Bước tới nội dung

Chiến tranh Ất Mùi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Ất Mùi

Một bức tranh mộc bản mô tả Liên đội bộ binh cận vệ của Nhật chiến đấu ở Cơ Long, Đài Loan và lá quân kỳ của họ (Húc Nhật kỳ) do Migita Toshihide thực hiện.
Thời gianngày 29 tháng 5 - ngày 21 tháng 10 năm 1895
Địa điểm
Kết quả Nhật Bản chiến thắng
Thay đổi
lãnh thổ
Đài Loan Dân Chủ sụp đổ trở thành thuộc địa của Nhật trong 50 năm sau đó
Tham chiến
 Đế quốc Nhật Bản Đài Loan Dân Chủ
Chỉ huy và lãnh đạo
Đế quốc Nhật Bản Kabayama Sukenori
Arichi shinanojō
Đế quốc Nhật Bản Nogi Maresuke
Thân vương Kitashirakawa Yoshihisa (Tử trận)
Thân vương Fushimi Sadanaru
Đế quốc Nhật Bản Hishijima Yoshiteru
Đường Cảnh Tùng  Đầu hàng
Lưu Vĩnh Phúc  Đầu hàng
Lực lượng
7.000 quân, tăng lên 37.000 vào tháng 10 năm 1895 khoảng 12 tàu chiến
Quân dự bị không rõ
75.000 (cựu binh nhà Thanh và địa phương quân
Thương vong và tổn thất
Chết trên chiến trường: 164 người
Bị thương: 515 người
Chết vì bệnh tật: 4.642 người
Chết: 14.000 người bao gồm cả thương vong dân sự

Chiến tranh Ất Mùi (Nhật: 乙未戦争 (いつびせんそう) (Ất Mùi chiến tranh) Hepburn: Kinotohitsuji sensō?) hay Chiến tranh xâm lược Đài Loan (Nhật: 台湾征討 (たいわんせいとう) (Đài Loan chinh thảo) Hepburn: Taiwan seitō?) là trận chiến giữa Nhật Bản và các lực lượng vũ trang của Đài Loan Dân Chủ tồn tại trong thời gian ngắn sau khi Hiệp ước Mã Quan giữa Nhật Bản và Đại Thanh được ký kết quyết định nhượng lại Đài Loan cho Nhật Bản. Người Nhật bắt đầu Chiến dịch bình định Đài Loan (Nhật: 台湾平定作戦 (たいわんへいていさくせん) (Đài Loan bình định tác chiến) Hepburn: Taiwan heitei sakusen?),[1] trong khi lực lượng Cộng hòa chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản. Những người lính còn sót lại của nhà Thanh và một số cư dân Đài Loan[2] đã chống lại cuộc đổ bộ của quân Nhật.

Chính phủ Nhật Bản coi trận chiến này là một phần của Chiến tranh Nhật–Thanh, vì đây là cuộc chiến nhằm tiêu diệt những kẻ thù còn sót lại của cuộc chiến.[3]

Cái tên Chiến tranh Ất Mùi xuất phát từ lịch Can Chi, năm mà cuộc chiến xảy ra là năm Ất Mùi 1895.

Tổng quan

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 4 năm 1895, Chiến tranh Nhật–Thanh kết thúc với Hiệp ước Mã Quan, Nhật Bản chính thức chiếm được Đài Loan từ tay nhà Thanh và hòa bình được lập lại giữa hai nước. Các sĩ quan quân đội nhà Thanh phản đối việc nhượng lại Đài Loan đã thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc nhượng bộ, bao gồm cả kế hoạch cho AnhPháp thuê Đài Loan để lôi kéo các cường quốc can thiệp. Ngày 25 tháng 5, Đài Loan Dân Chủ Quốc được thành lập. Tuy nhiên, các cường quốc như Nga, Đức, Pháp hài lòng với kết quả của cuộc Can thiệp ba bên nên đã không công nhận nhà nước Đài Loan Dân Chủ, và Anh cũng không có động thái gì. Khi chính phủ Nhật Bản nhận được báo cáo về một cuộc nổi dậy vũ trang ở Đài Loan, họ đã áp dụng các biện pháp để bình định bằng vũ lực. Từ Liêu Đông, Sư đoàn Cận vệ do Thân vương Kitashirakawa Yoshihisa, một trung tướng lãnh đạo Quân đoàn 2 đã được phái đến Đài Loan. Sư đoàn Cận vệ đã phối hợp với tổng đốc Kabayama ở tỉnh Okinawa vào ngày 27 tháng 5. Bất chấp quyết định nhượng lại Đài Loan cho Nhật Bản, một số người ở Đại Thanh đã cố gắng ngăn cản Đài Loan tuyên bố độc lập, ngày 29 tháng 5, quân Nhật đổ bộ vào Tam Điêu Giác tại đông bắc đảo Đài Loan mà không cần chờ trao đổi với nhà Thanh nên các lãnh đạo của Đài Loan Dân Chủ đã bỏ trốn. Tuy nhiên, khi đặt chân lên Tam Điêu Giác, họ đã gặp một chút kháng cự nên đã tiến hành một cuộc càn quét.

Ngày 2 tháng 6, Lý Kinh Phương và tổng đốc Kabayama tiến hành các thủ tục chuyển giao đảo Đài Loan, Nhật Bản chính thức chiếm hữu Đài Loan (Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản).[4]

Vào ngày 6 tháng 6, các lãnh đạo của Đài Loan Dân Chủ, trong đó có Tổng thống Đường Cảnh Tùng, đã chạy trốn vào đất liền. Lính đánh thuê người Quảng Đông do Đài Loan Dân Chủ thuê đã làm loạn tình hình trị an. Ngày 14 tháng 6, người dân Đài Bắc đã chào đón Cô Hiển Vinh làm đặc phái viên của quân đội Nhật Bản nhằm duy trì an ninh trật tự, Đài Bắc đã đầu hàng không đổ máu.[5]

Ngày 17 tháng 6, Nhật Bản tổ chức Lễ thành lập Đài Loan tổng đốc phủ[6] tại Đài Bắc. Quân Nhật di chuyển xa hơn về phía nam, nhưng dân quân ở nhiều nơi đã chống cự nên Nhật bổ sung thêm Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 4 liên hợp. Ngày 20 tháng 8, quân Nhật bao vây Đài Nam từ phía bắc và phía nam. Vào ngày 19 tháng 10, Tướng Lưu Vĩnh Phúc đã bí mật trốn sang Hạ Môn trên một tàu buôn của Đức, những người lính bại trận của ông ta đã chạy tán loạn. Ngày 22, quân Nhật tiến vào Đài Nam.[7] Tới An Bình vào ngày 29, ngày 18 tháng 11, tổng đốc Kabayama ra tuyên bố bình định toàn bộ hòn đảo. Sau đó, các cuộc nổi dậy nổ ra ở miền Bắc vào cuối năm và ở miền Nam vào đầu năm sau, sự kháng cự kiểu du kích xảy ra ở nhiều khu vực cho đến năm 1902.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ tác giả: Matsushita Yoshio, Chiến tranh hiện đại 1: Chiến tranh Nhật–Thanh (Jinjin Oraisha, 1966)
  2. ^ 国立公文書館 アジア歴史資料センター「内閣より 在台湾文武諸官員外征従軍者として取扱の件」 ref:C06022096100. Do nhiều tàn binh nhà Thanh bị tiêu diệt, người dân địa phương buộc phải đoàn kết kiên cường để chống lại kẻ thù.
  3. ^ 国立公文書館 アジア歴史資料センター「内閣より 在台湾文武諸官員外征従軍者として取扱の件」 ref:C06022096100 Quyết định các nghị (Đây là kết quả của cuộc chiến tranh Trung-Nhật.)
  4. ^ "Đài Loan chinh phục ký" Jiyū shinbun-sha, Tōkyō, tháng 6 năm 1895
  5. ^ Cuộc điều tra bí mật của Ngô "Chiến tranh Nhật–Thanh và Đài Loan" (Chiến tranh Nhật–Thanh và sự biến đổi của thế giới Á Đông)
  6. ^ Chiến tranh hiện đại 1: Chiến tranh Nhật–Thanh (Khai sảnh thức)
  7. ^ Chiến tranh hiện đại 1: Chiến tranh Nhật–Thanh (ngày 21)