là sau các sự kiện mang tính thời sự có liên quan như Sự kiện Hoa Kỳ ném bom Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade, Sự kiện đảo Hải Nam, các cuộc biểu tình đòi Độc lập cho Tây Tạng trong Hành trình rước đuốc Thế vận hội Mùa hè 2008.[9]

Một số nhà phân tích cho rằng khái niệm này được dùng để đối phó với các chỉ trích của phương Tây về tình trạng Nhân quyền tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay phản ứng của chính người dân Trung Quốc đối với nạn tham nhũng ở nước này, đồng thời củng cố cho luận điểm của Chính phủ Trung Quốc trong các cuộc tranh chấp về lãnh thổ với các quốc gia láng giềng cũng như học thuyết Trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc..[2][10][11] Cũng có phân tích cho rằng luận điểm Trung Quốc thất bại trong giai đoạn Bách niên quốc sỉ vì không chịu hoặc không thể hiện đại hóa quân sự là đơn giản hóa vấn đề, vì thực tế là Nhà Thanh đã đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa quân đội từ cuối thế kỷ 19 sau các thất bại trước cường quốc phương Tây mà ví dụ điển hình là Nhà máy công binh Hán Dương trong giai đoạn nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn. Luận điểm về sự tổn thương tinh thần của cả xã hội Trung Quốc (quốc sỉ) bởi các chiến thắng của cường quốc cũng vấp phải chỉ trích vì có phân tích cho rằng phần lớn nông dân Trung Quốc (chiếm tới 90% vào giai đoạn này) ít bị ảnh hưởng bởi những nhượng bộ của Trung Quốc đối với cường quốc nước ngoài và vì thế ít có khả năng bị tổn thương tinh thần vì nhưng sự kiện này.[12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Alison Adcock Kaufman, "The "Century of Humiliation," Then and Now: Chinese Perceptions of the International Order," Pacific Focus 25.1 (2010): 1-33.
  2. ^ a ă â Kilpatrick, Ryan (ngày 20 tháng 10 năm 2011). “National Humiliation in China”. e-International Relations. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ Paul A Cohen (2003). China Unbound. London: Routledge. tr. 148. 
  4. ^ Chang, Maria Hsia (2001). Return of the dragon: China's wounded nationalism. Westview Press. tr. 69–70. ISBN 978-0-8133-3856-9. 
  5. ^ "China Seizes on a Dark Chapter for Tibet", by Edward Wong, The New York Times, ngày 9 tháng 8 năm 2010 (ngày 10 tháng 8 năm 2010 p. A6 of NY ed.). Truy cập 2010-08-10.
  6. ^ Nike, Lan (ngày 20 tháng 11 năm 2003). “Poisoned path to openness”. Shanghai Star. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ Muthiah Alagappa (2001). Taiwan's Presidential Politics. New York City: M. E. Sharpe. tr. 33. 
  8. ^ W A Callahan. “National Insecurities: Humiliation, Salvation and Chinese Nationalism” (PDF). Alternatives 20 (2004): 199. 
  9. ^ Jayshree Bajoria (ngày 23 tháng 4 năm 2008). “Nationalism in China”. Council on Foreign Relations. 
  10. ^ “Narratives Of Humiliation: Chinese And Japanese Strategic Culture – Analysis”. Eurasia Review. International Relations and Security Network. Ngày 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ Callahan, William (ngày 15 tháng 8 năm 2008). “China: The Pessoptimist Nation”. The China Beat. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  12. ^ Jane E. Elliott (2002). Some did it for civilisation, some did it for their country: a revised view of the boxer war. Chinese University Press. tr. 143. ISBN 962-996-066-4. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.