Trung Quốc Quốc dân Đảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trung Quốc Quốc Dân Đảng)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung Quốc Quốc Dân Đảng
中國國民黨
"Blue Sky with a White Sun", the party emblem of the Kuomintang

Huy hiệu Quốc Dân Đảng.[1]
Lãnh tụ Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch
Chủ tịch Hồng Tú Trụ
Tổng thư ký Mạc Thiên Hổ
Phát ngôn viên Liệu Quốc Đống
Thành lập 10 tháng 10, 1919
Trụ sở số 232~234, Đoạn 2, đường Bát Đức, quận Trung Sơn, Đài Bắc, Đài Loan
Tổ chức thanh niên Đoàn Thanh niên Quốc dân Đảng
Thành viên (2016) 337.351
Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị
Chủ nghĩa Tam dân,
Chủ nghĩa chống cộng,
Chủ nghĩa bảo thủ,
Chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa
Thuộc quốc gia Trung Hoa Dân quốc
Thuộc tổ chức quốc tế Liên minh Dân chủ Quốc tế
Màu sắc chính thức Xanh lam
Trang web www.kmt.org.tw


Trung Quốc Quốc dân Đảng (chữ Hán: 中國國民黨), thường được gọi tắt là Quốc dân Đảng (國民黨) hay Kuomintang, Guomindang trong các tài liệu tiếng Anh, là một chính đảng thành lập sớm nhất, lâu đời nhất trong lịch sử Trung Quốc thời hiện đại. Quốc dân Đảng từng đóng vai trò lãnh đạo rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc nửa đầu thế kỷ 20, thậm chí có ảnh hưởng lớn đến phong trào dân chủ và độc lập dân tộc của các quốc gia lân cận, đặc biệt là Việt Nam.

Từng là một chính đảng lớn nhất Trung Quốc, Quốc dân Đảng từng nhiều lần bị chia rẽ dẫn đến sự suy giảm thành viên. Mặc dù vậy, hiện tại Quốc dân Đảng vẫn là một trong những chính đảng lớn nhất tham chính trong chính quyền Trung Hoa Dân quốc, bên cạnh một số chính đảng khác cũng có nguồn gốc từ Quốc dân Đảng như Tân Đảng. Tại đại lục, Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc giữ vai trò đảng tham chính trong chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, góp sức cùng Đảng Cộng sản Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm của Quốc Dân Đảng, Hưng Trung Hội, là một trong những nhóm ủng hộ lật đổ nhà Thanh và thiết lập nền cộng hòa. THQDĐ được sáng lập bởi Tống Giáo NhânTôn Dật Tiên một thời gian ngắn sau cách mạng Tân Hợi năm 1911.

Thành lập nền cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Dật Tiên là tổng thống lâm thời đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc, song ông không nắm trong tay sức mạnh về quân sự nên đã phải nhượng lại quyền tổng thống cho tướng Viên Thế Khải. Sau khi Viên Thế Khải qua đời, Trung Hoa rơi vào thời kì quân phiệt, khi đó QDĐ chỉ cai quản được một phần ở phía Nam.

Thống nhất Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tưởng Giới Thạch lên lãnh đạo, QDĐ đã chỉ huy Quốc Dân Cách mạng Quân dành được thắng lợi trong chiến dịch Bắc phạt năm 1928, kết quả là sự sụp đổ của chính quyền Bắc Dương và ngay sau đó Trung Hoa được tái hợp. Quốc Dân Đảng cầm quyền ở Đại lục từ năm 1928 cho tới khi rút lui ra đảo Đài Loan năm 1949, sau khi bị đánh bại bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc Nội chiến Trung Quốc.

Đấu tranh Quốc - Cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng minh lớn ở phía Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Thất bại ở Đại lục[sửa | sửa mã nguồn]

Từ độc đảng đến đa đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Đài Loan, Quốc dân Đảng tiếp tục đơn phương cầm quyền cho tới khi thực hiện cuộc cải cách dân chủ vào cuối thập niên 1970 và nới lỏng quyền lực hẳn vào thập niên 1990. Kể từ năm 1987, Trung Hoa Dân quốc không còn là một nhà nước độc đảng, tuy nhiên, Quốc dân Đảng vẫn là một trong những đảng phái chính, kiểm soát Lập Pháp Viện và hầu hết các hội đồng.

Kể từ khi Hiến pháp 1947 có hiệu lực, có 8 người giữ chức vụ Tổng thống Trung Hoa Dân quốc, trong đó có 6 người là đảng viên Quốc dân Đảng, chỉ có 2 người thuộc Dân tiến Đảng. Trong đó liên tục từ năm 1948 đến năm 2000 chức vụ Tổng thống do đảng viên Quốc dân Đảng nắm giữ. Người cuối cùng tính đến thời điểm hiện tại là Mã Anh Cửu, đắc cử Tổng thống năm 2008 và tái đắc cử năm 2012, kết thức nhiệm kỳ năm 2016.

Chủ thuyết chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng của Quốc dân Đảng là chủ nghĩa Tam Dân, do Tôn Dật Tiên đề xuất.

Xu hướng ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc dân Đảng là một thành viên của Liên Minh Dân chủ Quốc tế. Đồng hành cùng Thân dân Đảng, Tân Đảng, Quốc dân Đảng thuộc Liên minh Phiếm Lam (泛藍), lực lượng ủng hộ việc thống nhất với Đại lục, đối lập với Liên minh Phiếm Lục (泛綠) bao gồm Dân tiến Đảng, Đài liên Đảng, thường muốn nhấn mạnh Trung Hoa Dân Quốc là một quốc gia riêng biệt khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quốc dân Đảng chấp nhận Chính sách một Trung Quốc của Trung Hoa Dân quốc về mặt hiến pháp với việc tuyên bố chủ quyền với cả phần Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, kể từ năm 2008, nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc, Quốc dân Đảng đã ủng hộ những chính sách "ba không" theo định nghĩa của Tổng thống Mã Anh Cửu: "không thống nhất, không độc lập và không vũ lực" [2].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “中國國民黨 黨徽 - 中國國民黨全球資訊網【專題報導】” (bằng tiếng Traditional Mandarin). 中國國民黨. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ “1”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]