Đài Loan thuộc Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đài Loan thuộc Nhật Bản
1895–1945[a]
Tổng quan
Bản đồ Đài Loan, khoảng năm 1896.
Bản đồ Đài Loan, khoảng năm 1896.
Vị thếThuộc địa của Đế quốc Nhật Bản
"Các thần dân của Nhật hoàng"
Thủ đôTaihoku
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Phúc Kiến, tiếng Nhật, tiếng Khách Gia, các ngôn ngữ Đài Loan
Chính trị
Chính phủChính phủ Nhật Bản
Tổng đốc 
• 1895–1896
Kabayama Sukenori (đầu tiên)
• 1944–1945
Rikichi Andō (cuối cùng)
Lịch sử
Thời kỳĐế quốc Nhật Bản
17 tháng 4 năm 1895
ngày 14 tháng 8 năm 1945
25 tháng 10 năm 1945
28 tháng 4 năm 1952
Kinh tế
Đơn vị tiền tệYên Đài Loan
Mã ISO 3166TW
Tiền thân
Kế tục
Đài Loan dưới sự cai trị của nhà Thanh
Cộng hòa Formosa
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)
Một phần của loạt bài
Lịch sử Đài Loan

Lịch sử Đài Loan

Thời tiền sử 50000 TCN-1624
Vương quốc Đại Đỗ 1540-1732
Formosa thuộc Hà Lan 1624-1662
Formosa thuộc Tây Ban Nha 1624-1662
Vương quốc Đông Ninh 1662-1683
Đài Loan thuộc nhà Thanh 1683-1895
Cộng hòa Đài Loan 1895
Đài Loan thuộc Nhật Bản 1895-1945
Hậu chiến Đài Loan 1945-nay

Đài BắcCao Hùng
Niên biểu lịch sử
Di tích khảo cổDi tích lịch sử

Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản là khoảng thời gian giữa năm 1895 và năm 1945, trong đó Đảo Đài Loan (kể cả quần đảo Bành Hồ) là một lãnh thổ phụ thuộc của Đế quốc Nhật Bản, sau khi Trung Quốc thua trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất trước Nhật Bản và nhượng lại tỉnh Đài Loan trong hiệp ước Shimonoseki. Phong trào kháng chiến Cộng hòa ở Formosa ngắn ngủi đã chấm dứt khi nó bị quân đội Nhật đàn áp. Đài Nam thất thủ đã chấm dứt cuộc kháng chiến có tổ chức đối với sự chiếm đóng của Nhật Bản, và khởi đầu năm thập kỷ cai trị của Nhật Bản.

Sự sáp nhập của Đài Loan vào Đế quốc Nhật Bản có thể được xem như là bước đầu tiên của Nhật Bản trong việc thực hiện "Học thuyết Mở rộng phía Nam" vào cuối thế kỷ 19. Đài Loan là thuộc địa đầu tiên của Nhật Bản. Ý định của Nhật Bản đã làm đảo trở thành một "hình mẫu thuộc địa" kiểu mẫu.[1] Kết quả là, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để cải thiện nền kinh tế của hòn đảo, công nghiệp và các công trình công cộng, và thay đổi văn hoá của nó. Những nỗ lực này cũng hỗ trợ các nhu yếu phẩm của máy chiến tranh xâm lược quân sự của Nhật Bản ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Vào ngày 17 tháng 3 năm 1945, Nghị viện ở Tokyo đã thông qua một dự luật cải cách để cấp cho cư dân Đài Loan quyền bỏ phiếu đại diện vào Hạ viện.[2] Nói cách khác, người Formosans đã được trao quyền chính trị trong Đế quốc Nhật Bản.

Sau khi thất bại và đầu hàng Nhật Bản vào cuối Thế chiến thứ II, Đài Loan đã bị đặt dưới sự kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc với việc ký kết Văn kiện đầu hàng như là một phần của các buổi lễ trên toàn bộ mặt trận Châu Á Thái Bình Dương.[3] Nhật Bản chính thức từ bỏ các quyền đối với Đài Loan vào tháng 4 năm 1952. Kinh nghiệm về quy tắc của Nhật Bản, luật Trung Hoa Dân quốc và vụ thảm sát ngày 28 tháng 2 năm 1947 vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến các vấn đề như Ngày Đài Loan hồi hương, sắc tộc, sắc tộc, và phong trào độc lập Đài Loan.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản đã tìm cách tuyên bố chủ quyền với Đài Loan (được người Nhật biết đến với cái tên Takasago Koku, 高砂国, Cao Sa Quốc) từ năm 1592, khi Toyotomi Hideyoshi tiến hành một chính sách bành trướng ra hải ngoại và mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản về phía nam,[4] và phía tây, người Nhật đã nỗ lực để xâm lược Đài Loan song đã không thành công, nguyên nhân chủ yếu là do bệnh tật và bị thổ dân trên đảo tấn công. Năm 1609, Mạc phủ Tokugawa cử Harunobu Arima đi thăm dò hòn đảo.[5] Nỗ lực xâm lược do Murayama Toan dẫn đầu vào năm 1616 đã thất bại, lần này thì nguyên nhân là do một cơn bão nhiệt đới đã đẩy các tàu chiến tản mác và chỉ có một chiếc là có thể tiếp cận được hòn đảo song đã bị đẩy lui.[6]

Trong sự kiện Mẫu Đơn năm 1871, một chiến tàu của Lưu Cầu đã bị đắm ở mũi phía nam của Đài Loan và 54 thành viên thủy thủ đoàn đã bị thổ dân Paiwan chém đầu. Sau khi chính quyền nhà Thanh từ chối bồi thường và nói rằng những thổ dân này không nằm dưới quyền kiểm soát của họ, Nhật Bản đã mở một cuộc viễn chinh trừng phạt tại khu vực vào năm 1874, và rút quân sau khi nhà Thanh hứa hẹn sẽ trả tiền bồi thường.[7][8][9][10]

Phải đến khi hải quân nhà Thanh thất bại trong chiến tranh Thanh-Nhật vào năm 1894–95 thì Đài Loan mới được cắt nhượng cho Nhật Bản. Hiệp ước Shimonoseki ký ngày 17 tháng 4 năm 1895, đã nhượng Đài Loan và Bành Hồ cho Nhật Bản, thế lực này cai quản Đài Loan trong 50 năm cho đến khi thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Những binh lính Nhật trong cuộc viễn chinh Đài Loan năm 1874

Sau khi có được chủ quyền tại Đài Loan, người Nhật lo sợ về sự kháng cự đến từ cả người Hán và thổ dân, những người này đã thiết lập nên Đài Loan Dân chủ. Tầng lớp ưu tú của Đài Loan hy vọng rằng bằng cách tuyên bố họ là một nước cộng hòa thì thế giới sẽ không cho phép một nước có chủ quyền bị người Nhật xâm lược, bằng cách ấy liên minh với nhà Thanh. Kế hoạch nhanh chóng rơi vào hỗn loạn khi lục doanh và quân Việt tộc đi cướp bóc. Phải lựa chọn giữa việc chịu cảnh hỗn loạn dưới tay người Hán hay khuất phục người Nhật, tầng lớp trên tại Đài Bắc đã cử Cô Hiển Vinh (辜顯榮) đến Cơ Long để mời quân Nhật tiến đến Đài Bắc và lập lại trật tự.[11]

Bản đồ hòn đảo Đài Loan vào năm 1901, với đường màu đỏ đánh dấu tương đối phạm vi kiểm soát của Nhật Bản

Các cuộc kháng chiến vũ trang diễn ra một cách rời rạc, song cũng có những lúc trở nên khốc liệt, tuy nhiên phần lớn chúng đã bị đè bẹp vào năm 1902, mặc dù các cuộc nổi dậy với quy mô tương đối nhỏ vẫn xảy ra trong những năm tiếp theo, bao gồm sự kiện Ta-pa-ni (hay sự kiện Tây Lai am) năm 1915 tại Đài Nam.[12] Phương thức kháng cự không bạo lực đã thay thế nổi dậy vũ trang và đáng chú ý nhất Hiệp hội Văn hóa Đài Loan (台灣文化協會), thành lập năm 1921. Một số cuộc kháng cự được kích thích bởi những người dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa, trong khi có những cuộc khởi nghĩa khác đòi hỏi quyền tự quyết cho Đài Loan.[13] Các cuộc nổi loạn thường xảy ra do tác động của các chính sách bất bình đẳng tại thuộc địa đối với tầng lớp ưu tú tại địa phương và với đức tin của người Hán tại Đài Loan và những người thổ dân ở vùng đồng bằng. Thổ dân Đài Loan đã kháng cự các chính sách thâm nhập văn hóa và bình định mạnh tay của Nhật Bản cho đến tận đầu thập niên 1930.[12] Cuộc khởi nghĩa lớn cuối cùng của thổ dân, nổi dậy Musha (nổi dậy Vụ Xã) đã nổ ra vào cuối năm 1930 khi người Atayal giận dữ trước cách đối xử với họ trong lao động với các công việc nặng nề để khai thác long não, họ đã lập ra một băng đảng săn đầu người cuối cùng trên đảo, nhóm này đã sát hại và chặt đầu trên 150 quan chức người Nhật trong lễ khánh thành một trường học. Cuộc nổi dậy do Mona Rudao lãnh đạo, đã bị đè bẹp bởi từ 2.000-3.000 lính Nhật với sự giúp đỡ về khí độc từ các thổ dân đồng minh của họ.[14]

Thời kỳ thực dân của Nhật Bản tại Đài Loan có thể phân thành ba giai đoạn. Bắt đầu với một thời kỳ đàn áp và độc đoán, sau đó là một thời kỳ đồng hóa (同化, dōka) và cuối cùng, trong Chiến tranh thế giới thứ II là thời kỳ hoàng dân hóa (皇民化, kōminka), với một chính sách nhằm biến người Đài Loan thành các thần dân trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản.

Dân chúng Đài Loan có phản ứng khác nhau trước sự cai trị của Nhật Bản. Một số người cảm thấy rằng an toàn của cuộc sống cá nhân và tài sản là vô cùng quan trọng và đã đi theo chính quyền thực dân Nhật Bản. Nhóm người Đài Loan thứ hai thì mong muốn được trở thành thần dân của đế quốc, họ tin tưởng rằng điều này sẽ khiến cho người Đài Loan có vị thế bình đẳng với những người Nhật. Nhóm thứ ba chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đài Loan độc lập và cố gắng loại bỏ thực dân Nhật Bản nhằm thiết lập nên một chính quyền của người Đài Loan. Nhóm thứ tư chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và đấu tranh để Đài Loan trở lại dưới quyền cai trị của Trung Quốc. Từ năm 1897 trở đi, nhóm thứ tư đã tổ chức nhiều cuộc nổi dậy, và nổi bật nhất trong đó là cuộc nổi dậy do La Phúc Tinh (羅福星) lãnh đạo, tuy nhiên ông đã bị bắt và bị xử tử cùng với 200 chiến hữu của mình vào năm 1913. Bản thân La Phúc Tinh là một thành viên của Đồng Minh hội, một tổ chức do Tôn Trung Sơn thành lập và là tiền thân của Quốc Dân đảng.[15]

Thời kỳ 1899–1935[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân hàng Đài Loan có trụ sở tại Taihoku (Đài Bắc).

Các cơ sở hạ tầng ban đầu đã phát triển một cách nhanh chóng. Ngân hàng Đài Loan được thành lập vào năm 1899 để khuyến khích các công ty tư nhân Nhật Bản, bao gồm MitsubishiMitsui, đến đầu tư tại Đài Loan. Năm 1900, Tổng đốc Đài Loan thứ ba đã thông qua ngân sách bắt đầu xây dựng hệ thống đường sắt của Đài Loan từ Kirun (Cơ Long) đến Takao (Cao Hùng). Năm 1905, hòn đảo có điện bằng thủy năng từ hồ Nhật Nguyệt, và trong những năm tiếp theo, Đài Loan được coi là khu vực phát triển thứ hai tại Đông Á (sau Nhật Bản). Năm 1905, Đài Loan đã có thể tự chủ về tài chính và chính quyền trung ương Nhật Bản không còn phải trợ cấp nữa.

Dưới sự cai trị của tổng đốc Shimpei Goto, nhiều dự án công trình công cộng lớn đã được hoàn thành. Hệ thống đường sắt Đài Loan kết nối miền Nammiền Bắc, việc hiện đại hóa các cảng Kirun (Cơ Long) và Takao (Cao Hùng) đã được hoàn thành và tạo thuận lợi cho việc vận chuyển và chuyên chở các nguyên liệu thô và nông sản bằng tàu biển.[16] Xuất khẩu đã tăng gấp bốn lần. Hệ thống tưới tiêu với các đập nước bao phủ 55% diện tích đất nông nghiệp tại Đài Loan. Sản xuất lương thực gia tăng gấp bốn lần và việc sản xuất đường đã gia tăng gấp 15 lần từ năm 1895 đến 1925 và Đài Loan đã trở thành một vùng lương thực chính phục vụ cho nền kinh tế công nghiệp của Nhật Bản. Hệ thống chăm sóc sức khỏe được thiết lập rộng rãi và các bệnh truyền nhiễm đã gần như được loại bỏ hoàn toàn. Tuổi thọ trung bình của một cư dân Đài Loan tăng lên 60 vào năm 1945.[17]

Kagi Jinja (Gia Nghĩa thần xã), một trong nhiều đền thờ Thần đạo được xây dựng tại Đài Loan.

Vào tháng 10 năm 1935, tổng đốc Đài Loan đã tổ chức một Triển làm kỉ niệm 40 năm Nhật Bản bắt đầu quản lý Đài Loan, giới thiệu những thành tựu của quá trình hiện đại hóa Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản. Điều này thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, trong đó chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã cử một người được giáo dục tại Nhật Bản là Trần Nghi đến tham dự sự kiện. Ông bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình về khả năng của chính quyền Nhật Bản trong việc phát triển Đài Loan, và nhận xét rằng người Đài Loan thật may mắn vì đã được sống dưới quyền quản lý có hiệu quả như vậy. Trần Nghi về sau trở thành trưởng quan hành chính đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan.

Thời kỳ 1935–1945[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ cai trị sau của Nhật Bản đã chứng kiến sự xuất hiện một tầng lớp ưu tú được giáo dục và có tổ chức của người bản địa. Trong thập niên 1930, một vài nhóm lãnh đạo nội địa được thành lập trong thời điểm ở những nơi khác trên thế giới, người ta đang tìm cách chấm dứt chủ nghĩa thực dân. Năm 1935, người Đài Loan đã bầu nhóm đầu tiên của họ làm thành viên của cơ quan lập pháp địa phương. Vào tháng 3 năm 1945, nhánh lập pháp của chính quyền Nhật Bản đã sửa đổi luật bầu cử để cho phép có đại diện của Đài Loan trong Quốc hội Nhật Bản.

Quân tình nguyện Takasago từng là một đơn vị quân đội Nhật Bản tuyển tân binh từ các bộ lạc thổ dân Đài Loan.

Khi Nhật Bản tiến hành chiến tranh trên quy mô toàn Trung Quốc vào năm 1937, họ đã mở rộng khả năng sản xuất các vật vật tư dùng cho chiến tranh của Đài Loan. Năm 1939, tại Đài Loan, sản xuất công nghiệp đã vượt qua sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, kế hoạch "hoàng dân hóa" đã được tiến hành để thấm nhuần "tinh thần Nhật Bản" (Đại Hòa hồn) trong các cư dân Đài Loan, và đảm bảo rằng người Đài Loan sẽ vẫn là các thần dân trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản và sẵn sàng hy sinh trong chiến tranh. Các biện pháp bao gồm giáo dục tiếng Nhật, lựa chọn tên gọi Nhật Bản, và theo tín ngưỡng Nhật Bản. Năm 1943, 94% trẻ em được hưởng 6 năm giáo dục bắt buộc. Từ năm 1937 đến 1945, 126.750 người Đài Loan đã tham gia và phục vụ trong quân đội Nhật Bản, trong khi 80.433 đã nhập ngũ từ năm 1942 đến 1945. Trong tổng số này, có 30.304 người hay 15%, đã thiệt mạng trong các cuộc chiến của Nhật Bản tại châu Á.

Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động rất nhiều tại Đài Loan. "Nam tiến luận" là dựa trên Đại học Đế quốc Đài Bắc (nay là Đại học Quốc lập Đài Loan) tại Đài Loan. Nhiều trong số các lực lượng Nhật Bản tham gia Không chiến Đài Loan đặt căn cứ tại Đài Loan. Các căn cứ quân sự quan trọng của Nhật Bản và các trung tâm công nghiệp trên khắp Đài Loan, như tại Takao (Cao Hùng), là mục tiêu của các vụ oanh tạc ác liệt của Hoa Kỳ.

Năm 1942, sau khi Hoa Kỳ tham chiến chống lại Nhật Bản và đứng về phía Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc của Quốc Dân đảng đã từ chối thừa nhận tất cả các hiệp ước đã ký với Nhật Bản trước đây và biến việc Đài Loan trở về Trung Quốc (cũng như Mãn Châu) là một trong các mục tiêu chiến tranh. Trong Tuyên bố Cairo năm 1943, các lực lượng Đồng Minh đã tuyên bố sự trở về Trung Quốc của Đài Loan (bao gồm Bành Hồ) là một trong số các yêu cầu của Đồng Minh. Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện với việc ký vào văn kiện đầu hàng và chấm dứt quyền cai trị của mình tại Đài Loan và lãnh thổ này được đặt dưới quyền kiểm soát hành chính của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1945 bởi Cơ quan Cứu tế và Phục hồi Liên Hiệp Quốc.[18] Theo quy định trong điều 2 của Hiệp ước San Francisco, Nhật Bản chính thức từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, hiệp ước được ký kết vào năm 1951 và có hiệu lực vào năm 1952. Khi Hiệp ước Hòa bình San Francisco có hiệu lực, tình trạng chính trị của Đài Loan và quần đảo Bành Hồ vẫn chưa chắc chắn.[18] Trung Hoa Dân QuốcNhật Bản đã ký kết Hiệp ước Hòa bình Trung-Nhật vào ngày 28 tháng 4 năm 1952 tại Đài Bắc và hiệp ước có hiệu lực vào ngày 5 tháng 8 cùng năm.[19]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ sinh trung học đứng trước văn phòng tổng đốc năm 1937

Trong suốt thời kỳ cai trị của Nhật Bản, Văn phòng tổng đốc vẫn là cơ quan trung ương thực tế tại Đài Loan. Xây dựng và phát triển chính sách của chính phủ chủ yếu là vai trò của bộ máy quan liêu trung ương hoặc địa phương.

Trong 50 năm cai trị của Nhật Bản từ năm 1895 đến năm 1945, Tokyo đã phái mười chín tổng đốc đến Đài Loan. Trung bình, một tổng đốc phục vụ khoảng 2,5 năm. Toàn bộ thời kỳ thuộc địa có thể được chia thành ba thời kỳ dựa trên nền tảng của Toàn quyền: thời kỳ quân sự sớm, thời kỳ dân sự và thời kỳ quân sự sau này.

Toàn quyền từ thời kỳ đầu quân sự bao gồm Kabayama Sukenori, Katsura Tarō, Nogi Maresuke, Kodama Gentarō, Sakuma Samata, Ando SadamiAkashi Motojiro. Hai trong số các Toàn quyền trước năm 1919, Nogi MaresukeKodama Gentarō, nổi tiếng trong Chiến tranh Nga-Nhật. Andō SadamiAkashi Motojirō thường được thừa nhận là đã làm hết sức vì lợi ích của Đài Loan trong các nhiệm kỳ của họ, với Akashi Motojirō thực sự yêu cầu ông sẽ được chôn cất tại Đài Loan.

Thời kỳ dân sự xảy ra ở khoảng thời gian tương tự như chế độ dân chủ Taishō tại Nhật Bản, thống đốc Tổng từ giai đoạn này chủ yếu được đề cử bởi các hội Nhật Bản và bao gồm Den Kenjiro, Uchida Kakichi, Izawa Takio, Kamiyama Mitsunoshin, Kawamura Takeji, Ishizuka Eizo, Ota Masahiro, Minami HiroshiNakagawa Kenzou. Trong các nhiệm kỳ của mình, Chính quyền Thuộc địa dành phần lớn nguồn lực cho phát triển kinh tế và xã hội thay vì đàn áp quân sự.

Toàn quyền thời kỳ Quân đội sau này tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản và bao gồm Seizō Kobayashi, Kiyoshi HasegawaRikichi Ando.

Danh sách tổng đốc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Kabayama Sukenori (1895–96)
  2. Katsura Tarō (1896)
  3. Nogi Maresuke (1896–98)
  4. Kodama Gentarō (1898–1906)
  5. Sakuma Samata (1906–15)
  6. Andō Sadami (1915–18)
  7. Akashi Motojiro (1918–19)
  8. Den Kenjirō (1919–23)
  9. Uchida Kakichi (1923–24)
  10. Izawa Takio (1924–26)
  11. Kamiyama Mitsunoshin (1926–28)
  12. Kawamura Takeji (1928–29)
  13. Ishizuka Eizo (1929–31)
  14. Ota Masahiro (1931–32)
  15. Hiroshi Minami (1932)
  16. Kenzo Nakagawa (1932–36)
  17. Seizo Kobayashi (1936–40)
  18. Kiyoshi Hasegawa (1940–44)
  19. Rikichi Andō (1944–45)

Phân chia địa chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh tổng đốc và Trưởng phòng Nội vụ, văn phòng tổng đốc là một bộ máy quan liêu phân cấp chặt chẽ bao gồm các bộ phận thực thi pháp luật, nông nghiệp, tài chính, giáo dục, khai thác, đối ngoại và tư pháp. Các cơ quan chính phủ khác bao gồm các tòa án , cơ sở sửa chữa, trại trẻ mồ côi, học viện cảnh sát, giao thông và cảng vụ, văn phòng độc quyền, trường học các cấp, một trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp và Đại học Hoàng gia Taihoku (Đại học Quốc gia Đài Loan ngày nay).

Về mặt hành chính, Đài Loan được chia thành các quận để quản lý địa phương. Các phủ được phân chia năm 1926:

Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(1941)

Bản đồ phân cấp hành chính Đài Loan
Tiếng Việt Rōmaji Kanji Kana Chữ Hán Bính âm Hán Việt
Đài Bắc Taihoku-shū 台北州 たいほくしゅう 臺北州 Táiběi zhōu Đài Bắc châu 4.594,2371 1.140.530
Tân Trúc Shinchiku-shū 新竹州 しんちくしゅう 新竹州 Xīnzhú zhōu Tân Trúc châu 4.570,0146 783.416
Đài Trung Taichū-shū 台中州 たいちゅうしゅう 臺中州 Táizhōng zhōu Đài Trung châu 7.382,9426 1.303.709
Đài Nam Tainan-shū 台南州 たいなんしゅう 臺南州 Táinán zhōu Đài Nam châu 5.421,4627 1.487.999
Cao Hùng Takao-shū 高雄州 たかおしゅう 高雄州 Gāoxióng zhōu Cao Hùng châu 5.721,8672 857.214
Hoa Liên Karenkō-kōchō 花蓮港庁 かれんこうちょう 花蓮港廳 Huālián gǎng tīng Hoa Liên cảng sảnh 4.628,5713 147.744
Đài Đông Taitō-chō 台東庁 たいとうちょう 臺東廳 Tái dōng tīng Đài Đông sảnh 3.515,2528 86.852
Bành Hồ Hōko-chō 澎湖庁 ほうこちょう 澎湖廳 Pēnghú tīng Bành Hồ sảnh 126,8642 64.620

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Đài Loan trong thời kỳ Nhật Bản, phần lớn, là nền kinh tế thuộc địa tiêu chuẩn. Cụ thể, nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên của Đài Loan đã được sử dụng để hỗ trợ sự phát triển của Nhật Bản, một chính sách bắt đầu dưới thời tổng đốc Kodama và đạt đến đỉnh cao vào năm 1943, vào giữa Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ 1900 đến 1920, nền kinh tế của Đài Loan bị chi phối bởi ngành công nghiệp đường, trong khi từ 1920 đến 1930, gạo là mặt hàng xuất khẩu chính. Trong hai thời kỳ này, chính sách kinh tế chính của Chính quyền Thuộc địa là "công nghiệp cho Nhật Bản, nông nghiệp cho Đài Loan". Sau năm 1930, do chiến tranh, Chính phủ Thuộc địa bắt đầu theo đuổi chính sách công nghiệp hóa. Dưới thời tổng đốc thứ 7, Akashi Motojiro, một đầm lầy rộng lớn ở miền trung Đài Loan đã biến thành một con đập khổng lồ để xây dựng một nhà máy điện thủy lực cho công nghiệp hóa. Con đập và khu vực xung quanh nó, được biết đến rộng rãi như Sun Moon Lake (日月潭 Nichigetsutan) ngày nay, đã trở thành địa điểm không thể bỏ qua đối với khách du lịch nước ngoài đến thăm Đài Loan.

Mặc dù trọng tâm chính của mỗi giai đoạn này là khác nhau, mục tiêu chính trong toàn bộ thời gian là tăng năng suất của Đài Loan để đáp ứng nhu cầu ở Nhật Bản, một mục tiêu đã đạt được thành công. Là một phần của quá trình này, những ý tưởng, khái niệm và giá trị mới đã được giới thiệu cho người Đài Loan; Ngoài ra, một số dự án công trình công cộng, như đường sắt, giáo dục công cộng và viễn thông, đã được thực hiện. Khi nền kinh tế phát triển, xã hội ổn định, chính trị dần được tự do hóa, và sự ủng hộ phổ biến cho chính quyền thực dân bắt đầu tăng lên. Do đó, Đài Loan đóng vai trò là nơi giới thiệu tuyên truyền của Nhật Bản về những nỗ lực của thực dân trên khắp châu Á, như được hiển thị trong Triển lãm Đài Loan năm 1935.[cần dẫn nguồn]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Trạm Taichū (nay là "Trạm Đài Trung cũ"), được xây dựng vào năm 1917

Văn phòng của tổng đốc cũng nhấn mạnh vào việc hiện đại hóa các hệ thống giao thông của Đài Loan, đặc biệt là đường sắt, và ở một mức độ thấp hơn, đường cao tốc. Do đó, các liên kết vận chuyển đáng tin cậy đã được thiết lập giữa đầu phía bắc và phía nam của hòn đảo, hỗ trợ cho dân số ngày càng tăng.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đài Loan được nhượng lại cho Nhật Bản, đường sắt xe đẩy được giới thiệu ở Đài Loan. Đường sắt xe đẩy đã được phục vụ chung từ năm 1895 đến cuối những năm 1940.

Bộ Đường sắt (tiền thân của Cục Đường sắt Đài Loan hiện đại) được thành lập vào ngày 8 tháng 11 năm 1899, bắt đầu một giai đoạn mở rộng nhanh chóng mạng lưới đường sắt của hòn đảo. Có lẽ thành tựu lớn nhất của thời đại này là hoàn thành Tuyến phía Tây, nối các thành phố lớn dọc theo hành lang phía Tây vào năm 1908, giảm thời gian đi lại giữa bắc và nam Đài Loan từ vài ngày xuống còn một ngày.

Tòa nhà Bộ Đường sắt

Cũng được xây dựng trong thời gian này là tuyến Đạm Thủy (淡水線, ngày nay là Tuyến Đạm Thủy, Tàu điện ngầm Đài Bắc), Tuyến Nghi Lan (宜蘭線), Heitō Line (屏東線, Tuyến Bình Đông), và Tōkō Line (東港線, Tuyến Đông Cảng). Một số tuyến đường sắt tư nhân cũng được đưa vào hệ thống thuộc sở hữu nhà nước. Các dây chuyền công nghiệp như Đường sắt rừng Alishan cũng được xây dựng. Các kế hoạch cũng đã được soạn thảo cho tuyến Bắc Link, Tuyến Nam-Link, cũng như một tuyến chạy qua vùng núi trung tâm Đài Loan, nhưng không bao giờ được thực hiện do những khó khăn kỹ thuật cũng như sự bùng nổ của Thế chiến II. Các tuyến đường sắt tư nhân như Đường sắt Đài Loan (được xây dựng để hỗ trợ ngành mía đường) cũng được xây dựng.

Giống như nhiều văn phòng chính phủ khác, Bộ Đường sắt được lãnh đạo bởi các nhà kỹ trị. Nhiều tuyến đường sắt được xây dựng trong thời cai trị của Nhật Bản tiếp tục được sử dụng ngày nay.

Đường cao tốc[sửa | sửa mã nguồn]

So với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống đường sắt, hệ thống đường cao tốc ít được chú ý hơn. Tuy nhiên, phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ xe máy, Bộ Đường sắt bắt đầu mua và tịch thu những con đường chạy song song với đường sắt.[cần dẫn nguồn]

.Dịch vụ xe buýt đã có sẵn ở các khu vực đô thị, nhưng vì các thành phố ở Đài Loan khá nhỏ vào thời điểm đó, chúng vẫn là thứ yếu đối với dịch vụ đường sắt. Hầu hết các tuyến xe buýt thời gian tập trung vào các ga đường sắt địa phương

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Điều tra dân số quốc gia. dân số theo quốc tịch và quốc tịch năm 1935[20]
Châu sảnh Diện tích

(km²)

Dân số Mật độ

(Người/km²)

Người bản địa Nội địa Ngoại địa Quốc tịch nước ngoài Mét
Kagoshima Khác Triều Tiên Karafuto Trung Hoa Dân Quốc Khác
Đài Bắc 4.565,66 874.308 14.341 106.250 646 6 28.842 147 1.024.546 224
Tân Trúc 4.598,60 696.128 2.141 11.761 58 3 2.217 1 712.309 155
Đài Trung 7.383,43 1.123.745 5.046 27.908 196 0 5.334 18 1.162.247 157
Đài Nam 5.421,49 1.279.511 6.006 37.968 233 2 8.438 29 1.332.187 246
Cao Hùng 5.722,57 689.412 4.682 29.906 226 13 8.572 8 732.819 128
Đài Đông 3.526,38 64.364 611 4.726 37 2 969 1 70.710 20
Hoa Liên 4.628,57 93.739 1.401 13.729 78 0 2.549 1 111.497 24
Bành Hồ 126,86 61.738 447 3.629 0 0 297 0 66.111 521
Tổng cộng 35.973,55 4.882.945 34.681 235.877 1.474 26 57.218 205 5.212.426 145
Điều tra dân số quốc gia của người nước ngoài theo quốc tịch năm 1935[20]
Châu sảnh 人口 (人)
Flag of the Republic of China.svg Trung Quốc Flag of the United Kingdom.svg Anh Flag of Spain (1931–1939).svg Tây Ban Nha Flag of Manchukuo.svg Mãn Châu Quốc Flag of Norway.svg Na Uy Khác Mét
Đài Bắc 28.842 71 15 14 13 34 28.989
Tân Trúc 2.217 0 0 0 0 1 2.218
Đài Trung 5.334 9 5 0 0 4 5.352
Đài Nam 8.438 24 4 0 0 1 8.467
Cao Hùng 8.572 0 4 0 0 4 8.580
Đài Đông 969 1 0 0 0 0 970
Hoa Liên 2.549 1 0 0 0 0 2.550
Bành Hồ 297 0 0 0 0 0 297
Tổng cộng 57.218 106 28 14 13 44 57.423

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục và đồng hóa là những thành phần chính của chính sách thực dân Nhật Bản tại Đài Loan: đồng hóa dân số Đài Loan bản địa (người bản địa của tổ tiên Trung Quốc) là một mục tiêu quan trọng; giáo dục là một công cụ để đạt được mục tiêu này. Khi trong năm mươi năm trị vì (1895–1945) các quản trị viên của Đài Loan đã thay đổi cách giải thích hoặc định nghĩa về đồng hóa, họ đã sửa đổi các chính sách giáo dục tương ứng. Từ đầu đến cuối thời kỳ Nhật Bản tại Đài Loan, chính phủ của họ dự định giáo dục cho người dân đảo bản địa là một công cụ chính của chính sách đồng hóa của mình, mặc dù một chính sách nhất quán không phải là một chính sách tĩnh.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1915, kháng chiến vũ trang chống lại chính quyền thực dân Nhật Bản gần như chấm dứt. Thay vào đó, tự phát phong trào xã hội trở nên phổ biến. Người dân Đài Loan đã tổ chức nhiều câu lạc bộ chính trị, văn hóa và xã hội hiện đại, áp dụng ý thức chính trị với ý định rõ ràng để đoàn kết mọi người với sự nhạy cảm thông cảm. Điều này thúc đẩy họ phấn đấu cho các mục tiêu chung được thiết lập bởi các phong trào xã hội. Những phong trào này cũng khuyến khích cải tiến trong văn hóa xã hội.

Bên cạnh văn học Đài Loan, kết nối với các phong trào xã hội thời đó, khía cạnh của văn hóa phương Tây mà Đài Loan áp dụng thành công nhất là nghệ thuật. Nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng ra đời trong thời gian này.

Văn hóa phổ biến được dẫn dắt bởi phim ảnh, âm nhạc phổ biến và nhà hát múa rối lần đầu tiên xuất hiện ở Đài Loan trong thời kỳ này.

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Lại Hòa, cha đẻ của nền vă học Đài Loan

Thời kỳ nửa sau của thời kỳ thuộc địa, 1895 đến 1945, được đánh giá cao là sự ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế đã thúc đẩy quá trình hiện đại hóa ở Đài Loan. Cuộc cạnh tranh giữa Tổng lãnh đạo thực dân Nhật Bản và giới thượng lưu bản xứ Đài Loan trong quá trình hiện đại hóa đã thu hút nhiều giấc mơ trở thành nghệ sĩ trẻ của Đài Loan theo cách cải thiện địa vị xã hội hoặc trau dồi kiến ​​thức mới phù hợp với hiện đại hơn xã hội. Do đó, do xu hướng của chiến dịch hiện đại hóa ở Đài Loan, nhiều sinh viên trẻ người bản xứ Đài Loan đã đi du học, chủ yếu ở Nhật Bản từ cuối những năm 1910 và một số đã đến Paris vào những năm 1930. Và thực sự họ đã trở thành những người tiên phong trong kỷ nguyên của phong trào văn hóa phát triển mạnh ở Đài Loan. Không thể phủ nhận rằng văn học có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh chính trị - xã hội trong giai đoạn từ những năm 1920 đến khoảng những năm 1930 với sự kích thích ngày càng tăng giữa các nhà văn và họa sĩ thông qua việc quan tâm đến việc tìm hiểu về hiện đại hóa.[21] Nhóm các họa sĩ, họa sĩ bao gồm một số họa sĩ lớn Trần Thanh Phong, Dương Sĩ Long, Dương Tam Lang và Lưu Khải Tường, được đặc trưng bởi biểu hiện nghệ thuật phương tây và giải thích thời gian và địa điểm của họ đại diện cho một chính trị hiện đại và cũng như một phong trào văn hóa đã nổi lên bởi những người hiền lành đổ bộ, những người mạnh mẽ chống lại các thống đốc thực dân Nhật Bản. Một trong những nhà phê bình nghệ thuật Nhật Bản kể lại rằng sự tăng trưởng kinh tế ổn định và sự quan tâm lớn của công chúng đối với nghệ thuật với nhiều triển lãm nghệ thuật của các nghệ sĩ độc thân và nhóm đã thu hút cả các nghệ sĩ Nhật Bản gốc Đài Loan và Đài Loan trở về Đài Loan và chia sẻ tác phẩm của họ với khán giả.[22]

Sinh viên Đài Loan học tập tại Tokyo lần đầu tiên tái cấu trúc Hội khai sáng vào năm 1918, sau đổi tên thành Xã hội nhân dân mới sau năm 1920, và đây là biểu hiện cho các phong trào chính trị và xã hội sắp tới ở Đài Loan. Nhiều ấn phẩm mới, như "Văn học & Nghệ thuật Đài Loan" (1934) và "Văn học mới Đài Loan" (1935), bắt đầu ngay sau đó. Những điều này dẫn đến sự khởi đầu của phong trào bản địa trong xã hội nói chung khi văn học hiện đại tách ra khỏi các hình thức cổ điển của thơ ca cổ đại. Năm 1915, nhóm người này, do Lâm Hiển Đường lãnh đạo đã đóng góp tài chính ban đầu và lớn vào việc thành lập trường trung học đầu tiên ở Đài Trung cho người thổ dân và người Đài Loan[23] và hơn nữa, họ tích cực tham gia để tuyên bố hiện đại hóa, giác ngộ văn hóa và phúc lợi của hòn đảo. Họ đam mê đưa ra quan điểm chính trị của họ trong tất cả các loại diễn đàn bao gồm các bài giảng, hội thảo, buổi hòa nhạc và vở kịch cho dân chúng, có thể tập trung vào các sinh viên nghệ thuật trẻ nhiệt tình, được tổ chức trong mỗi mùa trong hầu hết các năm. Nhưng ngay sau đó, các sinh viên nước ngoài trở lại đảo và họ mạnh mẽ bắt đầu truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa và vô sản, do đó giai cấp công nhân đòi hỏi phải thay đổi điều kiện xã hội. Trong cuốn sách của Hiệp hội Văn hóa thành phố, Trường nói rằng vào đầu năm 1927, hiệp hội đã bị phá vỡ và cuối cùng bị chiếm đóng bởi các phân số vô sản hung hăng. Nhiều học giả thừa nhận mối liên hệ có thể có của phong trào này với Phong trào thứ tư ở Trung Quốc.

Các phong trào văn học đã không biến mất ngay cả khi chúng bị kiểm duyệt bởi chính quyền thuộc địa. Đầu những năm 1930, một cuộc tranh luận nổi tiếng về ngôn ngữ nông thôn Đài Loan đã chính thức diễn ra. Sự kiện này có nhiều tác động lâu dài đối với văn học, ngôn ngữ và ý thức chủng tộc của Đài Loan. Năm 1930, cư dân Đài Loan-Nhật Bản Hoàng Thạch Huy bắt đầu cuộc tranh luận về văn học nông thôn ở Tokyo. Ông ủng hộ rằng văn học Đài Loan nên nói về Đài Loan, có tác động đến nhiều đối tượng và sử dụng tiếng Đài Loan. Năm 1931, Quách Thu Sinh, cư dân Taihoku (Đài Bắc), nổi bật ủng hộ quan điểm của Hoàng Thạch Huy. Quách Thu Sinh bắt đầu Cuộc tranh luận về ngôn ngữ nông thôn Đài Loan, chủ trương văn học xuất bản ở Đài Loan. Điều này ngay lập tức được hỗ trợ bởi Loa Hồ, người được coi là cha đẻ của văn học Đài Loan. Sau này, tranh cãi về việc liệu văn học Đài Loan nên sử dụng tiếng Đài Loan hay Bạch thoại, và liệu vấn đề này có liên quan đến Đài Loan, đã trở thành trọng tâm của Phong trào Văn học mới Đài Loan. Tuy nhiên, vì cuộc chiến sắp tới và nền giáo dục văn hóa Nhật Bản lan tràn, những cuộc tranh luận này không thể phát triển thêm nữa. Cuối cùng họ đã mất lực kéo theo chính sách Nhật Bản do chính phủ quy định.[24]

Trong hai năm sau năm 1934, các nhà văn tiến bộ của Đài Loan đã tập hợp và thành lập Hiệp hội Văn học và Nghệ thuật Đài LoanVăn học Đài Loan mới. Phong trào văn học và nghệ thuật này là chính trị trong ý nghĩa của nó. Ngoài ra nhiều nhà sử học nhấn mạnh sự phát triển trong kịch và văn học hiện đại với sự tích hợp mật thiết giữa thế giới nghệ thuật của Tokyo và Đài Bắc trong những năm 1930. Từ năm 1935, các nhà văn và nghệ sĩ thị giác bắt đầu kích thích lẫn nhau và tìm đến xã hội để được hỗ trợ. Hầu hết các tiểu thuyết nổi tiếng với cách thể hiện hiện thực xã hội và chủ nghĩa xã hội riêng biệt trong khi hội họa không tạo ra các tác phẩm chỉ đơn thuần là trang trí của thời kỳ thuộc địa.

Sau sự cố Lư Cầu Kiều vào năm 1937, chính phủ Đài Loan đã lập tức lập ra "Huy động chung tinh thần quốc gia", chính thức bắt đầu chính sách Nhật Bản hóa.

Các nhà văn Đài Loan khi đó chỉ có thể dựa vào các tổ chức do các nhà văn Nhật Bản thống trị, ví dụ "Hiệp hội nhà thơ Đài Loan" được thành lập năm 1939 và "Hiệp hội văn học & nghệ thuật Đài Loan", được mở rộng vào năm 1940.[24] Điều này là bởi vì sau khi chiến tranh Trung-Nhật bùng nổ, việc giới thiệu lại sự cai trị của quân đội năm 1937 đã chấm dứt sự phát triển của phong trào văn hóa nghệ thuật ở Đài Loan.

Phong trào văn học của Đài Loan hiện đại có thể được đơn giản hóa bởi hai xu hướng chính; văn học Trung Quốc hồi sinh và văn học hiện đại bằng tiếng Nhật.

Văn học Đài Loan chủ yếu tập trung vào tinh thần Đài Loan và tinh hoa của văn hóa Đài Loan. Mọi người trong văn học và nghệ thuật bắt đầu nghĩ về các vấn đề của văn hóa Đài Loan, và cố gắng thiết lập một nền văn hóa thực sự thuộc về Đài Loan. Phong trào văn hóa quan trọng trong suốt thời kỳ thuộc địa được dẫn dắt bởi thế hệ trẻ, những người có trình độ học vấn cao trong các trường học chính thức của Nhật Bản. Giáo dục đóng một vai trò quan trọng như vậy trong việc hỗ trợ chính phủ và ở mức độ lớn hơn, phát triển tăng trưởng kinh tế của Đài Loan. Tuy nhiên, mặc dù nỗ lực hàng đầu của chính phủ trong giáo dục tiểu học và giáo dục bình thường, vẫn có một số lượng hạn chế các trường trung học cơ sở, khoảng 3 trên toàn quốc, vì vậy các lựa chọn ưu tiên cho sinh viên tốt nghiệp là rời Tokyo hoặc các thành phố khác để học. Giáo dục nước ngoài của các sinh viên trẻ chỉ được thực hiện bởi động lực và sự hỗ trợ của cá nhân từ gia đình. Giáo dục ở nước ngoài đã trở nên phổ biến, đặc biệt là từ hạt Đài Trung, với nỗ lực tiếp thu các kỹ năng và kiến ​​thức về văn minh ngay cả trong tình trạng cả chính quyền thực dân và xã hội không thể đảm bảo tương lai tươi sáng của họ; không có kế hoạch việc làm cho những người có học này sau khi họ trở về.[25]

Nghệ thuật phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Bên ngoài đường Gia Nghĩa/ Trần Chừng Ba/ 1926/ Vẽ trên vải/ 64x53cm/ Được chọn là một phần của Triển lãm Hoàng gia Nhật Bản lần thứ 7

Thời nhà Thanh, khái niệm nghệ thuật phương Tây không tồn tại ở Đài Loan. Vẽ tranh không phải là một nghề rất được tôn trọng, và ngay cả tranh phong cảnh Trung Quốc cũng không được phát triển. Khi người Nhật bắt đầu thực dân hóa Đài Loan vào năm 1895, họ đã mang đến một hệ thống giáo dục mới giới thiệu giáo dục nghệ thuật phương Tây và Nhật Bản. Điều này không chỉ đặt nền tảng cho sự phát triển của nghệ thuật đánh giá cao trong tương lai ở Đài Loan, nó còn sản sinh ra nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau. Họa sĩ và người hướng dẫn Ishikawa Kinichiro đã đóng góp rất nhiều trong việc lên kế hoạch đào tạo giáo viên nghệ thuật mới. Cá nhân ông đã hướng dẫn sinh viên và khuyến khích họ đi du lịch đến Nhật Bản để học các kỹ thuật nghệ thuật tinh vi hơn.

Vào năm 1926, một sinh viên Đài Loan tại Nhật Bản tên là Trần Chừng Ba đã xuất bản một tác phẩm có tựa đề Bên ngoài đường Gia Nghĩa (xem bên trái). Tác phẩm của ông đã được chọn để trưng bày trong lần thứ bảy Triển lãm Hoàng gia Nhật Bản. Đây là tác phẩm theo phong cách phương Tây đầu tiên của một nghệ sĩ Đài Loan được đưa vào triển lãm Nhật Bản. Nhiều tác phẩm khác sau đó đã được giới thiệu trong Triển lãm Hoàng gia Nhật Bản và các triển lãm khác. Những thành công này giúp nghệ thuật trở nên phổ biến ở Đài Loan. Trớ trêu thay, Chen được người Nhật đánh giá cao đã bị Trung Quốc xử tử sau Thế chiến II mà không bị xét xử vì là "kẻ cướp".

Điều thực sự thiết lập nghệ thuật ở Đài Loan là giới thiệu các triển lãm chính thức của Nhật Bản tại Đài Loan. Vào năm 1927, thống đốc Đài Loan, cùng với các nghệ sĩ Ishikawa Kinichiro, Shiotsuki TohoKinoshita Shizukishi đã thành lập Triển lãm nghệ thuật Đài Loan.[26] Triển lãm này được tổ chức mười sáu lần từ năm 1938 đến năm 1945. Nó đã nuôi dưỡng thế hệ nghệ sĩ phương Tây đầu tiên của Đài Loan. Phong cách nghệ thuật khu vực Đài Loan được phát triển bởi triển lãm vẫn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ: nghệ thuật, thiết kế nghệ thuật và thiết kế kỹ thuật, ngay cả sau chiến tranh.

Rạp phim[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi chuông Sayon, một bộ phim Nhật Bản được sản xuất tại Đài Loan trong thời gian này

Từ 1901 đến 1937, điện ảnh Đài Loan bị ảnh hưởng vô cùng lớn bởi điện ảnh Nhật Bản. Do địa vị của Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản, truyền thống của phim Nhật Bản thường được các nhà sản xuất Đài Loan chấp nhận. Ví dụ, việc sử dụng một Biền Sĩ (người kể chuyện về những bộ phim câm), một thành phần rất quan trọng trong trải nghiệm làm phim ở Nhật Bản, đã được người Đài Loan chấp nhận và đổi tên thành piansu . Người kể chuyện này rất khác so với tương đương của nó trong thế giới phương Tây. Nó nhanh chóng phát triển thành một hệ thống sao. Trong thực tế, mọi người sẽ đi xem cùng một bộ phim được thuật lại bởi các benshi khác nhau, để nghe cách giải thích của các benshi khác. Một chuyện tình lãng mạn có thể trở thành một bộ phim hài hoặc một bộ phim truyền hình, tùy thuộc vào phong cách và kỹ năng của người kể chuyện.

Bộ phim đầu tiên do Đài Loan sản xuất là một bộ phim tài liệu được sản xuất vào tháng 2 năm 1907 bởi Takamatsu Toyojiro, với một nhóm các nhiếp ảnh gia đã đi qua các khu vực khác nhau ở Đài Loan. Sản phẩm của họ được gọi là "Mô tả về Đài Loan", và nó bao gồm các chủ đề như xây dựng thành phố, điện, nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, đường sắt, giáo dục, cảnh quan, truyền thống và chinh phục thổ dân. Bộ phim truyền hình đầu tiên do Đài Loan sản xuất có tên là "Lỗi của ai?" vào năm 1925, được sản xuất bởi Hiệp hội nghiên cứu điện ảnh Đài Loan. Các loại phim khác bao gồm các tác phẩm giáo dục, các bản tin và tuyên truyền cũng giúp tạo thành dòng chính của các tác phẩm điện ảnh Đài Loan cho đến khi Nhật Bản thất bại vào năm 1945. Hồi chuông Sayon, mô tả một người giúp việc thổ dân giúp đỡ Nhật Bản, là một sản xuất tượng trưng đại diện cho các loại phim.

Năm 1908, Takamatsu Toyojiro định cư tại Đài Loan và bắt đầu xây dựng các nhà hát ở các thành phố chính. Takamatsu cũng ký hợp đồng với một số công ty điện ảnh Nhật Bản và nước ngoài và thiết lập ấn phẩm điện ảnh được thể chế hóa. Năm 1924, các rạp chiếu phim ở Đài Loan đã nhập kỹ thuật intertitle tiên tiến từ Nhật Bản, và rạp chiếu phim ở Đài Loan ngày càng nổi bật. Vào tháng 10 năm 1935, một lễ kỷ niệm fortieth kỷ niệm thôn tính ở Đài Loan đã được tổ chức. Năm sau, Đài Bắc và Fukuoka được kết nối bằng đường hàng không. Hai sự kiện này đã đẩy điện ảnh Đài Loan vào thời kỳ hoàng kim.

Nhạc đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc phổ biến ở Đài Loan được thành lập vào những năm 1930. Mặc dù đã xuất bản ghi âmnhạc đại chúng đã tồn tại ở Đài Loan trước những năm 1930, nhưng chất lượng và mức độ phổ biến của hầu hết chúng đều rất kém. Điều này chủ yếu là vì các bài hát nổi tiếng vào thời điểm đó hơi khác so với âm nhạc truyền thống như dân caopera Đài Loan. Tuy nhiên, vì sự phát triển nhanh chóng của điện ảnh và phát sóng trong những năm 1930, những bài hát nổi tiếng mới tránh xa những ảnh hưởng truyền thống bắt đầu xuất hiện và trở nên phổ biến trong một khoảng thời gian ngắn.

Bài hát nổi tiếng đầu tiên được chấp nhận ở Đài Loan được phối hợp với phim Trung Quốc, Đào Hoa khắp huyết kí Được sản xuất bởi Hãng phim Liên Hoa, Đào Hoa khắp huyết kí, với sự tham gia của Nguyễn Linh Ngọc, được chiếu tại các rạp ở Đài Loan vào năm 1932. Với hy vọng thu hút nhiều khán giả Đài Loan hơn, các nhà sản xuất đã yêu cầu các nhà soạn nhạc Chiêm Thiên MãVương Vân Phong sáng tác một bài hát có cùng tên. Bài hát được phát hành là một hit lớn và đạt được thành công trong doanh thu kỷ lục. Từ thời kỳ này, âm nhạc nổi tiếng của Đài Loan với sự hỗ trợ của điện ảnh bắt đầu tăng lên.

Múa rối[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người Phúc Kiến - những người nhập cư nói tiếng đã vào Đài Loan trong những năm 1750, và cùng với họ, họ đã mang đến nhà hát múa rối. Các câu chuyện chủ yếu dựa trên sách cổ điển và phim truyền hình sân khấu và rất tinh tế. Nghệ thuật tập trung vào sự phức tạp của các phong trào múa rối. Nhạc đệm nói chung là nhạc Nam QuảnBắc Quản. Theo Hồ sơ của tỉnh Đài Loan, Nam Quan là hình thức nhà hát múa rối sớm nhất ở Đài Loan. Mặc dù loại rạp múa rối này rơi ra khỏi dòng chính, nhưng nó vẫn có thể được tìm thấy trong một vài đoàn kịch xung quanh Đài Bắc ngày nay.

Nhà hát múa rối, một trò giải trí văn hóa quan trọng trong thời cai trị của Nhật Bản

Trong những năm 1920, nhà hát múa rối võ hiệp dần dần phát triển. Những câu chuyện là sự khác biệt chính giữa nhà hát múa rối truyền thống và võ hiệp. Dựa trên các tiểu thuyết võ thuật mới, phổ biến, các buổi biểu diễn tập trung vào việc trưng bày các môn võ độc đáo của những con rối. Các nhân vật đại diện trong thời đại này là Hoàng Hải Đại của Ngũ Châu NguyênChung Nhân Tường của Tín Nghĩa Gác. Thể loại múa rối này đã bắt đầu phát triển tại các thị trấn Hổ VĩTây Loa của Vân Lâm, và được phổ biến ở miền trung nam Đài Loan. Nhà hát múa rối của Hoảng Hải Đại đã được thuật lại ở Phúc Kiến, và bao gồm những bài thơ, câu chuyện lịch sử, khớp nối và câu đố. Màn trình diễn của nó pha trộn âm nhạc Bắc Quản, Nam Quản, Loạn Đạn, Trịnh Âm, Kha Tử và Siêu Điêu.

Sau những năm 1930, chính sách Nhật Bản đã ảnh hưởng đến nhà hát múa rối. Bắc Quản thông thường của Trung Quốc đã bị cấm và được thay thế bằng âm nhạc phương Tây. Trang phục và những con rối là sự pha trộn giữa phong cách Nhật Bản và Trung Quốc. Các vở kịch thường bao gồm những câu chuyện của Nhật Bản như Mitokomon và những người khác, với những con rối mặc quần áo Nhật Bản. Biểu diễn đã được trình bày bằng tiếng Nhật. Những rào cản ngôn ngữ và văn hóa mới này đã làm giảm sự chấp nhận của công chúng, nhưng đã giới thiệu các kỹ thuật mà sau đó ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai của Nhà hát múa rối Kim Quang, bao gồm cả cài đặt âm nhạc và sân khấu.

Trong thời đại này, thế giới của nhà hát múa rối ở nam Đài Loan có Ngũ Đại Chi TrụTứ Đại Danh Nhân. "Ngũ Đại Chi Trụ" đề cập đến Hoảng Hải Đại, Chung Nhân Tường, Hoàng Thiên Quyền, Hồ Kim Trụ, Lục Sùng Nghĩa, "Tứ Đại Danh Nhân" đã nhắc đến Hoàng Thiên Xuyên, Lục Sùng Nghĩa, Lý Đồ Nguyên và Trịnh Truyền Minh.

Bóng chày[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản cũng mang bóng chày đến Đài Loan. Có các đội bóng chày trong các trường tiểu học cũng như các trường công lập, và các sân bóng chày được xây dựng của Nhật Bản như Sân vận động Đài Nam. Nó đã trở thành một môn thể thao phổ biến đến mức, vào đầu những năm 1930, gần như tất cả các trường trung học cơ sở và nhiều trường tiểu học đã thành lập các đội bóng chày đại diện. Sự phát triển của trò chơi ở Đài Loan lên đến đỉnh điểm khi một đội từ Kagi Nōrin Gakkō, một trường trung học nông lâm nghiệp, đứng thứ hai trong giải đấu bóng chày trường trung học quốc gia "Kōshien" của Nhật Bản. Một di sản của thời đại này ngày nay là sự nghiệp của một số cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp, như Vương Kiến Dân, Quách Hoằng Chí, Lâm Tử Vĩ và Khương Chiến Minh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo luật quốc tế, Đài Loan vẫn là một phần de jure của Nhật Bản cho đến 28 tháng 4 năm 1952.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pastreich, Emanuel (tháng 7 năm 2003). “Sovereignty, Wealth, Culture, and Technology: Mainland China and Taiwan Grapple with the Parameters of "Nation State" in the 21st Century”. Program in Arms Control, Disarmament, and International Security, University of Illinois at Urbana-Champaign. OCLC 859917872. 
  2. ^ 關於朝鮮及台灣住民政治參與之詔書
  3. ^ Chen, C. Peter. “Japan's Surrender”. World War II Database. Lava Development, LLC. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  4. ^ Government Information Office, "A Brief History of Taiwan: European Occupation of Taiwan and Confrontation between Holland in the South and Spain in the North"
  5. ^ Wills, John E., Jr. (2006). “The Seventeenth-century Transformation: Taiwan under the Dutch and the Cheng Regime”. Trong Rubinstein, Murray A. Taiwan: A New History. M.E. Sharpe. tr. 84–106. ISBN 978-0-7656-1495-7. 
  6. ^ Smits, Gregory (2007). “Recent Trends in Scholarship on the History of Ryukyu's Relations with China and Japan” (PDF). Trong Ölschleger, Hans Dieter. Göttingen: Bonn University Press via V&R Unipress. tr. 215–228. ISBN 978-3-89971-355-8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |book= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ Chiu, Hungdah (1979). China and the Taiwan Issue. London: Praeger Publishers Inc. ISBN 0-03-048911-3. 
  8. ^ Paine, S.C.M (2002). The Sino-Japanese War of 1894–1895: Perceptions, Power, and Primacy. London: Cambridge University Press. ISBN 0-521-81714-5. 
  9. ^ Ravina, Mark (2003). The Last Samurai: The Life and Battles of Saigo Takamori. Wiley. ISBN 0-471-08970-2. 
  10. ^ Smits, Gregory (1999). "Visions of Ryūkyū: Identity and Ideology in Early-Modern Thought and Politics." Honolulu: University of Hawai'i Press.
  11. ^ Morris (2002), tr. 4–18.
  12. ^ a ă Katz (2005).
  13. ^ Zhang (1998), tr. 514.
  14. ^ Ching (2001), tr. 137–140.
  15. ^ Zhang (1998), tr. 515.
  16. ^ Yosaburo (1907).
  17. ^ Kerr (1966).
  18. ^ a ă [1] UNHCR
  19. ^ Henckaerts, Jean-Marie (1996). The international status of Taiwan in the new world order: legal and political considerations. Kluwer Law International. tr. 337. ISBN 90-411-0929-3. p7. "In any case, there appears to be strong legal ground to support the view that since the entry into force of the 1952 ROC-Japan bilateral peace treaty, Taiwan has become the de jure territory of the ROC. This interpretation of the legal status of Taiwan is confirmed by several Japanese court decisions. For instance, in the case of Japan v. Lai Chin Jung, decided by the Tokyo High Court on ngày 24 tháng 12 năm 1956, it was stated that ‘Formosa and the Pescadores came to belong to the Republic of China, at any rate on ngày 5 tháng 8 năm 1952, when the [Peace] Treaty between Japan and the Republic of China came into force…’"
    p8. "the principles of prescription and occupation that may justify the ROC's claim to Taiwan certainly are not applicable to the PRC because the application of these two principles to the Taiwan situation presupposes the validity of the two peace treaties by which Japan renounce its claim to Taiwan and thus makes the island terra nullius."
     
  20. ^ a ă Được chỉnh sửa bởi Cục Điều tra Nhà nước Tạm thời của Văn phòng Tổng đốc Đài Loan (1937). Bảng kết quả điều tra dân số quốc gia Chiêu Hòa 10. Đài Bắc: Cục điều tra nhà nước tạm thời của Tổng đốc Đài Loan. 
  21. ^ Clark, John (1993). Modernity in Asian Art. Broadway, NSW: Wild Peony. ISBN 9780646147734. 
  22. ^ J. Clark "Taiwanese Painting Under the Japanese Occupation", Journal of Oriental Studies, Vol. 25, No.1 (1987)
  23. ^ Lin, Hsien-tang (1927). 林獻堂先生紀念集 (bằng tiếng Chinese) 1. tr. 17–22. ; Tai, Pao-tsun (1987). 士紳型政治運動領導者—林獻堂. 臺灣近代名人誌 (bằng tiếng Trung) 4. tr. 41–73. OCLC 18086252. 
  24. ^ a ă
    • Lee, Jim (1995). “一百年來臺灣政治運動中的國家認同” [National recognition of Taiwanese political movements in the past hundred years]. 台灣─我的選擇 (bằng tiếng Chinese). Taipei: 玉山社. tr. 73–145. ISBN 9789579361071. 
    • Zhang, De-shui (1992). 激動!臺灣的歷史 : 臺灣人的自國認識 [Excitement! Taiwan's history: Taiwanese's self-recognition] (bằng tiếng Chinese). Taipei: 前衛. ISBN 9789579512756. 
    • Chen, Zhao-ying (1998). “論臺灣的本土化運動:一個文化史的考察” [Discussion on Taiwanese nativism: An investigation in cultural history]. 臺灣文學與本土化運動 (bằng tiếng Trung). Taipei: National Taiwan University Press. ISBN 9789860197495. 
  25. ^ Taiwan sōtokufu gakuji nenpō 台湾総督府学事年報. 第25(昭和元年度) (bằng tiếng Japanese) 25. Taihoku/Taipei: 台湾総督府文教局. 1927. tr. 50–1. OCLC 673809296. ; 台湾総督府学事年報 (bằng tiếng Japanese) 28. Taihoku/Taipei: 台湾総督府文教局. 1930. tr. 46. 
  26. ^ Triển lãm này được tổ chức mười lần từ 1927 đến 1936 Nó đã không xảy ra vào năm 1937, do Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai. Sau năm 1938, triển lãm được tổ chức bởi chính phủ Đài Loan và được đổi tên thành "Triển lãm nghệ thuật của chính phủ Đài Loan".

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barclay, George W (1954). Colonial Development and Population in Taiwan. Princeton: Princeton University Press. 
  • Campbell, William (1915). Sketches From Formosa. London, New York: Marshall Brothers, Limited. 
  • Ching, Leo T. S. Becoming Japanese (2001). Colonial Taiwan and the Politics of Identity Formation. Berkeley: University of California Press. 
  • Ka, Chih-ming (1995). Japanese Colonialism in Taiwan: Land Tenure, Development, and Dependency, 1895-1945. Boulder: Westview Press,. 
  • Katz, Paul R (2009). When Valleys Turned Blood Red: The Ta-pa-ni Incident in Colonial Taiwan. Honolulu: University of Hawai’i Press. 
  • Kerr, George H (1974). Formosa: Licensed Revolution and the Home Rule Movement, 1895-1945. Honolulu: University Press of Hawaii. 
  • Lee Teng-hui. Intersectoral Capital Flows in the Economic Development of Taiwan, 1895-1960. 
  • Liao, Ping-hui and David Der-wei Wang, eds (1972). Taiwan Under Japanese Colonial Rule, 1895- 1945: History, Culture, Memory. Cornell: Cornell University Press: New York: Columbia University Press, 2006. 
  • Lo, Ming-cheng (2002). Doctors Within Borders: Profession, Ethnicity, and Modernity in Colonial Taiwan. Berkeley: University of California Press. 
  • Rutter, Owen (1923). Through Formosa: An Account of Japan's Island Colony. London: T. F. Unwin, Ltd.,. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Nhà Thanh cai trị
1683–1895
Lịch sử Đài Loan
Nhật Bản cai trị

1895–1945
Kế nhiệm:
Dưới thời Dân quốc
1945–