Chủ nghĩa Tam Dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chủ nghĩa Tam Dân
Sunyatsen1.jpg
Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn), người đề xuất Chủ nghĩa Tam dân.
Phồn thể 三民主義
Giản thể 三民主义

Chủ nghĩa Tam Dân hay Tam Dân Chủ nghĩa (chữ Hán phồn thể: 三民主義, chữ Hán giản thể: 三民主义) là một cương lĩnh chính trị do Tôn Dật Tiên đề xuất, với tinh thần biến Trung Quốc thành một quốc gia tự do, phồn vinh và hùng mạnh. Việc kế thừa và hiện thực ngày nay thể hiện rõ nhất trong tổ chức chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Triết lý này cũng xuất hiện trong dòng đầu tiên của Quốc ca Trung Hoa Dân Quốc. Cương lĩnh (hay học thuyết) chính trị này bao gồm: Dân tộc độc lập, dân quyền tự dodân sinh hạnh phúc.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm đầu tiên xuất hiện trên tờ Dân Báo năm 1905 là "Ba nguyên tắc lớn" (三大 主義) thay vì "Ba nguyên tắc của nhân dân" (三民主義).

Năm 1894, khi Hồi sinh xã hội Trung Quốc được thành lập, Tôn Dật Tiên chỉ có hai nguyên tắc: dân tộc và dân quyền. Ông đã chọn ý tưởng thứ ba - dân sinh, trong chuyến đi ba năm đến châu Âu từ năm 1896 đến năm 1898.[1] Ông đã công bố tất cả ba ý tưởng vào mùa xuân năm 1905, trong một chuyến đi khác đến châu Âu. Ông đã trình bày bài phát biểu đầu tiên của "Chủ nghĩa Tam Dân" ở Brussels (Bỉ).[2] Ông tổ chức Hồi sinh xã hội Trung Quốc ở nhiều thành phố châu Âu. Có khoảng 30 thành viên trong chi nhánh Brussels vào thời điểm đó, còn có 20 thành viên ở Berlin và 10 thành viên ở Paris.[2] Sau khi Trung Quốc Đồng minh Hội thành lập, Tôn Dật Tiên xuất bản một bài xã luận ở tờ Dân Báo (民 報).[1] Đây là lần đầu tiên các ý tưởng được thể hiện bằng văn bản. Sau này, trong ấn bản kỷ niệm của Dân Báo, bài phát biểu dài của ông về Tam Dân đã được in, và các biên tập viên của tờ báo đã thảo luận vấn đề sinh kế của người dân.[1]

Hệ tư tưởng này được cho là bị ảnh hưởng nặng nề bởi kinh nghiệm của Tôn Dật Tiên trong thời gian ông ở Hoa Kỳ và chứa đựng các yếu tố của phong trào tiến bộ của Mỹ. Tư tưởng của Lincoln "chính phủ của nhân dân, bởi nhân dân, cho nhân dân", như một nguồn cảm hứng cho Tam Dân của Tôn Dật Tiên.[2] Chủ nghĩa Tam Dân về con người được kết nối với nhau như là phương châm cho sự phát triển hiện đại hóa của Trung Quốc như kéo dài bởi Hồ Hán Dân.[3]

Tam Dân[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Dân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dân quyền tự do: Thi hành chính sách dân chủ, ngăn cản sự lạm dụng chế độ hiện hành của Âu-Mỹ, nhân dân có quyền bầu cử, kêu gọi bầu cử, sáng tạo, trưng cầu dân ý để thông qua đó chọn ra các cơ quan lập pháp, hành pháp, và tư pháp.

Dân sinh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dân sinh hạnh phúc: Quyền về đất đai của mỗi người dân và kiểm soát vốn, tư nhân không thể thao túng sinh kế quốc dân.

Kinh viện[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa Tam Dân là tư tưởng trung tâm của Việt Nam Quốc dân Đảng từ năm 1927. Đây là một tổ chức chính trị do Nguyễn Thái Học lập nên. Tổ chức này đến nay vẫn tiếp tục tồn tại bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Tây Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Singapore[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Li Chien-Nung, translated by Teng, Ssu-yu, Jeremy Ingalls. The political history of China, 1840–1928. Princeton, NJ: Van Nostrand, 1956; rpr. Stanford University Press. ISBN 0-8047-0602-6, ISBN 978-0-8047-0602-5. pp. 203–206.
  2. ^ a ă â Sharman, Lyon (1968). Sun Yat-sen: His life and its meaning, a critical biography. Stanford: Stanford University Press. tr. 94, 271. 
  3. ^ “+{中華百科全書‧典藏版}+”. ap6.pccu.edu.tw. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]