Trận Hồng Kông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Hồng Kông
Một phần của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Cdn Forces in Hong Kong.jpg
Lính Canada tại Hồng Kông
.
Thời gian 8–25 tháng 12 năm 1941
Địa điểm Hồng Kông thuộc Anh
Kết quả Nhật Bản chiến thắng và chiếm đóng Hồng Kông
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandKhối thịnh vượng chung Anh
 Canada
British Raj Red Ensign.svgẤn Độ thuộc Anh
Flag of Hong Kong (1959-1997).svg Hồng Kông thuộc Anh
Nhật BảnĐế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Mark Aitchison Young Đầu hàng
British Raj Red Ensign.svg Christopher Maltby
Canada John K. Lawson 
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Cedric Wallis
Đế quốc Nhật Bản Takashi Sakai
Đế quốc Nhật Bản Mineichi Koga
Lực lượng
14,000 lính 52,000 lính
Tổn thất
2.113 người chết và mất tích
2.300 người bị thương[nb 1]
1.996 người chết
6.000 người bị thương[nb 2]
Thương vong dân sự:[nb 3]
4.000 người chết
3.000 người bị thương
.

Trận Hồng Kông, cũng được biết đến như Cuộc phòng thủ Hồng Kông hay Hồng Kông thất thủ là một trong những trận đánh đầu tiên của Chiến tranh Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó bắt đầu vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, trong cùng buổi sáng khi quân đội Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công là sự vi phạm luật pháp quốc tế do Nhật Bản không tuyên chiến với Đế quốc Anh và nó đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt từ lực lượng phòng thủ, bao gồm Khối Thịnh vượng chung Anh và du kích địa phương. Tuy nhiên, chỉ trong 5 ngày, quân Nhật đã chiếm phần đất liền và thuộc địa đã đầu hàng vào ngày 25 tháng 12 sau gần 2 tuần chiến đấu trên đảo Hồng Kông.

Vị trí chiến lược của Hồng Kông[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Hồng Kông năm 1923

Hồng Kông là một thương cảng quan trọng nằm ở phía Đông Nam đồng bằng châu thổ sông Châu Giang, giáp với biển Đông ở phía Nam, bao gồm đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long, Tân Giới và nhiều hòn đảo khác. Địa hình Hồng Kông chủ yếu là đồi núi thấp, điểm cao nhất là núi Đại Mão có độ cao 957m[1], đường bờ biển rất dài (733 km) và khúc khuỷu tạo thành nhiều vũng, vịnh. Hồng Kông còn có sông Thâm Quyếnsông Sa Đầu Giác tạo thành ranh giới tự nhiên với lục địa Trung Hoa dài 30 km.
Figures published by the United States Central Intelligence Agency[2]

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Anh từ sau cuộc Chiến tranh Nha phiến (1840-1842) và là trung tâm xuất nhập khẩu(entrepôt) của Đế quốc Anh[3] với mặt hàng chính là thuốc phiện đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai[3]. Dân số năm 1941 khoảng 1.6 triệu người[4], chủ yếu tập trung tại hai thành phố chính là Cửu LongVictoria.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch và sự chuẩn bị của hai bên[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch chiến tranh của Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Sự chuẩn bị của Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Anh lần đầu tiên nhận thấy mối nguy từ Nhật Bản với sự chấm dứt của Liên minh Anh-Nhật vào đầu thập niên 1920, nó ngày càng tăng lên với sự lan rộng của Chiến tranh Trung-Nhật. Vào ngày 21 tháng 10 năm 1938 Nhật Bản chiếm Quảng ChâuHồng Kông thực sự bị bao bọc bởi vùng Nhật Bản chiếm đóng.[5]

Nhiều nghiên cứu của Anh kết luận rằng Hồng Kông rất khó khăn để chống đỡ một cuộc tấn công của Nhật Bản, nhưng vào giữa thập niên 1930, nhiều công trình phòng thủ đã được xây dựng như Phòng tuyến Gin Drinker. Những công trình phòng thủ then chốt ở Hồng Kông bao gồm:

Đến năm 1940, Anh quyết định giảm Lực lượng Đồn trú Hồng Kông xuống như một lực lượng tượng trưng. Đại tướng Không quân Robert Brooke-Popham, Tổng tư lệnh của Bộ Tư lệnh Viễn Đông cho rằng sự chuẩn bị hạn chế sẽ làm trì hoãn một cuộc tấn công của Nhật Bản.[6]

Winston Churchill và bộ tham mưu của ông ta thiết kế Hồng Kông như một tiền đồn và do đó quyết định không gửi thêm quân đến thuộc địa. Tuy nhiên họ đã thay đổi quyết định vào tháng 9 năm 1941 và cho rằng củng cố thêm lực lượng đồn trú sẽ góp phần ngăn chặn Nhật Bản, và động viên nhà lãnh đạo Trung Quốc Tưởng Giới Thạch rằng Anh thành thật quyết tâm trong việc phòng thủ thuộc địa.

Sự hỗ trợ của Canada[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lực lượng C
6 tuần trước trận chiến, đội quân này đến Hồng Kông để củng cố quân đội Anh

Vào mùa thu năm 1941, chính phủ Anh chấp nhận lời đề nghi của chính phủ Canada về việc gửi 2 tiểu đoàn bộ binh và một bộ chỉ huy lữ đoàn (1,975 người) để củng cố lực lượng đồn trú. Lực lượng này, được biết đến như "C Force", đến Hồng Kông vào ngày 16 tháng 11 trên tàu chở quân Awteathương thuyền vũ trang Prince Robert.[7] Nó không được trang bị đầy đủ do một tàu chở phương tiện giao thông đã chuyển hướng đi Manila, Philippines khi chiến tranh bùng nổ.

Lực lượng tham chiến và bố trí[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Thịnh vượng chung Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Cửu Long và Tân Giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Hồng Kông[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh du kích[sửa | sửa mã nguồn]

Du kích Đông Giang chiến đấu trong chiến hào

Tổn thất[sửa | sửa mã nguồn]

Tù binh chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Vinh danh và tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tai Mo Shan Country Park”. Agriculture, Fisheries and Conservation Department. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CIA
  3. ^ a ă Tsang 2004, p. 57
  4. ^ Stanford, David. [2006] (2006). Roses in December. Lulu press. ISBN 1-84753-966-1
  5. ^ Chi Ming Fung (2005). Reluctant heroes: rickshaw pullers in Hong Kong and Canton, 1874–1954 . Hong Kong University Press. tr. 129. ISBN 978-962-209-734-6. 
  6. ^ Harris, John R. (2005). The Battle for Hong Kong 1941–1945 (HB). Hong Kong University Press. tr. 55. ISBN 978-962-209-779-7. 
  7. ^ “Kay Christie's Story”. Hong Kong Veterans Commemorative Association.