Phe Trục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phe Trục
1939–1945
*     Khối Đồng Minh (và các thuộc địa) *     Các Quốc gia Đồng Minh tham chiến sau Trận Trân Châu Cảng *     Phe Trục (và các thuộc địa) *     Các Quốc gia trung lập Hiệp ước tam cường: *  Đức *  Ý *  Nhật Bản Các nước gia nhập: *  Bulgaria *  Hungary *  România *  Thái Lan Các nước đồng minh tham chiến: *  Iraq (Chiến tranh Anh-Iraq) *  Liên Xô (Cuộc tấn công Ba Lan (1939)) *  Phần Lan Các nước thành viên khác: *  Mãn Châu quốc *  Mông Cương *  Trung Quốc * Miến Điện * Việt Nam * Campuchia *  Philippines * Slovakia *  NDH * Đệ nhị Cộng hòa Philippines (1943-1945) * Cộng hòa Slovakia (1939-1945) * Quốc gia Pháp (1940-1944) * Đế quốc Việt Nam (1945) * Triều Tiên thuộc Nhật (1910-1945) * Đài Loan thuộc Nhật (1895-1945) * Chính phủ cứu quốc

Hiệp ước tam cường:

Các nước gia nhập:

Các nước đồng minh tham chiến:

Vị thếAn ninh tập thể
Lịch sử
Thời kỳChiến tranh thế giới thứ hai
25 tháng 11, 1936
• Hiệp ước thép
22 tháng 5 năm 1939
• Hiệp ước tam cường
27 tháng 9 năm 1940
• Tan rã
2 tháng 9, 1945
Ký kết liên hiệp khối Trục: Saburo Kurusu (đại sứ Nhật tại Đức), Galeazzo Ciano (Ngoại trưởng Ý) và Adolf Hitler (Quốc trưởng Đức)

Phe Trục (tiếng Anh: Axis powers, tiếng Đức: Achsenmächte, tiếng Nhật: 枢軸国 Sūjikukoku, tiếng Ý: Potenze dell'Asse), còn được gọi là "Trục Rome–Berlin–Tokyo" (cũng được viết tắt là "Roberto" đọc là "Rô-béc-tô") hay Khối Trục là từ để chỉ các quốc gia chiến đấu chống lại lực lượng Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Các nước phe Trục đồng thuận về khoản đối địch với phe Đồng Minh, nhưng không có sự phối hợp hoàn toàn trong hành động.

Phe Trục nổi lên từ những nỗ lực ngoại giao của Đức,ÝNhật Bản hồi giữa thập niên 1930 nhằm đảm bảo những quyền lợi cụ thể của riêng họ trong việc bành trướng lãnh thổ, khởi đầu là hiệp ước giữa ĐứcÝ được ký vào tháng 10 năm 1936. Ngày 1 tháng 11 cùng năm, Benito Mussolini tuyên bố rằng kể từ thời điểm đó tất cả các nước châu Âu khác sẽ quay quanh trục Rome-Berlin, đây là nguồn gốc của tên gọi "Khối Trục".[1][2] Tiếp theo là việc ký kết bản hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản vào tháng 11 năm 1936 giữa ĐứcNhật Bản, Ý gia nhập hiệp ước này năm 1937. Đến năm 1939, "Trục Rome–Berlin" trở thành một liên minh quân sự với "Hiệp ước thép", và "Hiệp ước tam cường" ký kết năm 1940 đã đi đến sự thống nhất các mục tiêu quân sự giữa Đức và hai đồng minh của nước này.

Tại thời điểm đỉnh cao trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phe Trục đã làm chủ phần lớn châu Âu, Bắc PhiĐông Á. Không thấy xuất hiện các cuộc họp thượng đỉnh ba bên và sự phối hợp hay hợp tác là ít ỏi, có chăng là đôi chút giữa ĐứcÝ. Động thái các nước phe Trục là thất thường, một số nước chuyển phe hoặc thay đổi mức độ can thiệp quân sự trong tiến trình chiến tranh. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945 với thất bại của phe Trục đi kèm với đó là sự tan rã của liên minh giữa họ.

Các quốc gia thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ba thế lực chính của phe Trục là:

Flag of Germany (1935–1945).svg
Đức
Flag of Italy (1861-1946) crowned.svg
Ý
Flag of Japan.svg
Nhật Bản

Một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác nằm trong khối Trục vì bị bắt buộc hay có tính cách bù nhìn, một số khác gia nhập rồi tách ra tùy theo hoàn cảnh chính trị quân sự nhất thời. Những quốc gia và vùng lãnh thổ này đóng vai trò quân sự hay chính trị không đáng kể, và gồm có:

Naval Ensign of Bulgaria (1878-1944).svg
Bulgaria
Flag of Hungary (1915-1918, 1919-1946).svg
Hungary
Flag of Romania.svg
România
Flag of Thailand.svg
Thái Lan
Flag of Finland.svg
Phần Lan
Flag of Iraq (1924–1959).svg
Iraq
Flag of the State of Burma (1943–1945).svg
Miến Điện
Flag of the Republic of China-Nanjing (Peace, Anti-Communism, National Construction).svg
Trung Quốc
Flag of Croatia (1941–1945).svg
Croatia
War flag of the Italian Social Republic.svg
Ý
Flag of Cambodia under Japanese occupation.svg
Campuchia
Flag of Manchukuo.svg
Mãn Châu
Flag of the Mengjiang.svg
Mông Cương
Flag of Italy (1861–1946).svg
Libya
Flag of Italy (1861-1946) crowned.svg
Đông Phi
Flag of the Philippines (1943-1945).svg
Philippines
Flag of Slovakia (1939–1945).svg
Slovakia
Flag of Philippe Pétain, Chief of State of Vichy France.svg
Pháp
Flag of the Empire of Vietnam (1945).svg
Việt Nam
Flag of Japan.svg
Triều Tiên
Flag of Japan.svg
Đài Loan

Sự hợp tác giữa Đức, Ý và Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công căn cứ hải quân của Mỹ tại Trân Châu Cảng, Hawaii. Theo như điều khoản của Hiệp ước Ba bên, Đức Quốc xã chỉ phải đứng ra bảo vệ đồng minh của mình khi họ bị tấn công. Vì Nhật Bản là đối tượng ra tay trước, Đức và Ý không có nghĩa vụ phải hỗ trợ cho tới khi Mỹ phản công. Mặc dù vậy, Hitler đã chính thức tuyên chiến với Mỹ và Ý cũng tuyên bố chiến tranh.[3]

Nhà sử học Ian Kershaw cho rằng việc tuyên chiến với Mỹ là một sai lầm nghiêm trọng của Đức bởi điều này cho phép Mỹ tham chiến mà không vấp phải bất kỳ ràng buộc nào.[4] Tuy nhiên xét mặt khác, những con tàu khu trục Mỹ trên thực tế đã ở vào tình trạng đối đầu với những chiếc tàu ngầm U-boat của Đức trên Đại Tây Dương trong vài tháng, và một lời tuyên chiến ngay lập tức có thể giúp U-boat tấn công bất ngờ vào lúc mà sự phòng thủ bên phía Mỹ còn yếu và kém tổ chức.[5] Dù vậy kể từ thời điểm tham chiến, Mỹ đã đóng một vai trò chủ đạo trong việc tài trợ và tiếp tế cho phe Đồng Minh, trong hoạt động ném bom chiến lược và trong cuộc xâm lăng cuối cùng vào lãnh thổ Đức.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cornelia Schmitz-Berning (2007). Vokabular des Nationalsozialismus. Berlin: De Gruyter. tr. 745. ISBN 978-3-11-019549-1. 
  2. ^ “Axis”. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ Kershaw 2007, tr. 385.
  4. ^ Kershaw 2007, Chapter 10.
  5. ^ Duncan Redford; Philip D. Grove (2014). The Royal Navy: A History Since 1900. I.B. Tauris. tr. 182.