Chiến dịch Compass

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Compass
Một phần của Chiến dịch Sa mạc Tây trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Italian soldiers taken prisoner during Operation Compass.jpg
Binh lính Ý bị bắt làm tù binh trong Chiến dịch Compass
.
Thời gian 9 tháng 12 năm 19409 tháng 2 năm 1941
Địa điểm Từ Sidi Barrani, Ai Cập đến El Agheila, Libya
Kết quả Phe Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
 Anh Quốc

 Úc
 Pháp Tự do

 Ý
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Archibald Wavell
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Henry Maitland Wilson
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Richard O'Connor
Ý Rodolfo Graziani
Ý Italo Gariboldi
Ý Mario Berti
Ý Giuseppe Tellera 
Ý Pietro Maletti 
Ý Annibale Bergonzoli Đầu hàng
Lực lượng
36.000 quân[1]
120 khẩu pháo
275 xe tăng
142 máy bay[2][Gc 1]
150.000 quân
1.600 khẩu pháo
600 xe tăng
331 máy bay[3]
Tổn thất
500 chết[4]
55 mất tích[4]
1.373 bị thương[4]
15 máy bay[5]
3.000 chết
115.000 bị bắt
400 xe tăng
1.292 khẩu pháo
1.249 máy bay[Gc 2]
.

Chiến dịch Compass là hoạt động quân sự lớn đầu tiên của phe Đồng Minh trong Chiến dịch Sa mạc Tây thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung đã tấn công đội quân Ý tại miền tây Ai Cập và đông Libya trong thời gian từ tháng 12 năm 1940 đến tháng 2 năm 1941. Lực lượng Sa Mạc Tây của trung tướng Sir Richard O'Connor với khoảng 30.000 quân đã tiến đến Mersa Matruh (Ai Cập) trong một cuộc đột kích kéo dài 5 ngày nhằm vào các vị trí của quân Ý thuộc Tập đoàn quân số 10 của Thống chế Rodolfo Graziani có đến khoảng 150.000 quân trong các đồn trại quanh Sidi Barrani và miền đông Libya (Cyrenaica).

Chiến dịch này là một thắng lợi tuyệt đối cho quân Đồng Minh. Tập đoàn quân số 10 Ý nhanh chóng bị đánh bại và người Anh đã mở rộng chiến dịch, truy kích tàn quân Ý đến tận Beda FommEl Agheila trên Vịnh Sirte. Phía Anh mất 1.900 người chết và bị thương, chiếm 10% lực lượng bộ binh của họ, đổi lấy việc bắt được 138.298 tù binh Ý và Libya, 420 xe tăng cùng hơn 845 khẩu pháo và máy bay. Tuy nhiên sau đó quân Anh đã không thể tiếp tục tiến qua El Agheila do tình trạng xe cộ hỏng hóc và hao mòn, cũng như việc các đơn vị được trang bị tốt nhất bị điều đi tham gia trận Hy Lạp.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực chiến sự của Chiến dịch Compass từ tháng 12 năm 1940 đến tháng 2 năm 1941

Tập đoàn quân số 10 Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chiến tranh bùng nổ, Tập đoàn quân số 5 của tướng Italo Gariboldi đóng ở tây Libya tại Tripolitania còn Tập đoàn quân số 10 của tướng Mario Berti đóng ở phía đông tại Cyrenaica. Đến khi quân Pháp ở Tunisia không còn đe dọa Tripolitania sau trận chiến nước Pháp, nhiều đơn vị thuộc Tập đoàn quân số 5 được dùng để tăng cường cho Tập đoàn quân số 10. Tháng 6 năm 1940, Balbo chết trong một vụ tai nạn, Thống chế Graziani lên thay ông ta làm Toàn quyền Libya. Graziani tỏ ra nghi ngờ khả năng đánh bại người Anh của lực lượng phi cơ giới dưới quyền mình, mặc dù số lượng đã được cơ giới hóa phần lớn của họ ít hơn. Sau khi được tăng cường từ lực lượng của Tập đoàn quân số 5, Tập đoàn quân số 10 đã nắm trong tay tương đương 4 quân đoàn với 150.000 bộ binh, 1.600 khẩu pháo, 600 xe tanket và xe tăng cùng 331 máy bay.[6] Quân đoàn XX có Sư đoàn Bộ binh số 60 Sabratha.[7] Quân đoàn XXI có Sư đoàn Áo đen số 1 23 Marzo, Sư đoàn Áo đen số 2 28 Ottobre và Sư đoàn Bộ binh số 63 Cirene. Quân đoàn XXII có Sư đoàn Bộ binh số 61 Sirte.[8] Quân đoàn XXIII có Sư đoàn Áo đen số 4 3 Gennaio và Sư đoàn Bộ binh số 64 Catanzaro.[9]

"Cụm Sư đoàn Libya" (Gruppo Divisioni Libiche) mới gồm có Cụm Maletti, Sư đoàn Libya số 1 Sibelle của thiếu tướng Luigi Sibelle và Sư đoàn Libya số 2 Pescatori của thiếu tướng Armando Pescatori.[9] Đơn vị duy nhất không phải sư đoàn bộ binh mà Berti có trong tay là Cụm Maletti thiết giáp hạng nhẹ được cơ giới một phần. Cụm Raggruppamento Maletti (Đại tướng Pietro Maletti) được thành lập tại Derna ngày 8 tháng 7 năm 1940 để làm đơn vị cơ giới chính của Tập đoàn quân số 10, bao gồm 7 tiểu đoàn bộ binh cơ giới Libya, một đại đội xe tăng Fiat M11/39, một đại đội xe tanket L3/33, các đơn vị pháo binh cơ giới và tiếp tế. Ngày 29 tháng 8, thêm nhiều xe tăng chuyển từ Ý đến nơi, Bộ chỉ huy Xe tăng Libya (Comando carri della Libia) được thành lập dưới quyền Đại tá Valentini với 3 Raggruppamenti. Cụm Raggruppamento Aresca (Đại tá Aresca) với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung I, các Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ số 31, 61 và 62, Cụm Raggruppamento Trivioli (Đại tá Antonio Trivioli), với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung II, một đại đội thiếu và các Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ IX, XX, LXI; còn cụm Raggruppamento Maletti với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ LX và đại đội M11/39 còn lại đến từ Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung II.[10] Cụm Raggruppamento Maletti trở thành một phần của Quân đoàn Hoàng gia Quân Thuộc địa Libya (Regio Corpo Truppe Coloniali della Libia) với Sư đoàn Libya số 1 Sibelle và Sư đoàn Libya số 2 Pescatori.[11]

Lực lượng Sa Mạc Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tư lệnh Trung Đông dưới quyền Đại tướng Archibald Wavell có khoảng 36.000 lính, 120 khẩu pháo, 275 xe tăng và 142 máy bay với 2 phi đội Hawker Hurricane, 1 phi đội Gloster Gladiator, 3 phi đội Bristol Blenheim, 3 phi đội Vickers Wellington và 1 phi đội Bristol Bombay, với khoảng 46 máy bay tiêm kích và 116 máy bay ném bom.[12] Lực lượng Sa Mạc Tây do trung tướng Richard O'Connor làm tư lệnh, bao Sư đoàn Bộ binh số 4 (Ấn Độ) của thiếu tướng Noel Beresford-Peirse và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của thiếu tướng Sir Michael O'Moore Creagh. Từ ngày 14 tháng 12, quân lính thuộc Sư đoàn Bộ binh số 6 Úc của thiếu tướng Iven Giffard Mackay thay thế Sư đoàn Ấn Độ số 4 được điều đi Đông Phi, có không đến một lữ đoàn. Quân Anh sở hữu một số xe tăng tốc độ nhanh Cruiser Mk I, Cruiser Mk IICruiser Mk III được trạng bị pháo Ordnance QF 2 pao ưu việt hơn so với tăng Fiat M11/39. Quân Anh còn có một số lượng nhỏ tăng bộ binh Matilda II tốc độ chậm nhưng giáp mạnh và cũng được trang bị pháo 2 pao. Lớp giáp của xe tăng Matilda không thể bị xuyên thủng bởi súng chống tăng hay pháo dã chiến của Ý.[13]

Đụng độ tại biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tuyên chiến với Anh và Pháp vào ngày 10 tháng 6 năm 1940. Trong thời gian vài tháng sau đó, những cuộc đột kích và đụng độ giữa quân Ý với quân Anh và lực lượng Khối Thịnh vượng chung đã nổ ra ở Ai Cập. Ngày 12 tháng 6 năm 1940, Hạm đội Địa Trung Hải bắn phá Tobruk. Các tàu tuần dương HMS LiverpoolHMS Gloucester cũng đấu súng với tàu tuần dương San Giorgio của Ý. Máy bay ném bom của Hải quân Hoàng gia Anh thuộc các phi đội số 45, 55 và 211 đã đánh 1 quả bom trúng tàu San Giorgio.[14] Ngày 19 tháng 6, tàu ngầm HMS Parthian của Anh phóng 2 quả ngư lôi vào tàu San Giorgio nhưng trượt. Vai trò của San Giorgio sau đó là hỗ trợ cho các đơn vị phòng không địa phương và tuyên bố đã bắn rơi hoặc làm bị thương 47 máy bay Anh. Cũng chính tàu San Giorgio đã bắn hạ nhầm chiếc máy bay Savoia-Marchetti SM.79 chở Italo Balbo, toàn quyền Libya và tổng tư lệnh các lực lượng Ý tại Bắc Phi.[15]

Mở màn[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Ý tiến vào Ai Cập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ý xâm chiếm Ai Cập
Bản đồ cuộc tấn công của Ý và cuộc phản công của Anh (Chiến dịch Compass)

Ngày 13 tháng 9 năm 1940, Tập đoàn quân số 10 Ý tiến vào Ai Cập trong Chiến dịch E (Operazione E). Khi người Ý tiến lên, lực lượng nhỏ của Anh đóng tại Sollum rút lui về vị trí phòng ngự chính ở phía đông Mersa Matruh.[16] Cuộc tiến quân của Ý bị quấy nhiễu bởi Trung đoàn Bảo vệ Coldstream số 3, cùng với pháo binh và các đơn vị khác.[17] Sau khi chiếm lại Đồn Capuzzo, quân Ý tiến khoảng 95 km trong 3 ngày và đến 16 tháng 9 thì dừng lại tại Maktila, vượt qua Sidi Barrani 16 km. Quân Ý đào hào lập trại để chờ đợi tiếp viện và tiếp tế dọc theo Via della Vittoria, đoạn mở rộng của con đường Balbo được xây dựng từ biên giới. Năm trại quân được dựng lên trong khoảng xung quanh Sidi Barrani từ phía Maktila, chạy dọc 24 km dọc theo bờ biển về phía đông, phía nam tới Tummar East, Tummar West và Nibeiwa, phía tây nam đến Sofafi trên đoạn công sự dốc đứng.[18]

Kế hoạch của phía Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi người Ý tiến quân, Wavell đã ra lệnh cho tư lệnh quân đội Anh tại Ai Cập là trung tướng Sir Henry Maitland Wilson vạch kế hoạch một chiến dịch hạn chế nhằm đẩy lui quân Ý. Chiến dịch Compass, do những lý do hành chính, ban đầu chỉ được dự định là một cuộc đột kích kéo dài 5 ngày nhưng có xem xét đến việc tiếp tục tiến hành các hoạt động nhằm khai thác chiến thắng.[19][20] Ngày 28 tháng 11, Wavell đã viết cho Wilson như sau:

Tôi không đặt quá nhiều hy vọng vào chiến dịch này, nhưng có mong muốn đảm bảo chắc chắn rằng nếu như giành được một cơ hội lớn thì chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng về mặt đạo đức, tinh thần và hành chính để tận dụng nó một cách tối đa.

Wavell[21]

Cụm Yểm trợ số 7 sẽ theo dõi động tĩnh các trại quân của Ý trên đoạn công sự dốc đứng quanh Sofafi nhằm ngăn cản quân đồn trú ở đó can thiệp, trong khi phần còn lại của sư đoàn và Sư đoàn Ấn Độ số 4 vượt qua khe hở Sofafi–Nibeiwa. Một lữ đoàn Ấn Độ và các xe tăng bộ binh thuộc Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 (7th RTR) sẽ tấn công Nibeiwa từ phía tây, còn Sư đoàn Thiết giáp số 7 bảo vệ sườn phía bắc của họ. Một khi Nibeiwa bị chiếm, lữ đoàn Ấn Độ thứ hai cùng với Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 sẽ tiến đánh Tummars. Lực lượng Selby (gồm Tiểu đoàn Bảo vệ Coldstream số 3 cùng với một số pháo binh) đồn trú tại Matruh sẽ kiềm chế các trại quân địch tại Maktila trên bờ biển còn Hải quân Hoàng gia Anh sẽ oanh tạc Maktila và Sidi Barrani.[22] Việc chuẩn bị được giữ bí mật và chỉ có vài sĩ quan được biết trong bài tập huấn luyện được tổ chức ngày 25–26 tháng 11, rằng những mục tiêu được đánh dấu gần Matruh là ám chỉ Nibeiwa và Tummar; quân lính cũng chỉ được báo là sẽ có một bài huấn luyện thứ hai tiếp theo và không hay biết rằng chiến dịch đã trở thành thực tế cho đến ngày 7 tháng 12, khi họ tới các điểm xuất phát.[23]

Quân Anh tập hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối ngày 8 tháng 12, một phi công trinh sát Ý báo cáo rằng cuộc tấn công vào Maktila và Nibeiwa đã sắp xảy ra, nhưng tướng Maletti lại không nắm được. Vào thời điểm ngày 9 tháng 12, Sư đoàn Libya số 1 Sibelle đóng tại Maktila và Sư đoàn Libya số 2 Pescatori đóng tại Tummar. Cụm Maletti đóng tại Nibiewa và Sư đoàn Áo đen số 4 3 Jennaio cùng tổng hành dinh Quân đoàn Libya đóng tại Sidi Barrani. Sư đoàn Bộ binh 63 Cirene và tổng hành dinh quân đoàn XXI đóng tại Sofafi, còn Sư đoàn Bộ binh 64 Catanzaro đóng ở Buq Buq. Tổng hành dinh Quân đoàn XXIII và Sư đoàn Áo đen số 2 28 Ottobre lần lượt đóng ở Sollum và Đèo Halfaya còn Sư đoàn Bộ binh 62 Marmarica đóng ở Sidi Omar, phía nam Sollum.[24] Lúc này tướng Berti đang nghỉ ốm; tướng Gariboldi, Sư đoàn Áo đen số 1 23 Marzo và tổng hành dinh Tập đoàn quân số 10 đã lại trở về Bardia (khi Berti đến Libya thì nó còn trong tay người Anh).[25] Chiến dịch Compass (người Ý gọi là la battaglia della Marmarica/Trận Marmarica) bắt đầu vào đêm ngày 7/8 tháng 12. Lực lượng Sa mạc Tây có Sư đoàn Thiết giáp số 7, Sư đoàn Ấn Độ số 4 và Lữ đoàn Bộ binh số 16 đã tiến 113 km đến tuyến xuất phát. Không quân Hoàng gia Anh công kích các sân bay của Ý và phá hủy hoặc làm hư hại 29 máy bay trên mặt đất. Lực lượng Selby (lữ đoàn trưởng A. R. Selby) với 1.800 quân (số lượng lớn nhất từng thấy cho một nhóm vận tải) tiến đến từ Matruh, lập một lữ đoàn xe tăng bằng cao su trên sa mạc và tới một vị trí ở đông nam Maktila trong chiều 9 tháng 12. Maktila bị tiểu chiến hạm HMS Terror và pháo hạm HMS Aphis oanh tạc; Sidi Barrani cũng bị pháo hạm HMS Ladybird pháo kích.[26]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Các diễn biến trên sa mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Giarabub, Kufra và Uweinat[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Kufra Oasis và Murzuk

Quân đồn trú Ý đóng tại Giarabub cách Sollum 240 km về phía nam, ở Ốc đảo Kufra, Jalo tại cực tây Biển Cát Lớn và ở Murzuk cách Tripoli 800 km về phía nam. Ốc đảo Giarabub bị Trung đoàn Kỵ binh số 6 Úc cùng một tiểu đoàn bộ binh Úc tấn công vào tháng 1 năm 1941 và thất thủ trong tháng 3. Xa hơn về phía nam, ở phía bên kia Biển Cát, ốc đảo Kufra bị lực lượng Pháp quốc Tự do tấn công từ phía Châu Phi Xích Đạo thuộc Pháp, phối hợp với quân tuần tra Cụm Sa mạc Tầm xa (LRDG). Xa hơn về phía tây, trên biên giới với Tchad, căn cứ của quân Ý tại Murzuk cũng bị tập kích trong tháng 1, khi 1 đội tuần tra thuộc Đơn vị Tuần tra Tầm xa mới và 1 tù trưởng địa phương di chuyển 2.100 km để đến gặp nhau tại nơi hẹn gần Kayugi với 1 phân đội nhỏ Pháp Tự do.[27][Gc 3] Lực lượng này đã tấn công Murzuk và phá hủy 3 máy bay cùng 1 nhà chứa máy bay; viên chỉ huy người Pháp bị giết, phần lớn quân Ý đầu hàng và bị bắt làm tù binh. Những người đột kích sau đó đã bắn phá 3 vị trí công sự rồi rời đi.[29]

Jebel Uweinat

Tại Jebel Uweinat, một khối núi cao 1.800 mét và sâu 970 km trong nội địa, nằm giữa ngã ba biên giới Ai Cập, Libya và Sudan, có những khu đổ bộ với 1 đồn quân Ý. Căn cứ này là tiền đồn Ý ở gần Đông Phi thuộc Ý nhất và từ đây có thể tiến hành đột kích vào Wadi Halfa thuộc Sudan. Việc phá hủy các xưởng sửa chữa và trạm đường sắt, cũng như đánh đắm các tàu trên sông Nin có thể dẫn đến cắt đứt liên lạc giữa KhartoumCairo.[30] Các đội tuần tra Anh đã ghé Faya và gặp một phân đội Pháp khác của tướng Philippe Leclerc để tiến đánh Kufra. Quân Anh bị máy bay bắn phá và bị các xe thiết giáp thuộc Ý thuộc Đại đội Ô tô Sahara tấn công và thiệt hại nhiều xe tải. Leclerc quyết định rằng tấn công Kufra là không khả thi và số quân Anh còn lại liền trở lại Cairo, sau chuyến hành trình dài 45 ngày qua 6.900 km. Kufra bị quân Pháp chiếm ngày 1 tháng 3 và trở thành căn cứ mới của Cụm Sa mạc Tầm xa từ tháng 4.[29]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Thương vong[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng số gần đúng bị bắt:
Sa mạc Tây và Cyrenaica
(9 tháng 12 năm 1940 – 8 tháng 2 năm 1941)[31]
Địa điểm Tù binh Xe tăng Pháo
Sidi Barrani 38,289 73 297
Sidi Omar 900 0 8
Bardia 42,000 130 275
Tobruk 25,000 87 208
Mechili 100 13 0
Derna
Benghazi
2,000 10 24
Benghazi
Agedabia
25,000 107 93
Tổng cộng 133,298 420 845

Lực lượng Sa mạc Tây tổn thất 500 người chết, 55 mất tích và 1.373 bị thương.[32] Không quân Hoàng gia Anh mất 26 máy bay, gồm 6 chiếc Hurricane, 5 chiếc Gladiator, 3 chiếc Wellington, một chiếc Valentia và 11 chiếc Blenheim. Số lượng máy bay không còn có thể hoạt động lớn hơn nhiều do những tổn hại không thể sửa chữa nhanh chóng vì thiếu phụ tùng thay thế, một vấn đề ngày càng trở nên trầm trọng do việc quân Ý sử dụng đạn nổ (vì lý do này mà trong một cuộc tập kích vào Bardia ngày 14 tháng 12 do 9 máy bay Blenheim thực hiện, đã có tổn thất 1 máy bay bị bắn hạ và 7 chiếc khác bị thương).[33] Tập đoàn quân số 10 Ý mất 133.298 bị bắt, 420 xe tăng và 845 pháo.[31]

Các hoạt động tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

Một tuần sau khi quân Ý ở Beda Fomm đầu hàng, Ủy ban Quốc phòng ở London đã ra mệnh lệnh tới Cyrenaica là chỉ giữ lại lực lượng tối thiểu và chuyển số quân còn lại đến Hy Lạp. Lực lượng Sa mạc Tây (giờ là Quân đoàn XIII), Sư đoàn Úc số 6 được trang bị đầy đủ và không có nhiều tổn thất đến thay thế. Sư đoàn Thiết giáp số 7 đã hoạt động được 8 tháng, các trang thiết bị máy móc đã bị hao mòn và được rút về để sửa chữa trang bị lại. 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 cùng với Lực lượng Sa mạc Tây cũng bị hao mòn, sư đoàn này chỉ còn lại 4 trung đoàn xe tăng. Sư đoàn Úc số 6 tới Hy Lạp trong tháng 3 với một cụm lữ đoàn thiết giáp của Sư đoàn Thiết giáp số 2; phần còn lại của sư đoàn này và Sư đoàn Úc số 9 mới đến (trừ 2 lữ đoàn và hầu hết lực lượng vận tải đã phái đến Hy Lạp) được thay thế bởi 2 lữ đoàn trang bị kém thuộc Sư đoàn Úc số 7. Sư đoàn này tiếp quản Cyrenaica, với giả định rằng quân Ý sẽ không thể bắt đầu phản công cho đến tháng 5, cho dù có được Đức tiếp viện đi nữa.[34]

Sư đoàn Thiết giáp số 2 tại có Lữ đoàn Thiết giáp số 3, với 1 trung đoàn xe tăng hạng nhẹ không đủ lực lượng, 1 trung đoàn thứ hai sử dụng các xe tăng bắt được của Ý và 1 trung đoàn xe tăng hành trình từ giữa tháng 3, với các xe tăng đã bị hao mòn. Cụm Yểm trợ số 2 chỉ có 1 tiểu đoàn mô tô, 1 trung đoàn pháo dã chiến, 1 khẩu đội chống tăng và 1 đại đội súng máy; phần lớn lực lượng vận tải của sư đoàn đã bị điều đến Hy Lạp.[34] Chỉ vài ngàn quân của Tập đoàn quân số 10 Ý thoát khỏi thảm họa tại Cyrenaica, nhưng Tập đoàn quân số 5 ở Tripolitania vẫn có 4 sư đoàn. Các đồn lũy Sirte, Tmed Hassan và Buerat được tăng viện từ Ý, nâng tổng quân số 2 tập đoàn quân số 10 và số 5 lên khoảng 150.000 người. Quân tiếp viện của Đức đã được phái tới Libya để tạo nên một phân đội chặn (Sperrverband) theo Chỉ thị 22 của Hitler (ngày 11 tháng 1), đây là những đơn vị đầu tiên của Quân đoàn châu Phi do tướng Erwin Rommel chỉ huy. Ngày 25 tháng 3 năm 1941, Graziani bị thay thế bằng tướng Gariboldi.[35]

Những câu nói nổi tiếng về chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bonner Fellers: "Đại tướng Wavell đã bảo tôi rằng họ sẽ diễn tập, nên tôi đã tới để xem, và thánh thần ơi — đúng là thế thật".
  • Một sĩ quan vô danh của trung đoàn Bảo vệ Coldstream mô tả các tù binh bị bắt: "Chúng tôi có khoảng 5 mẫu sĩ quan và 200 mẫu các cấp bậc khác" (lần lượt tương ứng là khoảng 20.000 và 810.000 mét vuông).
  • Anthony Eden: (sau trận Bardia) "Chưa bao giờ có rất nhiều người đầu hàng rất nhiều trước rất ít người như thế".
  • Rodolfo Graziani: (viết cho Mussolini sau thất bại) "Trên chiến trường này một sư đoàn thiết giáp đơn lẻ cũng quan trọng hơn cả một tập đoàn quân [bộ binh]".[36]
  • Adolf Hitler: (nói vui với các tướng lĩnh) "Thất bại có tác dụng lành mạnh là một lần nữa đè nén những tuyên bố của người Ý trở về bên trong giới hạn tự nhiên về năng lực của người Ý".[37]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 46 máy bay tiêm kích và 116 máy bay ném bom: 2 phi đội Hurricanes, 1 phi đội Gloster Gladiator, 3 phi đội Bristol Blenheim, 3 phi đội Vickers Wellington và 1 phi đội Bombays.[2]
  2. ^ Con số này bao gồm 58 máy bay bị mất trong chiến đấu, 91 chiếc bị chiếm giữ nguyện vẹn trên các sân bay và 1.100 chiếc bị thương và bị chiếm.[5]
  3. ^ Từ Cairo qua ốc đảo Bahariya, Ain Dalla, Two Hills/Big Cairn, Murzuk, Traghen, Tummo, Zouar, Faya, Tekro, Sarra, Bishara, Jebel Sherif, Sarra, qua Jebel Uweinat đến sông Nin và về Cairo.[28]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bauer (2000), tr. 95
  2. ^ a ă Playfair tr. 262
  3. ^ Playfair tr. 266
  4. ^ a ă â Wavell trong London Gazette: (Supplement) số 37628, tr. 3268, 25 tháng 6 năm 1946.
  5. ^ a ă Latimer, tr. 87
  6. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 266.
  7. ^ Macksey 1971, tr. 121.
  8. ^ Macksey 1971, tr. 106.
  9. ^ a ă Hunt 1990, tr. 51.
  10. ^ Christie 1999, tr. 32, 48.
  11. ^ Walker 2003, tr. 61.
  12. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 262.
  13. ^ Pitt 1980, tr. 102.
  14. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 112–113.
  15. ^ Hunt 1990, tr. 21.
  16. ^ Mackenzie 1951, tr. 26–27.
  17. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 210.
  18. ^ Mackenzie 1951, tr. 27.
  19. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 264.
  20. ^ Mead 2007, tr. 331.
  21. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 265.
  22. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 260–261.
  23. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 263, 265.
  24. ^ Macksey 1971, tr. 68.
  25. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 281.
  26. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 265–267.
  27. ^ Pitt 1980, tr. 229–240.
  28. ^ Pitt 1980, tr. 230–231.
  29. ^ a ă Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 297.
  30. ^ Pitt 1980, tr. 225.
  31. ^ a ă CCIS 1941.
  32. ^ Wavell 1946, tr. 3,268.
  33. ^ Terraine 1997, tr. 318.
  34. ^ a ă Playfair và đồng nghiệp 1956, tr. 2–3.
  35. ^ Playfair và đồng nghiệp 1954, tr. 359–362.
  36. ^ Bierman & Smith, tr. 46
  37. ^ Regan, Geoffrey (2000). Brassey's Book of Military Blunders. Washington D.C.: Brassey. ISBN 1-57488-252-X. , tr. 165

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]